Văn Bản Cô Bé Bán Diêm Kể Theo Ngôi Thứ Mấy / Top 11 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Bac.edu.vn

Kể Lại Truyện Cô Bé Bán Diêm Theo Ngôi Kể Và Cái Kết Mới

BÀI LÀM

Trời đã tối, cửa sổ mọi nhà đều sáng rực ánh đèn và trong phố sực nức mùi ngỗng quay. Giây phút đón giao sắp đến. Vậy mà chúng tôi vẫn cùng cô bé tội nghiệp rong ruổi qua từng con phố. Chúng tôi tự nhủ hãy nằm yên, nằm yên và cầu nguyện để tất cả chúng mình sẽ đi về nhà ai đấy. Chi có vậy và chỉ có vậy thôi, cô chủ mới được về nhà để đón tết trong ấm cúng.

Thế nhưng thật oái oăm thay. Đêm ba mươi, ai còn đi mua diêm làm chi nữa. Giờ này họ đã yên ổn cả rồi. Họ đang ngồi bên lò sưởi và chờ đến giờ phá cỗ. Chúng tôi biết vậy và cả cô chủ nhỏ tội nghiệp của chúng tôi cùng thế. Nhưng cô vẫn cứ đi, lang thang trong rét mướt và hy vọng. Niềm hy vọng ấy trong cái đêm nay thật quá nhỏ nhoi. Vậy mà nó chỉ chực chờ để tan biến mất.

Trời đã về khuya. Và chúng tôi cảm thấy đôi bàn tay của cô chủ đang cứng lại. Cô dừng lại và ngẫm nghĩ về một điều gì đó. Bỗng đột nhiên, cô rút một trong số chúng tôi ra và quẹt sáng. Anh bạn của chúng tôi bén lửa rất nhanh loáng qua rồi biến đi trên nền than hồng rực. Chúng tôi không biết cô bé nghĩ gì nhưng ánh mắt cô bé rất vui và hình như miệng cô còn ánh lên cả một nụ cười thì phải.

Cô bé duỗi chân ra nhưng đờ đẫn nhìn que diêm vụt tắt. Cô lại bần thần và suy nghĩ hồi lâu. Chắc cô bé đang lo không bán được diêm, về nhà sẽ bị cha chửi mắng.

Thế rồi, mạnh mẽ hơn, cô lại quẹt lửa anh bạn thứ hai. Lửa lại cháy và sáng rực. Ánh mắt cô bé lại vui lên. Khuôn mặt đỏ hồng rạng rỡ. Nhưng không đầy một phút sau, anh bạn tôi vụt tắt. Trước mặt cô bé chỉ còn là những bức tường lạnh lẽo, dày đặc, tối tăm. Phố xá vẫn vắng teo và lạnh buốt. Tuyết phủ trắng xóa, gió bấc vi vu và mấy người khách qua đường quần áo ấm áp vội vã đi đến nơi hò hẹn.

Cô chủ không còn nghĩ về cha. Cô không còn sợ. Cô quẹt thêm một que diêm nữa. Lần này cảm giác như anh bạn của chúng tôi bốc cháy lâu hơn. Niềm vui cũng dừng lại trên khuôn mặt của cô chủ tôi lâu hơn đôi chút. Không biết lúc này cô bé đang nghĩ đến cái gì, đến cây thông Nô-en hay đến người bà yêu quý.Cô bé bán diêm

Cô bé lại quẹt thêm một que diêm nữa. Một ánh sáng xanh tỏa ra xung quanh. Cô bé cười và reo lên hạnh phúc: Bà ơi! Cho cháu đi với! Cháu biết rằng diêm tắt thì bà cũng biến đi mất như lò sưởi, ngỗng quay và cây thông Nô-en ban nãy. Nhưng xin bà đừng bỏ cháu ở nơi đây. Trước khi bà về với thượng đế chí nhân, bà cháu ta đã từng sung sướng biết nhường nào. Dạo ấy bà từng bảo cháu rằng nếu cháu ngoan ngoãn, cháu sẽ được gặp lại bà. Bà ơi! Cháu van bà, bà xin với thượng đế chí nhân cho cháu về với bà. Chắc người không từ chối đâu. Anh bạn thứ tư của chúng tôi vụt tắt. Thế là cái ảo ảnh rực sáng trên khuôn mặt cô chủ nhỏ cũng biến mất luôn. Nhưng cô bắt đầu lôi ra tất cả chúng tôi và quẹt sáng. Dường như cô chủ của chúng tôi đang muốn níu kéo một điều gì. Chúng tôi nối nhau chiếu sáng như giữa ban ngày. Và chúng tôi nhận ra trên khuôn mặt kia đang nở ra một nụ cười mãn nguyện. Một xó tường bỗng vụt sáng lên nhưng cũng chỉ một phút sau nó lại trở về với cái tối tăm lạnh lẽo. Chúng tôi đã thắp lên những tia sáng cuối cùng còn cô chủ của chúng tôi thì bỗng nhiên gục xuống. Có lẽ cô mệt quá. Cô đã không ăn và không nghỉ suốt những ngày qua nên chắc bây giờ đang đói lả. Chúng tôi thương cô chủ quá và cầu mong sao cho đêm giao thừa qua thật nhanh.

Sáng ngày mùng một, tuyết vẫn phủ kín mặt đất, nhưng mặt trời lên, trong sáng và chói chang trên bầu trời xanh nhợt. Chúng tôi – những que diêm còn sót lại trong túi của cô chủ đêm qua bỗng nghe thấy tiếng gọi của một người phụ nữ:

Cháu bé ơi! Cháu bé ơi! Cháu là con cái nhà ai mà ra nông nỗi thế này.

Người đi đường cũng bắt đầu xúm lại. Họ tò mò đoán và ngắm nghía cô gái có đôi má hồng và đôi môi đang cười mỉm nằm giữa những bao diêm, trong đó có một bao đã đốt hết hẳn. Người đàn bà khi nãy rẽ đám đông ra để chen vào. Tay bà mang theo một cốc sữa đang còn nóng và một chiếc áo lông cừu đang còn mới. Uống một cách khó khăn vài ngụm sữa, cô chủ đã mơ màng tỉnh lại. Mấy người đàn ông giúp người phụ nữ đưa cô chủ về một ngôi nhà nhỏ rồi họ tản mất đi. Bây giờ cô chủ đã tỉnh hẳn và đang ngồi bên lò sưởi.

Cháu cảm ơn bà! Cô chủ nói.

Người phụ nữ nhanh nhảu đáp: Không có gì đâu cháu ạ! Nhìn cháu ta đã đoán ra tất cả mọi việc rồi. Ta cũng buồn như cháu. Trước đây ta cũng có một cô cháu gái nhưng thượng đế chí nhân đã rước nó đi. Giờ ta gặp cháu đây phải chăng là thượng đế thương ta mà trả cho ta đứa cháu. Nhà ta nhỏ nhưng rết rộng lòng thương. Nếu cháu muốn, cháu có thể ở đây với ta làm bạn.

Cô bé không đáp lời người phụ nữ. Mắt cô bé rưng rưng nhìn những bông tuyết đang rơi trắng xóa ngoài khung cửa. Nhưng rồi bỗng nhiên cô quay lại, sà vào vòng tay âu yếm của người thiếu phụ và nức nở: Bà ơi! Bà ơi! Bà thương cháu mà trở về với cháu thật hay sao!

Hóa Thân Cha Của Cô Bé Bán Diêm Và Kể Lại Câu Chuyện Theo Ngôi Kể Thứ 3 Câu Hỏi 101314

Đêm Giáng sinh năm ấy trời thật lạnh. Đã mấy ngày liền tuyết rơi liên miên, như hối hả điểm trang cho thành phố để đón mừng ngày kỉ niệm Chúa Cứu Thế ra đời. Vậy mà tôi vẫn cùng cô bé lang thang ngoài đường phố. Cô bé muốn bán hết chúng tôi – những bao diêm, cho khách qua đường để mang tiền về cho cha cô kịp lúc giao thừa.

Chiều đã muộn, trong bóng tối và giá lạnh, cô bé vén đầu trần, chân đất cùng chúng tôi lang thang dọc phố mặc cho những bông tuyết rơi đầy trên mái tóc hoe vàng xõa ngang vai. Bạn tôi được cô bé đựng trong chiếc tạp dề cũ kỹ, còn tôi được cô bé cầm trong tay. Cô bé cố kiếm một nơi có nhiều người qua lại. Nhưng trời rét quá, khách qua đường đểu rảo bước rất nhanh, chẳng ai đoái hoài đến lời chào hàng của cô. Suốt ngày cô chẳng bán được gì cả và chẳng ai bố thí cho chút đỉnh. Bụng đói cật rét, cô bé vẫn lang thang trên đường…

Hé mắt nhìn qua kẻ hở ở vỏ bao, tôi thấy các cửa sổ đã sáng đèn, mùi ngỗng quay nữa chứ, thơm lừng, tỏa ra từ các căn nhà ấm cúng đó. Bé vẫn biết hôm nay là giao thừa nhưng không dám về nhà, chắc bố sẽ đánh đòn vì cả ngày chưa bán được lấy một xu, với lại ở nhà nào có hơn gì, chỉ có mỗi cái mái dột nát mặc cho gió rít. Tôi thương cô bé vô hạn, muốn hét to để mọi người xung quanh biết, Để mua chúng tôi giúp cô bé. Tôi cũng giận mình chỉ là những que diêm câm lặng. Đói, mệt và giá lạnh cô bé cùng chúng tôi ngồi nép trong một góc tường, giữa hai ngôi nhà, một cái xây lùi lại chút. Cô bé thu đôi chân vào người, nhưng mỗi lúc tôi thấy cô bé rét buốt hơn. Ôm chúng tôi vào lòng, cô bé thì thầm tâm sự: “Diêm ơi, tôi nhớ lại năm xưa, khi bà nội-hiền hậu của tôi còn sống, tôi cũng được đón giao thừa ở nhà. Nhưng thần chết đã đến cướp bà tôi đi mất, gia sản tiêu tán và gia đình tôi đã phải lìa ngôi nhà xinh xắn có dây trường xuân leo quanh, nơi tôi đã sống những ngày đầm ấm, để đến chui rúc trong một xó tối tăm, luôn luôn nghe những lòi mắc nhiếc, chửi rủa”. Nghe những lòi thì thầm của cô bé tôi xót xa vô cùng mà chẳng thể làm gì được. Tôi chỉ biết an ủi và bảo vệ cô bé: ” Cô hãy bật diêm mà sưởi, ít ra chúng tôi cũng có thể giúp cô đỡ lạnh”. Cuối cùng cô bé cũng nghe chúng tôi đánh liều lấy một trong số chúng tôi quẹt lửa. Anh bạn diêm của tôi bén thật là nhạy. Hình như anh cũng rất thương cô bé nên muốn đem sức sống của mình giúp bé sưởi ấm. Ngọn lửa lúc đầu xanh lam, dần dần biếc đi, trắng ra, rực hồng lên quanh que gỗ, sáng chói trông đến vui mắt. Cô bé hơ đôi tay trên que diêm sáng rực như than hồng. Chà! ánh sáng kỳ diệu làm sao! Cô bé thì thầm: “Tôi tưởng chừng như đang ngồi trước một lò sưởi bằng sắt có những hình nổi bằng đồng bóng nhoáng. Trong lò, lửa cháy nom đến vui mắt và tỏa ra hơi nóng dịu dàng. Thật là dễ chịu. Chà! Khi tuyết phủ kín mặt đất, gió bấc thổi vun vút mà được ngồi hàng giờ như thế, trong đêm đông rét buốt, trước một lò sưởi, thì khoái biết bao!”. Đôi bàn tay cô bé hơ trên ngọn lửa; bên tay cầm diêm, cái ngón cái nóng bỏng lên. Cô bé vừa duỗi chân ra sưởi thì lửa vụt tắt, ” Ôi lò sưởi biến mất rồi”. Cô bé ngồi đó, tay cầm que diêm đã tàn hẳn bần thần cả người và chợt nghĩ ra rằng cha cô bé đã giao cho bán diêm; đêm nay, về nhà thế nào cũng bị cha mắng. “Quẹt diêm mà sưởi ấm nữa đi, cô bé ơi!” .Tôi lại thì thầm. Cô bé quẹt que diêm thứ hai, diêm cháy và sáng rực lên. Cô bé reo lên nho nhỏ: “Một tấm rèm bằng vải đẹp quá. Bàn ăn đã dọn, khăn trải trắng tinh, trên bàn bày toàn bát đĩa bằng sứ quý giá, và có cả một con ngỗng quay kìa! Nó nhảy ra khỏi dĩa và mang cả dao ăn, phóng sết, cắm trên lưng, tiến về phía mình ư? Rồi… que diêm vụt tắt; trước mặt cô bé chỉ còn là những bức tường dầy đặc và lạnh lẽo. Thực tế đã thay thế cho mộng mị: chẳng có bàn ăn thịnh soạn nào cả, mà chỉ có phố xá vắng teo, lạnh buốt, tuyết phủ trắng xoá, gió bấc vi vu và mất người khách qua đường quần áo ấm áp vội vã đi đến những nơi hẹn hò, hoàn toàn lãnh đạm với cảnh nghèo khổ của cô bé bán diêm. Lần này không đợi tôi nhắc cô bé quẹt que diêm thứ ba. Cô bé reo lên thích thú “Một cây thông Noel! Cây này lớn và trang trí lộng lẫy hơn cây mà mình đã được thấy năm ngoái qua cửa kính một nhà buôn giàu có. Hàng ngàn ngọn nến sáng rực, lấp lánh trên cành lá xanh tươi và rất nhiều bức tranh màu sắc rực rỡ như những bức bày trong các tủ hàng nữa kìa”. Tôi thấy cô bé đưa tay như với vẻ phía cây… nhưng diêm tắt.

– Chắc hẳn có ai vừa chết. Cô bé nói nhỏ, vì bà, người hiền hậu độc nhất đó, đã mất từ lâu, trước đây thường nói rằng: “Khi có một vì sao đổi ngôi là có một linh hổn bay lên trời với thượng đế”. Cô bé quẹt một que diêm nữa vào tường, một ánh sáng xanh tỏa ra xung quanh.

– Bà ơi! Cô bé reo lên, cho cháu đi với! Cháu biết rằng diêm tắt thì bà cũng biến đi mất như lò sưởi, ngỗng quay và cây Noel ban nãy, nhưng xin bà đừng bỏ cháu ở nơi này; trước kia, khi bà chưa về với thượng đế chí nhân, bà cháu ta đã từng sung sướng biết bao! Dạo ấy bà đã từng nhủ cháu rằng nếu cháu ngoan ngoãn cháu sẽ được gặp lại bà; Bà ơi! Cháu van bà, bà xin với Thượng đế chí nhân cho cháu vé với bà. Chắc Người không từ chối đâu.

Diêm lại tắt phụt và ảo ảnh rực sáng trên khuôn mặt em bé cũng biết mất. Cô bé quẹt gần hết những que diêm còn lại trong bao. Tôi nằm trong số những que diêm còn lại nên chứng kiến tất cả. Chắc cô bé muốn níu bà lại! Diêm nối nhau chiếu sáng như giữa ban ngày. Chắc chưa bao giờ cô bé thấy bà to lớn và đẹp lão như thế này. Tôi có cảm giác bà cụ cầm lấy tay em, rồi hai bà cháu bay vụt lên cao, cao mãi, chẳng còn đói rét, đau buồn nào đe dọa họ nữa. Họ đã vẻ với Thượng đế.

Sáng hôm sau, tôi thấy tuyết vẫn phủ kín mặt đất, nhưng mặt trời lên, trong sáng, chói chang trên bầu trời xanh nhợt. Mọi người vui vẻ ra hỏi nhà. ở xó tường cô bé có đôi má hồng và đôi môi đang mỉm cười. Cô é đã chết vì giá rét trong đêm giao thừa. Nhưng cô bé mang theo những giấc mơ đẹp. Đó là điều kì diệu cô bé đã trong thấy, nhất là cảnh huy oàng lúc hai bà cháu bay lên để đón lấy những niềm vui đầu năm. hương đế đã đến với cô bé, giải thoát cô bé khỏi cõi đòi khổ đau và lòng người lạnh giá. Tôi đã không có may mắn như các bạn diêm khác của tôi là sưởi ấm cô bé và mang đến cho cô nhũng giấc mơ đẹp. Nhưng tôi được chứng kiến những niềm vui nhỏ bé, giản dị của cô. Tôi thầm chúc cô bé hạnh phúc bên bà. Cũng cầu mong không bao giờ phải chứng kiến một câu chuyện như thế nữa.

Em Hãy Phân Tích Ước Mơ Thứ Tư Của Cô Bé Bán Diêm Trong Văn Bản “Cô Bé Bán Diêm”?

Đề bài: Phan tich uoc mo thu tu cua co be ban diem. Em hãy phân tích ước mơ thứ tư của cô bé bán diêm trong văn bản “Cô bé bán diêm”?

Mở bài: phân tích ước mơ thứ tư của cô bé bán diêm trong văn bản “Cô bé bán diêm”

An-đéc-xen là nhà văn Đan Mạch nổi tiếng với loại truyện kể cho trẻ em. Nhiều truyện ông đã biên soạn lại từ truyện cổ tích, nhưng cũng có những truyện do ông hoàn toàn sáng tạo ra. Ông đã có rất nhiều những tác phẩm nổi tiếng như: Bầy chim thiên nga, Nàng tiên cá, Bộ quần áo của hoàng đế…và Cô bé bán diêm cũng là một truyện nổi tiếng của ông. Câu chuyện xoay quanh cô bé bán diêm và những điều ước trong đêm tuyết lạnh giá.

Thân bài: phân tích ước mơ thứ tư của cô bé bán diêm trong văn bản “Cô bé bán diêm”

Cô bé bán diêm có một hoàn cảnh vô cùng đáng thương, mẹ mất sớm, cha thì tàn nhẫn, vô tình khi thường xuyên đánh đập cô bé. Hàng ngày cô bé phải xuống phố để bán diêm kiếm tiền. Trong đêm đông lạnh giá, cô bé đi bán diêm như bao ngày khác nhưng do thời tiết quá lạnh, mọi người không xuống phố nên cô bé không bán được diêm. Sợ bố giận dữ và những trận đòn roi cắt da cắt thịt mà cô bé không dám về.

Ngồi co ro nơi góc phố, cô bé đã đốt lên bốn que diêm, cùng với đó là những liên tưởng, hình dung xuất phát từ chính những ước mơ sâu thẳm trong tâm hồn của cô bé. Em bé ước mơ được ngồi trước một lò sưởi lớn để xua đi cái lạnh giá của hiện tại; mơ ước có một bàn ăn thịnh soạn để có thể no bụng; muốn nhìn thấy cây thông nô-en to lớn, rực rỡ. Và ước mơ cuối cùng của cô bé khi đốt lên que diêm thứ tư thực sự khiến người đọc cảm động.

Kết bài: phân tích ước mơ thứ tư của cô bé bán diêm trong văn bản “Cô bé bán diêm”

Trong ánh sáng của ngọn diêm, cô bé đã nhìn thấy người bà đã mất của mình. Trong kí ức của cô bé, bà là người yêu thương, quan tâm nhất đến cô bé, vì vậy mà từ khi bà mất, cô bé đã đơn độc, sống thiếu thốn đi tình cảm của gia đình. Lời nói của cô bé thật cảm động: “bà ơi…Cháu biết rằng khi ngọn diêm này tắt thì bà cũng biến mất như lò sưởi, ngỗng quay và cây thông nô-en ban nãy, nhưng xin bà đừng bỏ cháu lại nơi này; trước khi bà chưa về với thượng đế chí nhân, bà cháu mình đã vui biết bao….Cháu xin bà, bà hãy xin thượng đế chí nhân cho cháu về với bà. Chắc người không từ chối đâu”. Mong ước chân thành của cô bé khiến cho người đọc không cầm được nước mắt. Trong sự lạnh lẽo của đêm đông, trong tình cảnh đáng thương của hiện tại, cô bé đã muốn theo bà, rời xa nhân thế nhiều khổ đau này.

TỪ KHÓA TÌM KIẾM CÔ BÉ BÁN DIÊM CO BE BAN DIEM AN-ĐÉC-XEN TRUYỆN CÔ BÉ BÁN DIÊM Theo chúng tôi

Tìm Hiểu Văn Bản: Cô Bé Bán Diêm – An

Có cảnh tượng thương tâm nào hơn cảnh một em bé mồ côi mẹ chết cóng trong đêm giao thừa. Câu chuyện về “Cô bé bán diêm” của An – Đec – Xen đã đưa người đọc đến với đất nước Đan Mạch vào những năm giữa thế kỷ XIX nghèo đói, bần hàn. Đan Mạch là một nước nhỏ thuộc khu vực Bắc Âu, diện tích chỉ bằng một phần tám diện tích nước ta, thủ đô là Cô-pen-na-ghen. An-Đec-Xen là nhà văn nổi tiếng nhất của Đan Mạch.

I. Tìm hiểu chung

1. Tác giả

An-Đec-Xen (1805-1875) là nhà văn nổi tiếng nước Đan Mạch với loại truyện kể về trẻ em. Nhiều truyện ông biên soạn lại từ truyện cổ tích, nhưng cũng có những truyện do ông hoàn toàn sáng tạo ra.

Nhiều truyện ngắn của An-Đec-Xen đã đi cùng tuổi thơ của biết bao em nhỏ khắp năm châu: Cô bé bán diêm, Nàng tiên cá, Nàng công chúa và hạt đậu…

Các truyện của ông nhẹ nhàng, tươi mát, toát lên lòng yêu thươn con người, nhất là những người nghèo khổ và niềm tin vào sự thắng lợi cuối cùng của cái tốt đẹp trên thế gian.

2. Tác phẩm

a. Hoàn cảnh sáng tác: Truyện ngắn “Cô bé bán diêm” sáng tác năm 1845, ra đời vào thời điểm Am-Đec-Xen sáng tác nhiều nhất.

b. Tóm tắt: Cô bé bán diêm

Trong đêm giao thừa, trời rét mướt, có một cô bé đầu trần, chân đi đất, bụng đói đang rầu rĩ đi bán diêm trong bóng tối. Cô bé bán diêm ấy đã mồ côi mẹ và cũng đã mất đi người thương yêu em nhất là bà nội. Em không dám về nhà vì sợ bố sẽ đánh em. Vừa lạnh vừa đói, cô bé ngồi nép vào một góc tường rồi khẽ quẹt một que diêm để sưởi ấm. Que diêm thứ nhất cho em có cảm giác ấm áp như ngồi bên lò sưởi. Em vội quẹt que diêm thứ hai, em được thấy một bàn ăn thịnh soạn hiện lên. Rồi em quẹt que diêm thứ ba và được thấy cây thông Nô-en. Quẹt que diêm thứ tư: bà nội hiền từ của em hiện lên đẹp đẽ, gần gũi và phúc hậu biết mấy. Nhưng ảo ảnh đó nhanh chóng tan đi sau sự vụt tắt của que diêm. Em vội vàng quẹt hết cả bao diêm để mong níu bà nội lại. Cô bé bán diêm đã chết trong giá rét khi mơ cùng bà bay lên cao mãi.

c. Bố cục: 3 phần

Phần 1: Từ đầu… cứng đờ ra: Hoàn cảnh của cô bé bán diêm

Phần 2: Tiếp theo… về chầu thượng đế: Những lần quẹt diêm của cô bé

Phần 3: Còn lại: Cái chết của cô bé bán diêm

II. Tìm hiểu văn bản

1. Cô bé trong đêm giao thừa

a. Gia cảnh của cô bé bán diêm

Mẹ chết, sống với người bố khó tính, bà nội – người yêu thương em cũng đã qua đời.

Nhà nghèo, sống “chui rúc trong xó tối tăm”. “trên gác sát mái nhà”, em “luôn nghe những lời mắng nhiếc chửi rủa”.

Vì gia cảnh nghèo túng mà em phải đi bán diêm để kiếm sống.

b. Hình ảnh cô bé bán diêm trong đêm giao thừa

Ở đoạn đầu của tác phẩm, tác giả đã sử dụng rất thành công nghệ thuật đối lập – tương phản.

Những hình ảnh đối lập tương phản có tác dụng rất lớn, nhằm làm nổi bật tình cảm hết sức tội nghiệp: rét, đói, khổ của em bé – đã rét lại càng rét hơn khi thấy “mọi nhà đều sáng rực ánh đèn”; đã đói lại càng đói hơn khi “trong phố sực nức mùi ngỗng quay”.

Ngoài ra, hình ảnh “cái xó tối tăm” em sống chui rúc với bố hiện nay và “ngôi nhà xinh xắn có dây trưỡng xuân bao quanh” năm xưa khi bà nội em còn sống.

Hình ảnh tương phản này không chỉ làm nổi bật nỗi khổ về vật chất mà cả sự mất mát về chỗ dựa tinh thần của em bé vì chỉ có bà nội là người thương em.

Đến tận đêm vẫn không bán được bao diêm nào, vẫn không dám về vì sợ bố đánh.

c. Cảnh thực và những ảo ảnh

Đêm giao thừa cô đơn, ngập chìm trong tuyết lạnh, cô bé: “thu đôi chân vào người, nhưng mỗi lúc em cảm thấy rét buốt hơn”, “lúc này đôi bàn tay” mỗi lúc lại “cứng đờ ra”.

Trong tình cảnh đó, cô bé đã nghĩ tới việc đánh diêm để “hơ ngón tay”, để phần nào xua đi cái cô đơn lạnh cóng.

Câu chuyện được tiếp tục nhờ chí tiết lặp lại và biến đổi rất tự nhiên, hợp lý và thú vị qua chi tiết 5 lần cô bé quẹt diêm. Trong đó, cảnh thật và cảnh ảo đan xen nhau.

Lần thứ nhất:

+ Cảnh ảo: “Hiện ra lò sưởi bằng sắt có những hình nổi bằng đồng bóng nhoáng tỏa ra hơi nóng dịu dàng”.

+ Cảnh thật: Bên tay cầm diêm, ngón cái nóng bỏng lên.

Lần thứ hai:

+ Cảnh ảo: một bàn ăn sang trọng, thức ăn ngon lành tỏa mùi thơm ngào ngạt: “Bức tường như biến thành một tấm rèm bằng vải màu. Em nhìn thấu vào tận trong nhà. Bàn ăn đã dọn, khăn trải bàn trắng tinh, trên bàn toàn bát đĩa bằng sứ quý giá và có cả một con ngỗng quay”.

+ Cảnh thực: là khi que diêm vừa tắt thì “chẳng có bàn ăn nào cả, chỉ có phố xá vắng teo, lạnh buốt…và mấy người khách qua đường quần áo ấm áp vội vã đi đến những nơi hẹn hò, hoàn toàn lãnh đạm với cảnh nghèo khổ của em bé bán diêm”

Lần thứ ba:

+ Cảnh ảo: hiện ra một cây thông noel

+ Cảnh thật: vẫn không đổi.

Lần thứ tư:

+  Cảnh ảo: Hình ảnh người bà đã mất xuất hiện, sống lại với nụ cười dịu dàng với dứa cháu mồ côi nhỏ bé, đáng thương. Em bé cất lời nói với bà để biểu hiện tình cảm nhớ thương bà, ước nguyện đi cùng bà.

+ Cảnh thật: vẫn không thay đổi.

Lần thứ năm – lần cuối cùng: Em quẹt diêm liên tục cho kỳ hết bao diêm để dẫn tới hình ảnh diêm nối nhau chiếu sáng như ban ngày:

+  Cảnh ảo: Hình ảnh bà nội hiện lên trong tưởng tượng chưa bao giờ to lớn, đẹp lão như thế. Em muốn níu giữ bà em lại với em. Em lại muốn bà em đi với em, em đi theo bà.

+ Cảnh thật: vẫn không đổi. Em đã chết vì rét trong đêm giao thừa.

Chỉ là một tưởng tượng, đây là giây phút em bé đã ra đi vĩnh viễn trong đói khát, rét mướt, trong niềm hy vọng tan biến.

5 lần quẹt diêm, 5 lần lặp lại và biến đổi, thực tại xen lẫn ảo ảnh, nối tiếp, trở đi trở lại, tất cả được sắp xếp và tưởng tượng tuyệt khéo gợi lên cho người đọc vẻ đẹp hồn nhiên, tươi tắn của em bé đáng thương như một tiểu thiên thần.

Tác giả bày tỏ niềm cảm thông sâu sắc của mình với em bé bất hạnh. Ngòi bút nhân ái và lãng mạng của nhà văn đã làm cho câu chuyện cảm động đau thương vẫn nhẹ nhàng đầy chất thơ.

Hình ảnh một em bé nghèo khổ, bất hạnh, đáng thương, đáng trọng. Một con người phải đối mặt với những khó khăn thử thách ở đời mà vẫn không nguôi mong muốn, khát vọng những điều tốt đẹp nhất.

2. Một cảnh thương tâm

Ngày mồng một, người ta nhìn thấy thi thể em bé mồ côi ngồi giữa những bao diêm một cách vô tình, lạnh lùng.

Chỉ có cái nhìn đầy cảm thông cùng tấm lòng nhân hậu và lãng mạn của An-Đec-Xen mới có thể viết lại một câu chuyện thương tâm mà vẫn làm cho người đọc bớt đi cảm giác bi thương.

Cho đến những dòng cuối cùng của tác phẩm, nhà văn vẫn dùng hình ảnh đối lập, tương phản rất đặc sắc: Giữa ngày đầu năm hứa hẹn những mầm sống mới mọc lên, có một em bé chết.

Miêu tả một cảnh thương tâm về cái chết của cô bé bán diêm, ngòi bút của tác giả vừa thực, vừa mộng. Sự thực là em bé khốn khổ kia đã chết, nhưng đây là một cái chết đẹp, hình hài thể xác chết mà linh hồn, khát vọng của em vẫn sống, sống trên đôi má hồng, đôi môi đang mỉm cười. Rõ ràng, đến với những dòng cuối của áng văn, tình thương, niềm tin con người và khát vọng những điều tốt đẹp nhất con người trong cõi lòng nhà văn Đan Mạch thấm đẫm chất nhân đạo, nhân văn.

Trong cái xã hội thiếu tình thương, nhà văn An-Đec-Xen đã viết truyện này với tất cả niềm cảm thông, yêu thương đối với em bé bất hạnh. Nhưng rõ ràng, truyện ngắn “Cô bé bán diêm” là một cảnh tượng thương tâm.

Cái chết của cô bé là tiếng nói tố cáo xã hội mạnh mẽ, phê phán lối sống ích kỷ, co cụm, chỉ biết mình của thế giới hiện đại. Đó là sự cảm thông sâu sắc của nhà văn kể chuyện thiên tài An-Đéc-Xen.

III. Tổng kết

1. Nội dung

Qua số phận bất hạnh của em bé nghèo, chúng ta thấy được xã hội mà em sống, đó là một xã hội không có tình người. Đồng thời truyện còn có sức tố cáo xã hội; phê phán lối sống ích kỷ, co cụm, chỉ biết mình của thế giới hiện đại. Câu chuyện còn toát lên niềm thương cảm của nahf văn đối với những em bé nghèo khổ. Vì thế, truyện vừa có giá trị hiện thực, vừa có giá trị nhân văn, nhân đạo.

2. Nghệ thuật

Tác giả thành công trong việc sử dụng nghệ thuật đối lập – tương phản. Những hình ảnh đối lập tương phản càng lúc càng gay gắt, thực tế và mộng tưởng, cuộc đời và ảnh ảo cứ sóng đôi hiện hiện, đan cài, tranh chấp nhau, nâng dần lên, bay cao lên.

Nghệ thuật kể chuyện hấp dẫn, đan xen giữa hiện thực và mộng tưởng, với các chi tiết tương phản, diễn biến hợp lý, truyền cho chúng ta lòng thương cảm đối với em bé bất hạnh, lay động trong ta thình thương và niềm tin ở con người.