Văn Bản Cô Bé Bán Diêm Ngữ Văn Lớp 8 / Top 11 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Bac.edu.vn

Tóm Tắt Văn Bản Cô Bé Bán Diêm Lớp 8

Bố cục văn bản

Văn bản Cô bé bán diêm được viết theo kiểu truyện cổ tích, được chia làm 3 phần như sau:

Phần 1: Thông tin về gia cảnh cuộc đời của cô bé bán diêm.

Phần 2: Cảm xúc trong những lần quẹt diêm của cô bé.

Phần 3: Cái chết thương tâm của cô bé bán diêm.

(Phần 2 chia thành 5 đoạn nhỏ dựa vào số lần quẹt diêm của cô bé). Bốn lần đầu quẹt diêm, mỗi lần quẹt một que. Lần thứ năm cô bé quẹt tất cả những que còn lại). Kết thúc truyện Cô bé bán diêm không hề kết thúc có hậu cho nhân vật mà để lại cái chết thương tâm và để lại nhiều suy nghĩ về cuộc sống quanh ta.

Tóm tắt văn bản Cô bé bán diêm

Bài số 1

Truyện Cô bé bán diêm kể về một cô bé rất nghèo, gia đình gặp khó khăn khi mẹ mất, bà qua đời, cô bé phải đi bán diêm qua ngày kiếm sống qua ngày. Công việc hàng ngày là bán diêm kể cả đêm giao thừa cũng không ngoại lệ, ngoài trời thời tiết khắc nghiệt khi trời rét và có tuyết rơi, em đi bán diêm với bộ quần áo mỏng manh và bụng đói cồn cào, khi đó em đã quẹt que diêm để sưởi ấm. Cô bé quẹt các que diêm sưởi ấm trong những lần quẹt diêm hình ảnh lần lượt hiện lên trước mắt đó cái lò sưởi, bàn ăn với một con ngỗng quay, cây thông Nô-en rồi em nhìn thấy bà em, bà cháu như đón em về thượng đế. Mỗi lần que diêm tắt, thực tế phũ phàng lại hiện ra, lần lượt em nghĩ đến cha sẽ mắng vì không bán được diêm, phố xá vắng người và những người khách qua đường vội vàng thờ ơ trước sự đáng thương của cô bé. Hôm sau người ta thấy cô bé đã chết, một cái chết để lại nhiều suy nghĩ.

Bài số 2

Cô bé bán diêm kể về cuộc sống nghèo khổ của một cô bé phải đi bán điểm để trang trải cuộc sống. Đêm giao thừa khi mà mọi người quây quần bên gia đình cô bé vẫn phải đi bán diêm, trời rét, tuyết rơi mà cô bé phải đi chân trần, quần áo rách rưới và bụng đói. Mặc dù rất muốn trở về nhà nhưng nếu như không bán được diêm sẽ bị cha đánh. Trước cái lạnh thấu xương thịt cô bé quẹt diêm để sưởi ấm, que diêm đầu tiên quét lên, cô bé hơ tay vào sưởi ấm tưởng tượng như đang ngồi trong lò sưởi nhưng que diêm tắt mọi thứ biến mất. Quẹt que diêm thứ 2 khung cảnh bữa ăn thịnh soạn xuất hiện với bàn ăn và ngỗng quay, que diêm thứ 2 tắt mọi thứ trở về với hiện tại. Que diêm thứ 3 được quẹt lên em thấy cây thông Noel và người bà lần lượt xuất hiện. Khi diêm tắt bà biến mất cô bé quẹt hết các que diêm còn lại với mong muốn níu kéo người bà ở lại và mong người bà sẽ đưa cô bé đi theo. Sáng hôm sau bầu trời vẫn đẹp nhưng người ta tìm thấy một cô bé chết rét trong đêm trên đôi môi mỉm cười.

Bài số 3

Trong đêm giao thừa chào đón năm mới có một cô bé vẫn phải đi bán diêm, bởi nếu không bán diêm em sẽ bị cha đánh. Trời tuyết rơi cô bé trong bộ quần áo mỏng manh, chân trần ửng lên vì lạnh phải đến những chỗ đông người để bán diêm. Vừa đói vừa lạnh cô bé quẹt diêm để sưởi ấm, qua diêm đầu tiên xuất hiện có thấy lò sưởi rất ấm nhưng khi đặt chân vào lò sưởi biến mất. Que diêm thứ 2 xuất hiện em thấy một bữa ăn thịnh soạn với những đồ ăn ngon nhưng mọi thứ vụt tắt trước mắt. Que diêm thứ 3 hình ảnh cây thông và người bà xuất hiện. Với mong muốn níu giữ bà trở lại và ước nguyện người bà sẽ đưa cô bé đi theo cùng em đã quẹt hết các que diêm trong bao diêm. Hôm sau người ta tìm thấy một cô bé bán diêm chết vì đói và lạnh nhưng thật kì lạ đôi môi vẫn nở nụ cười.

Tác giả thể hiện tấm lòng nhân đạo qua sự trái ngược trong xã hội đó làhình ảnh cô bé nghèo khổ, mưu sinh và khung cảnh xa hoa, sum họp trong đêm giao thừa. Tất cả đều không quan tâm và cô bé bị bỏ mặc cho đến chết. Một cái chết như được báo trước giữa cuộc đời vô tâm, lạnh lùng. Qua tác phẩm Cô bé bán diêm cũng thể hiện tấm lòng của tác giả với cuộc đời của những con người nghèo khổ trong xã hội.

Với bài bố cục và tóm tắt văn bản Cô bé bán diêm sẽ giúp các em am hiểu hơn về tác phẩm nổi tiếng này.

Giải Vbt Ngữ Văn 8 Bài Cô Bé Bán Diêm

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Câu 1 Câu 1 (trang 54 VBT Ngữ văn 8, tập 1):

Hãy xác định ba phần (chỗ bắt đầu, chỗ kết thúc từng phần) của bài này nếu lấy việc em bé quẹt từng que diêm làm phần trọng tâm. Căn cứ vào đâu đế có thể chia phần thứ hai (phần trọng tâm) thành những đoạn nhỏ hơn?

Phương pháp giải:

Muốn tìm bố cục của truyện, em đọc lại văn bản một lượt, xác định ba phần của văn bản.

Lời giải chi tiết:

Truyện này có thể chia làm ba phần:

– Phần 1 (từ đầu… “cứng đờ ra”): Hoàn cảnh đáng thương của cô bé bán diêm.

– Phần 2 (tiếp… “chầu Thượng đế”): Những lần quẹt diêm những mơ ước giản dị hiện ra.

– Phần 3 (còn lại) Cái chết của cô bé bán diêm và thái độ của mọi người.

Căn cứ vào những lần quẹt diêm của cô bé để xác định những đoạn nhỏ:

– Ba lần quẹt đầu tiên ước mơ về lò sưởi, đồ chơi, thức ăn hiện ra.

– Lần thứ 4, người bà hiện lên hiền hậu.

– Lần thứ 5 cô bé quẹt hết số diêm trong hộp để níu giữ hình ảnh người bà.

Câu 2 Câu 2 (trang 54 VBT Ngữ văn 8, tập 1):

Trong phần đầu, nhà văn đã tạo dựng hoàn cảnh (gia đình, cuộc sống) và bối cảnh (thời gian, không gian) của em bé bán diêm như thê nào? Những hình ảnh tương phản (đối lập, đặt gần nhau, làm nổi bật lẫn nhau) ở đây được thế hiện ra sao và nhằm mục đích nghệ thuật cụ thể gì?

Phương pháp giải:

– Về gia cảnh của cô bé bán diêm: cô bé sống với ai; bà, mẹ có còn không; hoàn cảnh kinh tế của gia đình; cô bé làm gì để kiếm sống?…

– Về không gian, thời gian: cô bé ngồi ở đâu; vào thời điểm nào?

– Về các hình ảnh tương phản giữa cảnh ngộ của cô bé với những gì diễn ra xung quanh…

Lời giải chi tiết:

a. Hoàn cảnh của em bé bán diêm:

+ Gia đình mới sa sút (bà chết, gia sản tiêu tan, dời chỗ ở đẹp đẽ, ấm cúng ngày trước…)

+ Ở với cha trên gác sát mái nhà, gió lùa rét buốt.

b. Khoanh tròn vào chữ cái trước câu trả lời đúng về thời gian, không gian xảy ra câu chuyện:

A. Đêm giao thừa ở một tiệm bán đồ chơi.

B. Đêm giao thừa ở một góc tường giữa hai ngôi nhà.

C. Đêm mùa thu ở đường phố.

c. Nhiều sự tương phản đã diễn ra xung quanh em bé và trong lòng em bé:

+ Quá khứ – hiện tại (yên vui, sum họp – sa sút, chia lìa).

+ Phố xá tưng bừng, tấp nập – em bé lang thang cô đơn nghèo khó.

+ Mộng ảo huy hoàng – thực tế tối tăm, khắt nghiệt: bị bỏ rơi trong bần cùng, bất hạnh nhưng tâm hồn luôn luôn hướng về điều thiện và cái đẹp.

Câu 3 Câu 3 (trang 55 VBT Ngữ văn 8, tập 1):

Các mộng tưởng của em bé qua các lần quẹt diêm (lò sưởi, bàn ăn, cây thông Nô-en, người bà, hai bà cháu bay đi) diễn ra lần lượt có hợp lí không? Vì sao? Trong các mộng tưởng ấy, điều nào gắn với thực tế, điều nào thuần túy chỉ là tưởng tượng?

Phương pháp giải:

Muốn biết các mộng tưởng diễn ra có hợp lí không, hãy tìm hiểu vì sao cô bé mơ tưởng đến lò sưởi, bàn ăn, rồi đến cây thông No-en, người bà,… Trong các mộng tưởng này, điều nào gắn với thực tại, điều nào không?

Lời giải chi tiết:

– Qua các lần quẹt diêm, các mộng tưởng đã lần lượt hiện ra, rất hợp lý, phù hợp với hoàn cảnh thực tế và tâm lí của em bé:

+ Khát khao được sưởi ấm đến được ăn no và ngon.

+ Vui vầy xung quanh cây thông Nô-en.

+ Hồi tưởng về những lần đón giao thừa ngày trước khi bà nội còn sống.

+ Cảnh hai bà cháu cầm tay nhau cùng bay lên trời.

– Mộng tưởng gắn với thực tế: lò sưởi, ngỗng quay, cây thông.

– Mộng tưởng thuần túy là mộng tưởng: gặp lại người bà.

Câu 4 Câu 4 (trang 56 VBT Ngữ văn 8, tập 1):

Hãy phát biếu những cảm nghĩ của mình về truyện “Cô bé bán diêm” (trích), nói chung và về đoạn kết của truyện nói riêng.

Phương pháp giải:

Qua câu chuyện, em thấy người đời đối xử với cô bé bán diêm như thế nào, xã hội có mở lòng ra che chở, cưu mang em bé tội nghiệp hay không? Về đoạn kết của truyện, cảnh tượng em bé chết trong giá rét gợi cảm xúc gì? Nhà văn đã thể hiện tình thương yêu, sự cảm thông với em bé bất hạnh như thế nào?

Lời giải chi tiết:

Cảm nghĩ về cô bé bán diêm:

– Cô bé có hoàn cảnh đáng thương, tội nghiệp:

+ Sống trong cảnh thiếu thốn về vật chất lẫn tinh thần.

+ Phải bươn chải kiếm sống ngay từ khi còn rất nhỏ.

– Ước mơ của em thực tế, giản dị và hồn nhiên:

+ Mơ no ấm, sum vầy bên gia đình.

+ Muốn được vui chơi đúng với lứa tuổi của em.

– Em bé tội nghiệp chết đói và chết rét ngoài đường.

Đoạn kết truyện:

– Cảnh tượng cô bé bán diêm chết vì giá rét nhưng miệng vẫn mỉm cười- đây là sự tưởng tượng của tác giả, giảm bớt sự đau thương.

– Cái chết lúc này là sự cứu rỗi- hai bà cháu bay về chầu Thượng đế.

– Cái kết vừa có sự bi thương, vừa mang màu sắc cổ tích (phản ánh ước mơ, khát vọng được hạnh phúc, ấm no của con người và cũng là tư tưởng nhân đạo của tác giả).

Câu 5 Câu 5 (trang 56 VBT Ngữ văn 8, tập 1):

Nhà văn muốn gửi gắm điều gì qua các chi tiết em bé chỉ bật một que diêm cho lò sưởi, thức ăn, cây thông Nô-en; nhưng lại bật cả bao diêm để níu bà em?

Lời giải chi tiết:

– Em bé chỉ bật một que diêm cho lò sưởi, thức ăn, cây thông nô-en nhưng lại bật cả bao diêm để níu giữ bà bởi vì trong lòng em bà quan trọng hơn tất cả mọi thứ vật chất kia, em cần tình yêu thương của bà, cần hơn tất cả mọi thứ đồ ăn thức uống, lò sưởi và những vật ngoài thân. Chỉ có bà mới đem lại cho em sự ấm áp và niềm vui thực sự.

Cách Soạn Bài Ngữ Văn Lớp 8 Văn Bản Cô Bé Bán Diêm Câu Hỏi 37852

Soạn bài Cô bé bán diêm (trích) siêu ngắn

Câu 1

Trả lời câu 1 (trang 68 sgk Ngữ Văn 8 tập 1):

Truyện này có thể chia làm ba phần:

– Phần 1 (từ đầu… “cứng đờ ra”): Hoàn cảnh đáng thương của cô bé bán diêm.

– Phần 2 (tiếp… “chầu Thượng đế”): Những lần quẹt diêm những mơ ước giản dị hiện ra.

– Phần 3 (còn lại) Cái chết của cô bé bán diêm và thái độ của mọi người.

Căn cứ vào những lần quẹt diêm của cô bé để xác định những đoạn nhỏ:

– Ba lần quẹt đầu tiên ước mơ về lò sưởi, đồ chơi, thức ăn hiện ra.

– Lần thứ 4, người bà hiện lên hiền hậu.

– Lần thứ 5 cô bé quẹt hết số diêm trong hộp để níu giữ hình ảnh người bà.

Câu 2

Trả lời câu 2 (trang 68 sgk Ngữ Văn 8 tập 1):

– Hoàn cảnh của em bé bán diêm:

+ Gia đình mới sa sút (bà chết, gia sản tiêu tan, dời chỗ ở đẹp đẽ, ấm cúng ngày trước…)

+ Ở với cha trên gác sát mái nhà, gió lùa rét buốt.

– Hình ảnh cô bé bán diêm thật tội nghiệp:

+ Đầu trần, chân đất (đỏ ửng lên rồi tím bầm lại vì lạnh), bụng đói.

+ Lo âu vì không bán được diêm, không xin được tiền, không dám về vì sợ bố đánh.

– Bối cảnh:

+ Ngồi trước góc tường tối tăm giữa phố.

+ Co ro trong đêm giao thừa gió rét căm căm.

– Nhiều sự tương phản đã diễn ra xung quanh em bé và trong lòng em bé:

+ Quá khứ – hiện tại (yên vui, sum họp – sa sút, chia lìa).

+ Phố xá tưng bừng, tấp nập – em bé lang thang cô đơn nghèo khó.

+ Mộng ảo huy hoàng – thực tế tối tăm, khắt nghiệt: bị bỏ rơi trong bần cùng, bất hạnh nhưng tâm hồn luôn luôn hướng về điều thiện và cái đẹp.

Câu 3

Trả lời câu 3 (trang 68 sgk Ngữ Văn 8 tập 1):

– Qua các lần quẹt diêm, các mộng tưởng đã lần lượt hiện ra, rất hợp lý, phù hợp với hoàn cảnh thực tế và tâm lí của em bé:

+ Khát khao được sưởi ấm đến được ăn no và ngon.

+ Vui vầy xung quanh cây thông Nô-en.

+ Hồi tưởng về những lần đón giao thừa ngày trước khi bà nội còn sống.

+ Cảnh hai bà cháu cầm tay nhau cùng bay lên trời.

– Mộng tưởng gắn với thực tế: lò sưởi, ngỗng quay, cây thông.

– Mộng tưởng thuần túy là mộng tưởng: gặp lại người bà.

Câu 4

Trả lời câu 4 (trang 68 sgk Ngữ Văn 8 tập 1):

Cảm nghĩ về cô bé bán diêm:

– Cô bé có hoàn cảnh đáng thương, tội nghiệp:

+ Sống trong cảnh thiếu thốn về vật chất lẫn tinh thần.

+ Phải bươn chải kiếm sống ngay từ khi còn rất nhỏ.

– Ước mơ của em thực tế, giản dị và hồn nhiên:

+ Mơ no ấm, sum vầy bên gia đình.

+ Muốn được vui chơi đúng với lứa tuổi của em.

– Em bé tội nghiệp chết đói và chết rét ngoài đường.

Đoạn kết truyện:

– Cảnh tượng cô bé bán diêm chết vì giá rét nhưng miệng vẫn mỉm cười- đây là sự tưởng tượng của tác giả, giảm bớt sự đau thương.

– Cái chết lúc này là sự cứu rỗi- hai bà cháu bay về chầu Thượng đế.

– Cái kết vừa có sự bi thương, vừa mang màu sắc cổ tích (phản ánh ước mơ, khát vọng được hạnh phúc, ấm no của con người và cũng là tư tưởng nhân đạo của tác giả).

Văn Bản Cô Bé Bán Diêm

Ai đã từng đọc Cô bé bán diêm của nhà văn Đan Mạch An-đéc-xen hẳn sẽ không thể nào quên những ánh lửa diêm nhỏ nhoi bùng lên giữa đêm giao thừa giá rét gắn với một thế giới mộng tưởng thật đẹp của cô bé nghèo khổ. Kết cục câu chuyện thật buồn nhưng sức ám ảnh của những giấc mơ tuyệt đẹp vẫn ắp đầy tâm trí người đọc, người nghe qua những lời kể và sự miêu tả rất cuốn hút của An-đéc-xen.

Trong bóng tối và cái rét cắt thịt da của xứ sở Đan Mạch, ta như nhìn thấy rõ một cô bé đôi môi tím tái, bụng đói cồn cào đang lần từng bước chân trần trên hè phố. Một cô bé mồ côi khốn khổ, không dám về nhà vì chưa bán được bao diêm nào thì sẽ bị cha đánh. Nhà văn đã tạo ra cảm giác thật sống động khi ông nhập vào những khoảnh khắc tâm trạng của cô bé.

Ấn tượng đậm nét đầu tiên khơi lên mối cảm thương chính là hình ảnh cô bé như lọt thỏm giữa cái mênh mông của bóng đêm vào thời khắc sắp giao thừa. Khi “mọi nhà đều sáng rực ánh đèn và trong phố sực nức mùi ngỗng quay”, cô bé đã hồi tưởng lại quá khứ tươi đẹp khi bà nội hiền hậu còn sống. Ngôi nhà xinh xắn với những dây trường xuân trong những ngày đầm ấm tương phản với thực tại cuộc sống của hai cha con trong một xó tối tăm, sự nghèo khổ kéo theo những lời mắng nhiếc chửi rủa của người cha khi gia sản đã tiêu tán. Để nguôi cảm giác lạnh, em đã “ngồi nép trong một góc tường”, “thu đôi chân vào người” nhưng có lẽ chính nỗi sợ hãi còn mạnh hơn giá rét đã khiến em “càng thấy rét buốt hơn”. Em không thể về vì biết “nhất định cha em sẽ đánh em”. “Ở nhà cũng rét thế thôi”, điều đáng sợ nhất đối với cô bé không phải là thiếu hơi ấm mà là thiếu tình thương. Thật đáng thương khi thân hình bé nhỏ của em phải chống chọi vô vọng với cảm giác giá buốt bên ngoài và cái lạnh từ trong trái tim khiến “đôi bàn tay em đã cứng đờ ra”.

Lúc ấy, em chỉ ao ước một điều thật nhỏ nhoi: “Chà! Giá quẹt một que diêm mà sưởi cho đỡ rét một chút nhỉ?” nhưng dường như em cũng không đủ can đảm vì làm như vậy em sẽ làm hỏng một bao diêm không bán được. Nhưng rồi cô bé ấy cũng “đánh liều quẹt một que”, để bắt đầu cho một hành trình mộng tưởng vượt lên thực tại khắc nghiệt. Giấc mơ của em bắt đầu từ lúc nhìn vào ngọn lửa: “lúc đầu xanh lam, dần dần biến đi, trắng ra, rực hồng lên quanh que gỗ, sáng chói trông đến vui mắt”. Ánh sáng ấy đã lấn át đi cảm giác của bóng tối mênh mông, để hiện lên hình ảnh “một lò sưởi bằng sắt có những hình nổi bằng đồng bóng nhoáng”. Niềm vui thích của em đến trong ảo giác “lửa cháy nom đến vui mắt và toả ra hơi nóng dịu dàng”. Đó là ước mơ thật đơn giản trong khi thực tế lại phũ phàng “tuyết phủ kín mặt đất, gió bấc thổi vun vút… trong đêm đông rét buốt”. Ước ao được ngồi hàng giờ “trước một lò sưởi” cũng biến tan khi “lửa vụt tắt, lò sưởi biến mất”. Khoảnh khắc em “bần thần cả người” khi hình dung ra những lời mắng chửi của cha khiến ta phải nao lòng. Bóng tối lại phủ lên màu u ám trong tâm hồn em.

Có lẽ vì vậy, nhà văn đã để em tiếp tục thắp lên que diêm thứ hai, thắp lên niềm vui nhỏ nhoi dù chỉ là trong mộng tưởng. Không chỉ phải chống chọi với cái rét, cô bé còn phải cầm cự với cơn đói khi cả ngày chưa có miếng nào vào bụng. Bởi thế, ánh sáng rực lên của ngọn lửa diêm đã biến bức tường xám xịt thành “tấm rèm bằng vải màu”. Cái hạnh phúc trong những ngôi nhà ấm áp đã đến với em, khi em nhìn thấy : “Bàn ăn đã dọn, khăn trải bàn trắng tinh, trên bàn toàn bát đĩa bằng sứ quý giá, và có cả một con ngỗng quay”. Giá như tất cả những hình ảnh tưởng tượng biến thành hiện thực thì em sẽ vui sướng biết bao, khi “ngỗng nhảy ra khỏi đĩa” sẽ mang đến cho em bữa ăn thịnh soạn để vượt lên phút đói lả người. Nhưng một lần nữa, ảo ảnh lại vụt biến, em lại phải đối mặt với “phố xá vắng teo, lạnh buốt, tuyết phủ trắng xoá, gió bấc vi vu”. Không những thế, em còn chứng kiến sự thờ ơ ghẻ lạnh của những người qua đường, hình ảnh tương phản được nhà văn khắc họa làm ta nhói đau trước em bé bất hạnh.

Và một lần nữa, que diêm tiếp theo lại sáng bừng lên, để em được sống trong những giấc mơ đẹp nhất của một em bé. Trong một cuộc sống phải từng phút từng giây vật lộn mưu sinh, em đã phải từ giã những niềm vui được đùa chơi của con trẻ. Ánh sáng từ que diêm đã toả ra vầng hào quang lộng lẫy, cho em “một cây thông Nô-en”, như đem đến cho em một thiên đường của tuổi thơ: “Hàng ngàn ngọn nến sáng rực, lấp lánh trên cành lá xanh tươi và rất nhiều bức tranh màu sắc rực rỡ như những bức bày trong tủ hàng”. Điều trớ trêu nghiệt ngã là tất cả những hình ảnh tươi đẹp ấy em chỉ kịp nhìn nhưng không thể chạm tay vào, bởi lẽ tất cả chỉ là ảo ảnh, như những ngôi sao trên trời mà em không thể với tới. Trái tim ta như nghẹn lại cùng lời kể của nhà văn, bởi lẽ em bé đang dần kiệt sức và sắp phải gục ngã trước cái lạnh chết người của xứ sở bà chúa Tuyết.

Trong giây phút cuối cùng của đời em, có lẽ nhà văn không muốn người đọc phải chứng kiến một cái chết thảm thương vì rét, vì đói, vì thiếu tình thương và niềm vui trong cuộc đời khốn khổ của cô bé, nên đã cho em rất nhiều ánh lửa và niềm vui được gặp lại bà nội hiền hậu mà em rất mực kính yêu. Hình ảnh bà hiện lên trong những phút cuối cùng của em bé không hẳn là ảo ảnh mà chính là sự thực đã được nhìn qua tâm hồn thánh thiện của em. Bà em hiện ra với nụ cười như ban cho em diễm phúc được sống lại quãng đời ấm áp đầy tình thương thuở trước. Tiếng reo của em khi gặp lại bà cũng những lời cầu xin ngây thơ là tiếng nói cuối cùng của một người sắp giã từ trần thế. Em được sống với niềm vui trọn vẹn của riêng mình nhưng chúng ta có lẽ khó ai cầm được dòng nước mắt: “Dạo ấy, bà đã từng nhủ cháu rằng nếu cháu ngoan ngoãn, cháu sẽ được gặp lại bà, bà ơi! Cháu van bà, bà xin Thượng đế chí nhân cho cháu về với bà. Chắc Người không từ chối đâu.”. Trong lời tâm sự ấy, ta hiểu được sự thực về cuộc đời nghiệt ngã và bất công mà em đang hứng chịu. Điều em cần chính là tình thương thật sự trong một thế giới bao dung và nhân hậu. Bởi thế, cái chết đối với em không còn là một điều đáng sợ. Em được về với bà, đến một thế giới khác “chẳng còn đói rét, buồn đau nào đe doạ”. Nhà văn đã để chính đôi tay bé nhỏ của em thắp lên Ánh sáng – “diêm nối nhau chiếu sáng như giữa ban ngày” – để em được thấy bà em “to lớn và đẹp lão” đến đón em cùng bay vào thế giới ước mơ trong ánh sáng huy hoàng xua hết tối tăm đè nặng cuộc đời em.

Câu chuyện kết thúc. Ngày mới lại bắt đầu, “mặt trời lên, trong sáng, chói chang trên bầu trời xanh nhợt”. Sự sống vẫn tiếp diễn, mọi người đón “ngày mồng một đầu năm hiện lên trên thi thể em bé ngồi giữa những bao diêm”, nhìn em để buông ra lời nhận xét thờ ơ: “chắc nó muốn sưởi cho ấm”. Không ai được biết những cái kỳ diệu em đã trông thấy, chỉ duy nhất một người chứng kiến được “cảnh huy hoàng lúc hai bà cháu bay lên để đón lấy những niềm vui đầu năm”, đó chính là nhà văn. Ông đã cúi xuống nỗi đau của một em bé bất hạnh, kể cho ta nghe câu chuyện cảm động này bằng tất cả tình yêu thương vô bờ bến đối với trẻ thơ và những con người nghèo khổ. An-đéc-xen đã cất lên tiếng nói cảnh tỉnh những trái tim đông cứng như băng giá, gửi bức thông điệp của tình thương đến với mọi người.

nguồn google