Cô Bé Bán Diêm (Trích)

Cô bé bán diêm (trích) I. KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG

1. An-đéc-xen (1805 – 1875) là nhà văn Đan Mạch nổi tiếng với loại truyện viết cho trẻ em. Nhiều truyện ông biên soạn lại từ truyện cổ tích, nhưng cũng có những truyện do ông hoàn toàn sáng tạo ra. Truyện của ông được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới, ở Việt Nam, truyện An-đéc-xen được Nhà xuất bản Văn hoá in năm 1963.

2. Tóm tắt truyện Cô bé bán diêm: Đêm giao thừa, trời rét mướt, một cô bé bán diêm nghèo mồ côi mẹ, đầu trần, chân đi đất, bụng đói đang dò dẫm đi trong bóng tối. Suốt cả ngày em không bán được bao diêm nào. Em không dám về nhà vì sợ bố sẽ đánh em. Ngồi nép vào một góc tường, em quẹt một que diêm để sưởi ấm. Que diêm thứ nhất cho em cảm giác ấm áp như ngồi bên lò sưởi. Em quẹt que diêm thứ hai, em được thấy bàn ăn thịnh soạn. Quẹt que diêm thứ ba, em được thấy cây thông Nô-en. Quẹt que diêm thứ tư, em gặp bà em. Em đã quẹt hết cả bao diêm để được gần gũi bà em. Em đã chết trong giá rét khi mơ cùng bà bay lên cao mãi.

3. Với cách kể chuyện giản dị, đan xen giữa mộng tưởng và hiện thực, nhà văn An-đéc-xen đã làm cho chúng ta thương cảm sâu sắc trước cái chết của em bé bán diêm trong đêm giao thừa lạnh giá, và phê phán sự lạnh lùng tàn nhẫn, dửng dưng của những người xung quanh em.

II. HƯỚNG DẪN ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN

1. Nếu lấy việc em bé quẹt những que diêm là trọng tâm thì có thể chia làm ba phần. Phần thứ nhất từ đầu đến đã cứng đờ ra: Hoàn cảnh của cô bé bán diêm và việc cô bé không dám vể nhà. Phần thứ hai tiếp theo cho đến về chầu thượng đế: Những lần quẹt diêm của em bé. Phần thứ ba còn lại: Cái chết cúa em bé và thái độ của mọi người.

Việc chia phần thứ hai thành những đoạn nhỏ hơn căn cứ vào những lần quẹt diêm của em bé. Ba lần quẹt diêm để em được thấy ấm áp, được mơ thấy thức ăn và đồ chơi. Lần thứ tư em thấy bà em. Lần thứ năm, em đã quẹt cả bao diêm để níu giữ hình ảnh của bà.

2. Trong phần thứ nhất, người đọc có thể thấy được hoàn cảnh của cô bé bán diêm: nhà cửa sa sút, mẹ chết, bà nội qua đời, chỉ còn người bố khó tính hay mắng nhiếc, chửi rủa, và đánh đập em. Nhà em lúc này là một xó tối tăm. trên gác sát mái nhà.

Thời gian câu chuyện xảy ra vào đêm giao thừa lạnh buốt. Không gian là ngoài đường phố lạnh lẽo. Em phái ngồi nép trong một góc tường cho đỡ lạnh.

Các hình ảnh tương phản: ngôi nhà đẹp đẽ, xinh xắn, nơi em sống đầm ấm xưa kia so với một xó tối tăm, trên gác sát mái nhà gió lùa lạnh lẽo ; cửa sổ mọi nhà sáng rực ấm áp với ngoài đường phố tối, lạnh lẽo, nhất là chỗ góc tường ; phố sực nức mùi ngỗng quay với cảnh em bé đói rét. Sự tương phản làm nổi bật nỗi khổ lang thang, đói rét của em bé. Em càng khổ hơn khi người mẹ đã qua đời, người bà thương em cũng đã mất, chỉ còn lại người bố hay mắng nhiếc, chửi rủa, đánh đập.

3. Những mộng tưởng của cô bé mỗi lần quẹt diêm diễn ra rất hợp lí. Trước hết em đang rét, nên em muốn có lò sưởi để sưởi ấm. Sau đó, em đang đói, nên mơ ước có bàn ăn để được ăn. Khi đã được ấm no trong tưởng tượng, em mới ao ước đồ chơi trên cây thông Nô-en. Và đón năm mới, em nghĩ đến người bà hiền hậu của mình. Em đã quẹt cả bao diêm để được ở với bà.

Trong số các mộng tưởng ấy, những điều gắn với thực tế là lò sưởi, bàn ăn, cây thông Nô-en. Những điều thuần tuý chỉ là mộng tưởng là ngỗng quay nhảy ra khỏi đĩa, mang cả dao ăn, phuốc sét cắm trên lưng tiến về phía em bé. Một điều hoàn toàn mộng tưởng ấy là bà em đang mỉm cười với em, bà cầm lấy tay em, hai bà cháu bay vụt lên cao, cao mãi…

4. Có thể nêu những cảm nghĩ của em về cô bé bán diêm: Đây là một em bé mồ côi, đói khổ. Em đã mất đi những người thân thiết yêu quý em. Đó là mẹ và bà. Em cũng đã mất ngôi nhà êm ấm nơi em có thời hạnh phúc. Em sống với người cha hay chửi bới, mắng nhiếc và đe doạ đánh đập. Trong đêm giao thừa rét mướt, em đã nhờ những que diêm bé nhỏ mà có được giây phút ấm áp, sung sướng. Nhưng tất cả chỉ là ảo ánh. Em đã chết đói và chết rét trong đêm giao thừa, trong giấc mơ được gặp bà và cùng bà bay lên.

Cảnh tượng đoạn kết cho thấy người đời rất vô tâm trước số phận của em. Không ai mua diêm cho em, không ai giúp đỡ em. Họ vẫn vui vẻ ra khỏi nhà đón năm mới và bàn tán về cái chết của em.

Nhà văn viết “em gái có đôi má hồng và đôi môi đang mỉm cười” là xuất phát từ tình thương, sự thông cảm với em bé bất hạnh. Ông muốn em được sung sướng, được giải thoát khỏi cuộc sống đói rét, thiếu tình thương yêu của người thân và mọi người.

Mai Thu

Văn Bản “Cô Bé Bán Diêm”

1.Hãy xác định ba phần của văn bản này nếu lấy việc em bé quẹt những que diêm làm phần trọng tâm.Căn cứ vào đâu để có thể chia phần thứ hai ( phần trọng tâm )thành những đoạn nhỏ hơn .

Phần thứ nhất: Hòan cảnh của cô bé bán diêm. Phần thứ hai (trọng tâm): Các lần quẹt diêm và những mộng tưởng. Phần thứ ba: Cái chết thương tâm của em bé bán diêm.

Phần trọng tâm có thể chia thành 5 đoạn nhỏ căn cứ vào các lần quẹt diêm. Bốn lần đầu, mỗi lần quẹt một que diêm. Lần thứ năm quẹt tất cả những que diêm còn lại trong bao.

chúng tôi phần đầu,chúng ta biết gì về gia cảnh của nhân vật cô bé bán diêm và không gian,thời gian xảy ra câu chuyện?Liệt kê những hình ảnh tương phản (đối lập,đặt gần nhau,làm nổi bật lẫn nhau)được nhà văn sử dụng trong phần này nhằm khắc họa nỗi cực khổ của cô bé

-Gia cảnh: +Mẹ chết, sống với bố, bà nội cũng đã qua đời. +Nhà nghèo, sống chui rúc trong một xó tối tăm, trên gác sát mái nhà. +Bố khó tính, em luôn luôn nghe những lời mắng nhiếc, chửi rủa. +Phải đi bán diêm kiếm sống. -Không gian,thời gian xảy ra câu chuyện: +Đêm giao thừa: gió rét, tuyết rơi. +Đường phố vắng vẻ.

3.Chứng minh rằng những mộng tưởng của cô bé qua các lần quẹt diêm diễn ra theo trình tự hợp lí.Trong số các mộng tưởng ấy,điều nào gắn với thực tế,đièu nào thuần túy chỉ là ảo mông?

-Các mộng tưởng diễn ra theo trình tự hợp lí: vì trời rét nên trước hết em nghĩ đến lò sưởi, tiếp đó, vì đói nên em nghĩ tới bàn ăn, sau đó vì hôm nay là giao thừa nên “cây thông Nôen” hiện ra, đến đây, em nhớ đến đã có một thời em cũng được đón giao thừa như thế, khi bà còn sống, thế là hình ảnh bà em xuất hiện. Thực tế và mộng tưởng xen kẽ với nhau: khi diêm cháy là lúc mộng tưởng hiện ra trong đầu em bé, khi diêm tắt là lúc em trở về với thực tại -Con ngỗng quay nhảy ra khỏi đĩa, hai bà cháu nắm tay nhau bay lên trời chỉ là mộng tưởng Các hình ảnh: lò sưởi, bàn ăn, cây thông Nôen gắn với thực tế

4.Phát biểu cảm nghĩ của em về truyện Cô bé bán diêm nói chung và về đoạn kết của chuyện nói riêng

“Sáng hôm sau, tuyết vẫn phủ kín mặt đất, nhưng mặt trời lên, trong sáng, chói chang trên bầu trời xanh nhợt. Mọi người vui vẻ ra khỏi nhà. Trong buổi sáng lạnh lẽo ấy, ở một xó tường, người ta thấy một em gái có đôi má hồng và đôi môi đang mỉm cười. Em đã chết vì giá rét trong đêm giao thừa. Ngày mồng một đầu năm hiện lên trên thi thể em bé ngồi giữa những bao diêm, trong đó có một bao đã đốt hết nhẵn. Chẳng ai biết những cái kì diệu em đã trông thấy và nhất là cảnh huy hoàng lúc hai bà cháu bay lên để đón lấy những niềm vui đầu năm”

– Em đã đi vào bầu ánh sáng vĩ đại, vào sống trong một thế giới của ánh sáng, tình thương, nơi ấy có người bà hiền hậu thân thương, có những lò sưởi ấm, những bữa ăn thịnh soạn, những cây thông trang hoàng rực rỡ, được sống trong sự bao dung chở che và lòng độ lượng nhân từ vô hạn của Chúa. Em đã vĩnh viễn thoát khỏi những đọa đày trên mặt đất đau thương, vĩnh viễn thoát khỏi những cơn đói hành hạ, thoát khỏi cái rét cắt da cắt thịt, khỏi nỗi cô đơn, bất hạnh. Em ra đi thanh thản và mãn nguyện “đôi má hồng và đôi môi đang mỉm cười”. Chắc hẳn gương mặt ấy sẽ còn ám ảnh độc giả bao thế hệ: cô bé ra đi trong niềm vui, sự bao dung, tha thứ. Cô mỉm cười từ giã tất cả, tha thứ tất cả: những lời chửi mắng thậm tệ, những trận đòn roi, những sự lạnh lùng vô cảm của con người…. Cô bé ra đi tựa như một thiên thần, sau khi chịu đựng những đọa đày thế gian đã được trở về với Chúa, về nước thiên đàng. Ở phương diện đó, kết thúc câu chuyện là một cái kết có hậu, ấm áp và đầy tính nhân văn. Andersen đã không dùng đôi cánh tưởng tượng để thoát li mà cúi sát xuống hiện thực khốc liệt của cuộc sống, để cảm thông và yêu thương những số phận bất hạnh, để nhận ra và trân trọng những ước mơ trong sáng, thánh thiện của con người.

– Nhưng không hẳn là một cái kết hoàn toàn có hậu. Truyện của Andersen khép lại nhưng lòng người đọc vẫn không nguôi băn khoăn, trăn trở, day dứt suy nghĩ về con người, cuộc đời, về tình người, tình đời. Nhà văn không né tránh hiện thực nghiệt ngã. Cô bé có tâm hồn trong sáng, thánh thiện ấy đã chết, chết trong chính đêm giao thừa, trong cái đói, cái rét hành hạ. Một năm mới sang hứa hẹn những khởi đầu mới nhưng cô bé đã kết thúc cuộc hành trình của mình tại chính ngưỡng cửa của năm mới. Chẳng có cơ hội, chẳng có tương lai nào cho em. Trước khi chết vì đói, vì rét, em đã chết vì chính sự lạnh lùng, vô cảm, tàn nhẫn, ích kỉ của con người. Em không dám về nhà vì sợ những lời chửi mắng, đánh đập của bố, em trơ trọi, bơ vơ, tuyệt vọng chống chọi với cái giá rét trước ánh mắt vô cảm, thờ ơ của những người qua đường, em cô đơn, buồn tủi khi mọi người vui vẻ, hân hoan đón chào năm mới, em nằm đó trong những lời đàm tiếu vô tâm của mọi người. Em từ giã cõi đời, giã từ cuộc sống vì không ai thương em, không ai che chở, bảo vệ em. Cái chết của em mãi để lại nỗi xót thương, niềm day dứt như một câu hỏi ám ảnh trong lòng mỗi người: làm sao để không bao giờ trên mặt đất này còn có những trẻ em bất hạnh như cô bé bán diêm ?

Văn Bản Cô Bé Bán Diêm

Ai đã từng đọc Cô bé bán diêm của nhà văn Đan Mạch An-đéc-xen hẳn sẽ không thể nào quên những ánh lửa diêm nhỏ nhoi bùng lên giữa đêm giao thừa giá rét gắn với một thế giới mộng tưởng thật đẹp của cô bé nghèo khổ. Kết cục câu chuyện thật buồn nhưng sức ám ảnh của những giấc mơ tuyệt đẹp vẫn ắp đầy tâm trí người đọc, người nghe qua những lời kể và sự miêu tả rất cuốn hút của An-đéc-xen.

Trong bóng tối và cái rét cắt thịt da của xứ sở Đan Mạch, ta như nhìn thấy rõ một cô bé đôi môi tím tái, bụng đói cồn cào đang lần từng bước chân trần trên hè phố. Một cô bé mồ côi khốn khổ, không dám về nhà vì chưa bán được bao diêm nào thì sẽ bị cha đánh. Nhà văn đã tạo ra cảm giác thật sống động khi ông nhập vào những khoảnh khắc tâm trạng của cô bé.

Ấn tượng đậm nét đầu tiên khơi lên mối cảm thương chính là hình ảnh cô bé như lọt thỏm giữa cái mênh mông của bóng đêm vào thời khắc sắp giao thừa. Khi “mọi nhà đều sáng rực ánh đèn và trong phố sực nức mùi ngỗng quay”, cô bé đã hồi tưởng lại quá khứ tươi đẹp khi bà nội hiền hậu còn sống. Ngôi nhà xinh xắn với những dây trường xuân trong những ngày đầm ấm tương phản với thực tại cuộc sống của hai cha con trong một xó tối tăm, sự nghèo khổ kéo theo những lời mắng nhiếc chửi rủa của người cha khi gia sản đã tiêu tán. Để nguôi cảm giác lạnh, em đã “ngồi nép trong một góc tường”, “thu đôi chân vào người” nhưng có lẽ chính nỗi sợ hãi còn mạnh hơn giá rét đã khiến em “càng thấy rét buốt hơn”. Em không thể về vì biết “nhất định cha em sẽ đánh em”. “Ở nhà cũng rét thế thôi”, điều đáng sợ nhất đối với cô bé không phải là thiếu hơi ấm mà là thiếu tình thương. Thật đáng thương khi thân hình bé nhỏ của em phải chống chọi vô vọng với cảm giác giá buốt bên ngoài và cái lạnh từ trong trái tim khiến “đôi bàn tay em đã cứng đờ ra”.

Lúc ấy, em chỉ ao ước một điều thật nhỏ nhoi: “Chà! Giá quẹt một que diêm mà sưởi cho đỡ rét một chút nhỉ?” nhưng dường như em cũng không đủ can đảm vì làm như vậy em sẽ làm hỏng một bao diêm không bán được. Nhưng rồi cô bé ấy cũng “đánh liều quẹt một que”, để bắt đầu cho một hành trình mộng tưởng vượt lên thực tại khắc nghiệt. Giấc mơ của em bắt đầu từ lúc nhìn vào ngọn lửa: “lúc đầu xanh lam, dần dần biến đi, trắng ra, rực hồng lên quanh que gỗ, sáng chói trông đến vui mắt”. Ánh sáng ấy đã lấn át đi cảm giác của bóng tối mênh mông, để hiện lên hình ảnh “một lò sưởi bằng sắt có những hình nổi bằng đồng bóng nhoáng”. Niềm vui thích của em đến trong ảo giác “lửa cháy nom đến vui mắt và toả ra hơi nóng dịu dàng”. Đó là ước mơ thật đơn giản trong khi thực tế lại phũ phàng “tuyết phủ kín mặt đất, gió bấc thổi vun vút… trong đêm đông rét buốt”. Ước ao được ngồi hàng giờ “trước một lò sưởi” cũng biến tan khi “lửa vụt tắt, lò sưởi biến mất”. Khoảnh khắc em “bần thần cả người” khi hình dung ra những lời mắng chửi của cha khiến ta phải nao lòng. Bóng tối lại phủ lên màu u ám trong tâm hồn em.

Có lẽ vì vậy, nhà văn đã để em tiếp tục thắp lên que diêm thứ hai, thắp lên niềm vui nhỏ nhoi dù chỉ là trong mộng tưởng. Không chỉ phải chống chọi với cái rét, cô bé còn phải cầm cự với cơn đói khi cả ngày chưa có miếng nào vào bụng. Bởi thế, ánh sáng rực lên của ngọn lửa diêm đã biến bức tường xám xịt thành “tấm rèm bằng vải màu”. Cái hạnh phúc trong những ngôi nhà ấm áp đã đến với em, khi em nhìn thấy : “Bàn ăn đã dọn, khăn trải bàn trắng tinh, trên bàn toàn bát đĩa bằng sứ quý giá, và có cả một con ngỗng quay”. Giá như tất cả những hình ảnh tưởng tượng biến thành hiện thực thì em sẽ vui sướng biết bao, khi “ngỗng nhảy ra khỏi đĩa” sẽ mang đến cho em bữa ăn thịnh soạn để vượt lên phút đói lả người. Nhưng một lần nữa, ảo ảnh lại vụt biến, em lại phải đối mặt với “phố xá vắng teo, lạnh buốt, tuyết phủ trắng xoá, gió bấc vi vu”. Không những thế, em còn chứng kiến sự thờ ơ ghẻ lạnh của những người qua đường, hình ảnh tương phản được nhà văn khắc họa làm ta nhói đau trước em bé bất hạnh.

Và một lần nữa, que diêm tiếp theo lại sáng bừng lên, để em được sống trong những giấc mơ đẹp nhất của một em bé. Trong một cuộc sống phải từng phút từng giây vật lộn mưu sinh, em đã phải từ giã những niềm vui được đùa chơi của con trẻ. Ánh sáng từ que diêm đã toả ra vầng hào quang lộng lẫy, cho em “một cây thông Nô-en”, như đem đến cho em một thiên đường của tuổi thơ: “Hàng ngàn ngọn nến sáng rực, lấp lánh trên cành lá xanh tươi và rất nhiều bức tranh màu sắc rực rỡ như những bức bày trong tủ hàng”. Điều trớ trêu nghiệt ngã là tất cả những hình ảnh tươi đẹp ấy em chỉ kịp nhìn nhưng không thể chạm tay vào, bởi lẽ tất cả chỉ là ảo ảnh, như những ngôi sao trên trời mà em không thể với tới. Trái tim ta như nghẹn lại cùng lời kể của nhà văn, bởi lẽ em bé đang dần kiệt sức và sắp phải gục ngã trước cái lạnh chết người của xứ sở bà chúa Tuyết.

Trong giây phút cuối cùng của đời em, có lẽ nhà văn không muốn người đọc phải chứng kiến một cái chết thảm thương vì rét, vì đói, vì thiếu tình thương và niềm vui trong cuộc đời khốn khổ của cô bé, nên đã cho em rất nhiều ánh lửa và niềm vui được gặp lại bà nội hiền hậu mà em rất mực kính yêu. Hình ảnh bà hiện lên trong những phút cuối cùng của em bé không hẳn là ảo ảnh mà chính là sự thực đã được nhìn qua tâm hồn thánh thiện của em. Bà em hiện ra với nụ cười như ban cho em diễm phúc được sống lại quãng đời ấm áp đầy tình thương thuở trước. Tiếng reo của em khi gặp lại bà cũng những lời cầu xin ngây thơ là tiếng nói cuối cùng của một người sắp giã từ trần thế. Em được sống với niềm vui trọn vẹn của riêng mình nhưng chúng ta có lẽ khó ai cầm được dòng nước mắt: “Dạo ấy, bà đã từng nhủ cháu rằng nếu cháu ngoan ngoãn, cháu sẽ được gặp lại bà, bà ơi! Cháu van bà, bà xin Thượng đế chí nhân cho cháu về với bà. Chắc Người không từ chối đâu.”. Trong lời tâm sự ấy, ta hiểu được sự thực về cuộc đời nghiệt ngã và bất công mà em đang hứng chịu. Điều em cần chính là tình thương thật sự trong một thế giới bao dung và nhân hậu. Bởi thế, cái chết đối với em không còn là một điều đáng sợ. Em được về với bà, đến một thế giới khác “chẳng còn đói rét, buồn đau nào đe doạ”. Nhà văn đã để chính đôi tay bé nhỏ của em thắp lên Ánh sáng – “diêm nối nhau chiếu sáng như giữa ban ngày” – để em được thấy bà em “to lớn và đẹp lão” đến đón em cùng bay vào thế giới ước mơ trong ánh sáng huy hoàng xua hết tối tăm đè nặng cuộc đời em.

Câu chuyện kết thúc. Ngày mới lại bắt đầu, “mặt trời lên, trong sáng, chói chang trên bầu trời xanh nhợt”. Sự sống vẫn tiếp diễn, mọi người đón “ngày mồng một đầu năm hiện lên trên thi thể em bé ngồi giữa những bao diêm”, nhìn em để buông ra lời nhận xét thờ ơ: “chắc nó muốn sưởi cho ấm”. Không ai được biết những cái kỳ diệu em đã trông thấy, chỉ duy nhất một người chứng kiến được “cảnh huy hoàng lúc hai bà cháu bay lên để đón lấy những niềm vui đầu năm”, đó chính là nhà văn. Ông đã cúi xuống nỗi đau của một em bé bất hạnh, kể cho ta nghe câu chuyện cảm động này bằng tất cả tình yêu thương vô bờ bến đối với trẻ thơ và những con người nghèo khổ. An-đéc-xen đã cất lên tiếng nói cảnh tỉnh những trái tim đông cứng như băng giá, gửi bức thông điệp của tình thương đến với mọi người.

nguồn google

Soạn Bài: Cô Bé Bán Diêm (Trích)

1. Hãy xác định ba phần của văn bản này nếu lấy việc em bé quẹt những que diêm làm phần trọng tâm. Căn cứ vào đâu để có thể chia phần thứ hai (phần trọng tâm) thành những đoạn nhỏ hơn ?

2. Qua phần đầu, chúng ta được biết gì về gia cảnh của nhân vật cô bé bán diêm và thời gian, không gian xảy ra câu chuyện ? Liệt kê những hình ảnh tương phản (đối lập, đặt gần nhau, làm nổi bật lẫn nhau) được nhà văn sử dụng trong phần này nhằm khắc họa nỗi khổ cực của cô bé.

3. Chứng minh rằng những mộng tưởng của cô bé qua các lẫn quẹt diêm (lò sưởi, bàn ăn, cây thông Nô-en, người bà, hai bà cháu bay đi) diễn ra theo thứ tự hợp lí. Trong số các mộng tưởng ấy, điều nào gắn với thực tế, điều nào thuần túy hay chỉ là mộng tưởng ?

4. Phát biểu những cảm nghĩ của em về truyện Cô bé bán diêm nói chung và về đoạn kết của truyện nói riêng.

Câu 1 trang 68 – SGK Ngữ Văn 8 tập 1 : Hãy xác định ba phần của văn bản này nếu lấy việc em bé quẹt những que diêm làm phần trọng tâm. Căn cứ vào đâu để có thể chia phần thứ hai (phần trọng tâm) thành những đoạn nhỏ hơn ?

Nếu lấy việc em bé quẹt những que diêm là trọng tâm thì có thể chia làm ba phần.

– Phần 1 : Từ đầu đến đã cứng đờ ra : Hoàn cảnh của cô bé bán diêm và việc cô bé không dám về nhà.

– Phần 2 : Tiếp đến về chầu Thượng đế : Những lần quẹt diêm và những mộng tưởng của em bé.

– Phần 3 : Còn lại : Cái chết của em bé và thái độ của mọi người.

Việc chia phần thứ hai thành những đoạn nhỏ hơn căn cứ vào những lần quẹt diêm của em bé. Ba lần quẹt diêm để em được thấy ấm áp, được mơ thấy thức ăn và đồ chơi. Lần thứ tư là em thấy bà em. Lần thứ năm, em đã quẹt cả bao diêm để níu giữ hình ảnh của bà.

Câu 2 trang 68 – SGK Ngữ Văn 8 tập 1 :

– Hoàn cảnh cô bé bán diêm: Mẹ chết, sống với bố, bà nội cũng qua đời. Nhà nghèo, sống “chui rúc trong xó tối tăm”, “trên gác sát mái nhà”… Bố “khó tính”, em “luôn luôn nghe những lời mắng nhiếc chửi rủa”. Phải đi bán diêm để kiếm sống.

– Truyện được đặt vào bối cảnh đêm giao thừa, noài đường phố rét buốt. Em bé ” ngồi nép trong một góc tường…” mong cho đỡ lạnh, nhưng không ăn thua gì!

– Các hình ảnh tương phản:

+ Em đói mà trong phố sực nức mùi ngỗng quay.

+ Hình ảnh “Cái xó tối tăm” em sống chui rúc với bố hiện nay và “ngôi nhà xinh xắn…” năm xưa khi bà bội em còn sống.

Câu 3 trang 68 – SGK Ngữ Văn 8 tập 1 : Chứng minh rằng những mộng tưởng của cô bé qua các lẫn quẹt diêm (lò sưởi, bàn ăn, cây thông Nô-en, người bà, hai bà cháu bay đi) diễn ra theo thứ tự hợp lí. Trong số các mộng tưởng ấy, điều nào gắn với thực tế, điều nào thuần túy hay chỉ là mộng tưởng ?

Những mộng tưởng của cô bé mỗi lần quẹt diêm diễn ra rất hợp lí. Trước hết em đang rét, nên em muốn có lò sưởi để sưởi ấm. Sau đó, em đang đói, nên mong ước có bàn ăn để được ăn. Khi đã được ấm no trong tưởng tượng, em mới ao ước đồ chơi trên cây thông Nô-en. Và đón năm mới, em nghĩ đến người bà hiền hậu của mình. Em đã quẹt cả bao diêm để được ở với bà.

Trong số các mộng tưởng ấy, những điều gắn với thực tế là lò sưởi, bàn ăn, cây thông Nô-en. Những điều thuần túy chỉ là mộng tưởng là ngỗng quay nhảy khỏi đĩa, mang cả dao ăn, phuốc sét cắm trên lưng tiến về phía em bé. Một điều hoàn toàn mộng tưởng ấy là bà em đang mỉm cười với em, bà cầm lấy tay em, bà cháu bay vụt lên cao, cao mãi…

Câu 4 trang 68 – SGK Ngữ Văn 8 tập 1 : Phát biểu những cảm nghĩ của em về truyện Cô bé bán diêm nói chung và về đoạn kết của truyện nói riêng.

– Em bé thật tội nghiệp. Người đời đối xử với em quá lạnh lùng, chỉ có mẹ và bà thương yêu em, nhưng đã qua đời. Cha em vì nghèo khổ quá nên đối xử với em thiếu tình thương, khách qua đường không đoái hoài đến lời chào hàng của em nên em không bán được bao diêm nào… Những người nhìn thấy thi thể em vào sáng ngày mồng một Tết cũng lạnh lùng như thế.

– Trong cái xã hội thiếu tình thương, nhà văn An-đec-xen đã viết truyện này với tất cả niềm thông cảm, thương yêu đối với em bé bất hạnh. Kết thúc tưởng như có hậu nhưng rõ ràng truyện Cô bé bán diêm và phần cuối của nó là ” một cảnh thương tâm”.

Đọc Hiểu Văn Bản: Cô Bé Bán Diêm

Câu chuyện kể về một cô bé bán diêm mồ côi mẹ từ nhỏ trong đêm giao thừa tuyết rơi lạnh giá cố bán những bao diêm. Cả ngày nay cô bé phải đi qua nhiều con phố nhưng không bán được bao nào, cái lạnh, cái đói làm em kiệt sức. Nhưng em lại không thể quay về nhà được vì sợ bị đòn. Ngồi nép vào góc tường em rút những que diêm trong bao ra đốt để sưởi ấm. Quẹt que diêm thứ nhất,lò sưởi hiện ra,que thứ hai vụt cháy em thấy đồ ăn thơm ngon,rồi que thứ ba em thấy cây thông noel rực rỡ đẹp đẽ , que cuối cùng em được gặp được người bà hiền hòa nhân hậu. Em đã quẹt hết chỗ diêm mà mình có để được nhìn thấy bà. Em ra đi nhưng trên môi em vẫn còn giữ lại nụ cười vì trong mơ em đã được gặp bà.

Văn bản chia làm 3 phần

– Phần 1: từ đầu đến cứng đờ ra (hoàn cảnh đáng thương của cô bé bán diêm)

– Phần 2: tiếp theo đến chầu Thượng đế ( bốn lần quẹt diêm và điều ước sâu trong lòng em)

– Phần 3: còn lại.( em bé đang thương ra đi trong sự bình thản)

Soạn bài Cô bé bán diêm 3 cách

Hãy xác định ba phần (chỗ bắt đầu, chỗ kết thúc từng phần) của bài này nếu lấy việc em bé quẹt từng que diêm làm phần trọng tâm. Căn cứ vào đâu đế có thể chia phần thứ hai (phần trọng tâm) thành những đoạn nhỏ hơn?

Chia 3 phần như phần bố cục

– Căn cứ vào những lần quẹt diêm của cô bé để xác định những đoạn nhỏ:

+ Ba lần quẹt diêm đầu tiên của cô bé thấy lò sưởi,đồ chơi,thức ăn: ước muốn bình thường giản dị của cô bé được như những đứa trẻ khác.

+ Lần thứ tư quẹt diêm có bé nhìn thấy bà: khát khao của cô bé muốn được bảo vệ

+ Cô bé đốt hết chỗ diêm mình có để níu giữ hình ảnh của bà.

– Căn cứ vào từng lần quẹt diêm của cô bé bán diêm để chia phần trọng tâm thành các đoạn nhỏ.

+ Lần thứ nhất: chiếc lò sưởi xuất hiện

+ Lần thứ hai: bàn ăn thịnh soạn hiện lên

+ Lần thứ ba: cây thông nô-el rực rỡ hiện ra

+ Lần cuối cùng: người bà yêu quý của em xuất hiện

Có thể chia thành 3 phần như sau:

– Đoạn 1: Từ đầu đến “cứng đờ ra” : Nói về hoàn cảnh của cô bé bán diêm

– Đoạn 2: Tiếp đến “Thượng đế”: Những lần quẹt diêm và mộng tưởng của cô bé

– Đoạn 3: Còn lại: Cái chết thương tâm của cô bé.

– Phần trọng tâm có thể chia thành những đoạn nhỏ dựa trên những lần quẹt diêm của em bé. Mỗi lần quẹt diêm là một đoạn nhỏ hơn.

Trong phần đầu, nhà văn đã tạo dựng hoàn cảnh (gia đình, cuộc sống) và bối cảnh (thời gian, không gian) của em bé bán diêm như thê nào? Những hình ảnh tương phản (đối lập, đặt gần nhau, làm nổi bật lẫn nhau) ở đây được thế hiện ra sao và nhằm mục đích nghệ thuật cụ thể gì?

Hoàn cảnh cô bé bán diêm rất đáng thương:nhà nghèo,mồ côi mẹ từ nhỏ,bà ngoại mất sớm,cô sống với người cha trên căn gác sát mái nhà,cha cô bé suốt ngày uống rượu đánh đập cô bé. Ngày giáng sinh cô bé vẫn phải đi bán. Cô bé có những ước mơ nhỏ nhoi nhưng ngoài hiện thực không có. Để rồi em ra đi trong cái lạnh của ngày tuyết rơi.

– Những hình ảnh đối lập được nhà văn sử dụng nhằm khắc họa nỗi khổ của cô bé:

Mất đi mẹ và bà ngoại làm những tháng ngày của cô bé trở nên đáng thương.

– Gia cảnh của nhân vật:

+ Trước kia: khá giả, sống cùng ngoại trong ngôi nhà đẹp có bức tường xuân bao quanh

+ Hiện tại: bị tiêu sản, ngoại mất, mồ côi mẹ, nhà nghèo, sống trong xó xỉnh tối tăm, ngày ngày phải đi bán diêm kiếm sống, sống cùng người cha tệ bạc, hay chửi mắng, đập đánh em.

– Thời gian xảy ra câu chuyện: Vào đêm giao thừa

– Không gian: trên con đường tối tăm, em đi trong bóng tối khi mà những ngôi nhà trong phố đều sáng rực những ánh điện, sực những mùi ngỗng quay,

– Những hình ảnh tương phản:

a. Hoàn cảnh:

– Bà nội và mẹ đã qua đời

– Sống với bố khó tính – hay chửi mắng

– Nhà nghèo, nơi tối tăm

– Phải đi bán diêm để kiếm sống

b. Bối cảnh của truyện:

– Thời gian: vào đêm giao thừa

c. Các hình ảnh tương phản:

Các mộng tưởng của em bé qua các lần quẹt diêm (lò sưởi, bàn ăn, cây thông Nô-en, người bà, hai bà cháu bay đi) diễn ra lần lượt có hợp lí không? Vì sao? Trong các mộng tưởng ấy, diều nào gắn với thực tế, điều nào thuần túy chỉ là tưởng tượng?

Mộng tưởng của cô bé bán diêm diễn ra theo trình tự hợp lý:

+ Đầu tiên trong sự lạnh lẽo của những bông tuyết cô ước có cái lò sưởi để được cảm nhận sự ấm áp.

+ Có được sự ấm áp, cô bé thấy đói, vì cô đã nhịn rất lâu rồi.

+ Bàn thức ăn biến mất làm cô nhớ đến sự đẹp đẽ đêm giáng sinh là cả nhà được quây quần bên cây thông noel.

+ Cô gặp được người bà hiền hậu, mà mỉm cười với cô.

+ Cảnh hai bà cháu nắm chặt tay nhau bay lên trời: thoát khỏi những đau buồn.

– Mộng tưởng gắn với thực tế: là sự ấm áp của lò sưởi, món ngỗng quay thơm ngon, cây thông được trang trí đẹp đẽ.

– Mộng tưởng thuần túy là gặp được người bà thân thương.

Những mộng tưởng của cô bé bán diêm là những mộng tưởng chung của tất cả những đứa trẻ đồng cảnh ngộ thời bấy giờ khao khát cuộc sống ấm no hạnh phúc bên gia đình.

Ba lần mộng tưởng đầu tiên đều gắn với thực tế

Lần cuối cùng em được gặp bà là mộng tưởng.

Các mộng tưởng của em bé diễn ra lần lượt theo thứ tự hợp lý:

– Lần 1: Vì trời rét

– Lần 2: Vì bụng đói

– Lần 3: Đó đó là đêm giao thừa

– Lần 4: Trong giờ phút hạnh phúc đó bà đã hiện về đêm đến cho em tình yêu thương thuở nào.

– Lần 5: Em muốn níu bà lại, muốn đi với bà …

– Các mộng tưởng lò sưởi, bàn ăn, cây thông noel gắn liền với thực tế em bé đang rất cần. Còn hình ảnh con ngỗng quay bay ra khỏi đĩa và hình ảnh 2 bà cháu nắm tay nhau bay lên trời thì thuần túy là mộng tưởng. Mong ước hạnh phúc chính đáng đối với thân phận bất hạnh của em.

Câu 4 (trang 68 Ngữ Văn 8 Tập 1)

Hãy phát biếu những cảm nghĩ của mình về truyện “Cô bé bán diêm” (trích), nói chung và về đoạn kết của truyện nói riêng.

Cảm nghĩ về cô bé bán diêm: một cô bé nhỏ đáng thương. Ở cái tuổi đáng ra nhận được sự yêu thương chăm sóc từ gia đình nhưng phải bươn chải kiếm tiền qua ngày cho người cha, lại còn hay bị ông ta la mắng, đánh đập. Cô bé luôn mơ ước có được cuộc sống no ấm,sum vầy bên gia đình,muốn được vui chơi đúng với lứa tuổi của em. Cô bé ra đi, để lại cho mọi người sự bàng hòng và thức tỉnh.

– Cảm nghĩ về đoạn kết: Hình ảnh cô bé bán diêm ra đi dưới cái lạnh trogn đêm tuyết rơi nhưng nụ cười vẫn đọng trên môi- đó là hình ảnh tác giả tưởng tượng đưa vào câu chuyện giúp giảm bớt sự đau thương. Cái chế có lẽ là một sự giải thoát cho em, tác giả miêu tả cảnh hai bà cháu nắm tay nhau bay về trời. Một cái kết mang màu sắc cổ tích mặc dù bi thương nhưng vẫn có gì đó thật đẹp đẽ. Hi vọng em sẽ tìm được hạnh phúc ấm áp ở nơi xa.

Em bé bán diêm đã chết, em chết vì đói rét. Cái chết của em được miêu tả nhẹ nhàng, thanh thản, đó là cái chết của một con người toại nguyện “đôi má hồng và đôi môi mỉm cười” bởi em đã được về với bà ở một thế giới khác không còn buồn đau và đói rét. Em thật tội nghiệp, người đời đối xử với em tệ quá, bà và mẹ là người thương em nhưng đều đã mất,. Người cha đối xử với em thiếu tình thương, khách qua đường chẳng đoái hoài đến em, những người nhìn thi thể em vào ngày mùng một cũng lạnh lùng như thế.

Đọc truyện Cô bé bán diêm em cảm thấy buồn và xót xa cho số phận của một cô bé đầy trái ngang. Vốn là một đứa trẻ được sống trong sự ấm êm, yêu thương nhưng rồi cuộc đời đã đưa đẩy em vào cảnh phải bán từng bao diêm kiếm sống. Không may mắn được phúc phần yêu thương từ bố mẹ, em còn chịu sự vô tâm từ những người qua đường. Họ đều thấy em, nhưng không ai động lòng mà trao cho em chiếc áo, đưa em chiếc bánh đỡ đói, mua giùm em bao diêm,….Cuối cùng, em đã chết vì lạnh, vì đói, vì rét và chết bởi cả sự ích kỷ của con người. Cái chết ấy như một sự giải thoát cho em khỏi cuộc đời vô vàn những khổ cực, đớn đau mà chính em phải gặm nhấm, gánh chịu từng ngày. Câu chuyện bồi đắp cho tâm hồn em sự yêu thương, cảm thông với những người sinh ra không may mắn, em hiểu và trân trọng hơn giá trị của tình người trong cuộc đời.

**Đoạn kết câu chuyện nói về cái chết của em bé bán diêm. Khi chết, trên khuôn mặt em đôi môi vẫn mỉm cười, đôi má em ửng hồng như một sự mãn nguyện của cô bé khi được đến bên người bà yêu quý. Qua từng lời văn, ta thấy được sự xót xa, thương cảm của nhà văn trước nỗi bất hạnh của cô bé.

Tác phẩm cho thấy sự đồng cảm của tác giả đối với những số phận đáng thương trong xã hội.