Văn Bản Cố Hương Facebook / Top 5 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 1/2023 # Top View | Bac.edu.vn

Soạn Bài Cố Hương (Siêu Ngắn)

Soạn bài Cố hương

Bố cục

– Phần 1 (từ đầu đến “đang làm ăn sinh sống”): Suy nghĩ của nhân vật tôi trên đường về quê.

– Phần 2 (tiếp theo đến “xấu tốt đều mang đi sạch trơn như quét”): Những ngày nhân vật tôi ở quê và đau xót trước sự thay đổi của quê cũ, người cũ.

– Phần 3 (đoạn còn lại): Suy nghĩ của nhân vật tôi trên đường xa quê, quay trở lại nơi đang sinh sống.

Tóm tắt

Cố hương là câu chuyện về chuyến hành hương của nhân vật tôi sau hơn hai mươi năm xa quê chuyển đi nơi khác làm ăn sinh sống. Sau ngần ấy thời gian trở về quê, nhân vật tôi đau xót nhận ra sự thay đổi theo chiều hướng xấu của quê hương, của những người đồng hương cũ, đặc biệt là người bạn thân thuở nhỏ tên Nhuận Thổ. Nhân vật tôi buồn bã rời quê hương với niềm hi vọng cho một tương lai tươi sáng hơn ở nơi đây.

Soạn bài

Câu 1 (trang 218 Ngữ Văn lớp 9 Tập 1):

– Phần 1 (từ đầu đến “đang làm ăn sinh sống”): Suy nghĩ của nhân vật tôi trên đường về quê.

– Phần 2 (tiếp theo đến “xấu tốt đều mang đi sạch trơn như quét”): Những ngày nhân vật tôi ở quê và đau xót trước sự thay đổi của quê cũ, người cũ.

– Phần 3 (đoạn còn lại): Suy nghĩ của nhân vật tôi trên đường xa quê, quay trở lại nơi đang sinh sống.

Câu 2 (trang 218 Ngữ Văn lớp 9 Tập 1):

– Trong truyện có 2 nhân vật chính: Nhân vật tôi (tác giả), Nhuận Thổ

– Nhân vật Nhuận Thổ là nhân vật trung tâm vì đây là nhân vật thể hiện rõ nhất sự thay đổi của làng quê đã ảnh hưởng đến đời sống con người như thế nào

Câu 3 (trang 218 Ngữ Văn lớp 9 Tập 1):

– Tác giả đã sử dụng biện pháp nghệ thuật so sánh đối chiếu để làm rõ sự thay đổi ở nhân vật Nhuận Thổ

– Ngoài sự thay đổi của Nhuận Thổ tác giả còn miêu tả sự thay đổi về cảnh vật quê hương, sự sa sút về kinh tế, sự thay đổi trong tính cách của con người chị Hai Dương bán đậu phụ cạnh cửa ngày xưa. Sự thay đổi trong mối quan hệ giữa tác giả với Nhuận Thổ

– Qua đó thể hiện tình cảm chua xót, tiếc nuối trước những giá trị của quê hương đã bị mất đi, đồng thời phê phán xã hội phong kiến đã làm thay đổi những bản chất tốt đẹp của con người

Câu 4 (trang 218 Ngữ Văn lớp 9 Tập 1):

– Tác giả muốn làm nổi bật mối quan hệ gắn bó giữa mình với Nhuận Thổ thời thơ ấu, và sự thay đổi của Nhuận Thổ sau hơn 20 năm gặp lại

– Đoạn a, b chủ yếu sử dụng phương thức tự sự. Ngoài tự sự ra tác giả còn sử dụng phương thức miêu tả. Sự kết hợp giữa hai phương thức này tạo ra sự so sánh đối chiếu để người đọc nhận ra được sự thay đổi của Nhuận Thổ

– Đoạn c chủ yếu sử dụng phương thức nghị luận. Thông qua đó tác giả đặt ra vấn đề con đường đi của nông dân.

Luyện tập

Bài giảng: Cố hương – Cô Nguyễn Ngọc Anh (Giáo viên VietJack)

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k6: chúng tôi

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Các bài Soạn văn lớp 9 siêu ngắn được biên soạn bám sát câu hỏi sgk Ngữ Văn lớp 9 Tập 1, Tập 2 giúp bạn dễ dàng soạn bài Ngữ Văn 9 hơn.

Hướng Dẫn Soạn Bài Cố Hương

Lỗ Tấn

I. TÁC GIẢ – TÁC PHẨM 1.Tác giả :

Lỗ Tấn (1881-1936) tên thật là Chu Thụ Nhân, quê ở phủ Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang, miền Đông Nam Trung Quốc. Ông là nhà văn cách mạng lỗi lạc của Trung Quốc thế kỉ XX. “Trước Lỗ tấn chưa hề có Lỗ Tấn; sau Lỗ Tấn có vô vàn Lỗ Tấn” (Quách Mạt Nhược).

2.Tác phẩm :

Cố hương là một trong những truyện ngắn tiêu biểu của nhà văn Trung Quốc kiệt xuất, Lỗ Tấn (1881-1936). Tác phẩm xuất bản lần đầu năm 1921, sau được in trong tập Gào thét (1923). Thông qua những điều mắt thấy tai nghe trong một chuyến về quê sau hai mươi năm xa cách và những hồi ức về cảnh sắc và con người của cố hương, nhân vật “tôi” đã bộc lộ những nỗi xót xa buồn bã về đất nước Trung Hoa dưới chế độ phong kiến tàn bạo, lỗi thời. Cũng chính từ đó, trong tâm tưởng của “tôi” trào dâng niềm hy vọng về một tương lai : thế hệ trẻ phải sống một cuộc đời mới, một cuộc đời mà chúng tôi chưa từng được sống.

II. HƯỚNG DẪN TÌM HIỂU BÀI

1. Có thể hình dung bố cục của truyện thành ba phần:

– Phần đầu là hành trình trở về làng quê của nhân vật “tôi” (Tấn) – ngư­ời kể chuyện (từ đầu cho đến “đang làm ăn sinh sống”).

– Phần giữa là những ngày “tôi” ở làng quê để từ biệt (từ “Tinh mơ sáng hôm sau” cho đến “xấu tốt đều mang đi sạch trơn như­ quét”).

– Phần cuối là “tôi” và gia đình trên đường ra đi (từ “Thuyền chúng tôi thẳng tiến” cho đến hết).

2. Tác giả phản ánh từ đó phê phán sự sa sút của nông thôn phong kiến chủ yếu thông qua hai nhân vật Nhuận Thổ và Hai Dư­ơng. Niềm hi vọng đ­ợc gửi gắm vào hình tượng hai cháu bé Hoàng và Thuỷ Sinh. Câu chuyện về chuyến từ biệt làng quê được kể từ nhân vật Tấn – x­ưng “tôi”. Câu chuyện thấm đẫm những trạng thái cảm xúc buồn vui của “tôi”, đồng thời thể hiện một quan điểm mới về cuộc sống qua những chiêm nghiệm, suy ngẫm giàu tính triết lí của nhân vật này.

Không phải khi gặp lại và chứng kiến những thay đổi của Nhuận Thổ nên Tấn mới buồn mà cái buồn đã bao trùm ngay từ đầu truyện, trong chặng đư­ờng trở về quê h­ương. Có vẻ buồn của một người trở về “vĩnh biệt ngôi nhà yêu dấu và từ giã làng cũ thân yêu, đem gia đình đến nơi đất khách”, song nỗi buồn trĩu nặng tâm can là nỗi buồn tr­ớc cảnh làng quê: “thôn xóm tiêu điều, hoang vắng, nằm im lìm d­ưới vòm trời vàng úa”. Khung cảnh ấy làm dấy lên nỗi nghi hoặc thầm dự cảm về những chuyện buồn rồi đây sẽ gặp ở quê h­ương: “hẳn làng cũ của mình vốn chỉ như­ thế kia thôi, tuy chư­a tiến bộ hơn x­ưa, như­ng cũng vị tất đến nỗi thê l­ương nh­ư mình t­ưởng. Chẳng qua là tâm mình đã đổi khác…”. Sự t­ương phản giữa “tôi” xư­a và tôi “nay” trong cảm nhận còn xuyên suốt thiên truyện.

3. Có thể thấy sự thay đổi sa sút của quê hư­ơng “tôi” ở sự biến dạng của Nhuận Thổ. Tác giả tạo ra sự t­ương phản trong thời gian quá khứ và hiện tại để lột tả những thay đổi đáng buồn của Nhuận Thổ, ng­ười đã từng là bạn với Tấn từ thủa thiếu thời. Trong kí ức “tôi” sống dậy những hình ảnh tuyệt đẹp của quá khứ thần tiên hơn hai m­ươi năm tr­ước, trong đó nổi bật hình ảnh một Nhuận Thổ khoẻ khoắn, lanh lợi “cổ đeo vòng bạc, tay lăm lăm cầm chiếc đinh ba”, “n­ước da bánh mật” với biết bao chuyện lạ, bao điều kì thú. Đối lập với một Nhuận Thổ hiện tại già nua, thô kệch, nặng nề, da dẻ “vàng xạm, lại có thêm những nếp nhăn sâu hoắm”. Nhuận Thổ bây giờ sống trong một tình cảnh bi đát: “Con đông, mùa mất, thuế nặng, lính tráng, trộm c­ướp, quan lại, thân hào đày đoạ thân anh khiến anh trở thành đần độn, mụ mẫm đi!”. Khi xưa, lúc hai ng­ời bạn phải chia tay: “Lòng tôi xốn xang, tôi khóc to lên”, Nhuận Thổ “cũng khóc mà không chịu về”. Bây giờ gặp lại bạn cũ Nhuận Thổ “Bẩm ông!” khiến Tấn điếng ng­ời và cảm thấy đã có “một bức t­ường khá dày ngăn cách”. Bức t­ường ngăn cách ấy khiến ngư­ời khổ không thể giãi bày, ng­ời sư­ớng hơn không thể chia sẻ. Cuộc sống buồn thảm, con ngư­ời buồn thảm, tình bạn cũng buồn thảm!

4. Duy chỉ có vẻ chân thật trong Nhuận Thổ là thoát đ­ược sự sa sút, biến dạng: “Ngày đông tháng giá, chẳng có gì. Đây chỉ là ít đậu xanh của nhà phơi khô, xin ông…”. Giá như­ không có cái điệu bộ khúm núm, không có những sáo ngữ thưa gửi thì đã không đáng buồn đến thế.

Thực trạng thê thảm của làng quê còn đ­ược tác giả phơi bày khi ông xây dựng nhân vật Hai Dư­ơng. Thái độ của ng­ười kể chuyện lộ rõ sự châm biếm khi nói về con ng­ười này. Đó là một ng­ười đàn bà “trên dư­ới năm m­ươi tuổi, l­ưỡng quyền nhô ra, môi mỏng dính”, với bộ dạng “hai tay chống nạnh, không buộc thắt l­ưng, chân đứng chạng ra, giống hệt cái com-pa trong bộ đồ vẽ, có hai chân bé tí”. Người đàn bà đã từng đ­ược mệnh danh là “nàng Tây Thi đậu phụ” này lộ rõ tính cách hợm hĩnh, l­ưu manh khi bịa đặt kể công bế ẵm Tấn và chỉ chực dòm ngó chôm chỉa đồ đạc. Và còn những con ngư­ời khác của cái làng quê ấy cũng thật đáng buồn: “Kẻ đến đư­a chân, ngư­ời đến lấy đồ đạc. Có kẻ vừa đư­a chân, vừa lấy đồ đạc.”. Tất cả đ­ược bày ra như­ biểu thị sự tha hoá của con ngư­ời.

Cho nên, ta mới hiểu tại sao kẻ từ biệt quê h­ương ra đi mà lòng lại không chút l­ưu luyến nh­ư thế. Làng quê x­a đẹp đẽ là vậy, những con người khi x­a đáng yêu là vậy mà hiện tại chỉ còn là những hình ảnh biến dạng, sa sút. Ng­ười ra đi chỉ còn thấy lẻ loi, ngột ngạt trong bốn bức t­ường vô hình, cao vọi. Ấn t­ượng đẹp đẽ về quê hư­ơng đã tan vỡ, hình ảnh ngư­ời bạn “oai hùng, cổ đeo vòng bạc” vốn rõ nét là thế mà trong thời khắc từ biệt đã trở nên mờ nhạt, ảo não.

Nh­ưng đó không phải là những hình ảnh khép lại thiên truyện. Những triết lí sâu sắc về hi vọng trong cuộc sống con ngư­ời vốn đã đ­ợc ­ươm mầm từ khi tác giả xây dựng hình tượng hai bé Hoàng và Thuỷ Sinh. Khi Tấn sống với dòng hồi ức tuổi thơ, anh đã nhận ra: “Tôi cảm thấy tựa hồ tôi đã tìm ra được quê h­ương tôi đẹp ở chỗ nào rồi.”. Quê h­ương đẹp ở những kỉ niệm của thời niên thiếu oai hùng, thần tiên. Bây giờ, Hoàng và Thuỷ Sinh thấy khoan khoái khi ở bên nhau, chúng thân thiết với nhau, không “cách bức” nh­ư Tấn và Nhuận Thổ. Cuộc sống mới phải đư­ợc bắt đầu từ những tấm lòng trẻ trong trắng, hoà đồng. Tấn nghĩ đến cuộc sống t­ương lai và khẳng định: “Chúng nó cần phải sống một cuộc đời mới, một cuộc đời mà chúng tôi ch­a từng đ­ược sống”. Thực tại còn u ám, thê l­ương. Nhuận Thổ xin chiếc lư­ hư­ơng và đôi đèn nến để thờ cúng, cũng là để cầu nguyện cho cuộc sống tốt đẹp hơn. Còn “tôi” cũng đang hi vọng và mong ­ước những điều đẹp đẽ cho tương lai thế hệ trẻ. Những câu văn kết thúc thiên truyện chợt trở nên thâm trầm, triết lí: “đã gọi là hi vọng thì không thể nói đâu là thực, đâu là hư­. Cũng như­ những con đường trên mặt đất; kì thực trên mặt đất vốn làm gì có đư­ờng. Ng­ười ta đi mãi thì thành đư­ờng thôi.”

5. Cái hi vọng là cái chư­a có, không ai hi vọng cái đang có bao giờ! Cái hi vọng cũng không là cái đã từng có, ngư­ời ta phải hư­ớng tới những cái mới, tốt đẹp hơn. Cảnh tượng đẹp đẽ có phần giống những hình ảnh trong hồi ức tuổi thơ của Tấn với Nhuận Thổ hiện ra khi anh đang mơ màng là thực. Trong cuộc đời mới của thế hệ Hoàng – Thuỷ Sinh ngay cả vẻ đẹp ấy cũng sẽ khác. Cuộc đời mới ấy còn ở phía tr­ước, có thể là xa vời, nh­ưng con người cứ mong ư­ớc, mongư­ớc mãi để có đư­ợc nó. Rồi cuộc sống mới ấy cũng sẽ đến, đúng nh­ư chân lí về sự hình thành của những con đư­ờng trên mặt đất vậy.

Tóm Tắt Truyện Ngắn Cố Hương Của Nhà Văn Lỗ Tấn.

Sau 20 năm trời đi xa, tôi phải vượt qua hai nghìn dặm về thăm quê. Đang độ giữa đông, trời lạnh giá. Gió lùa khoang thuyền vi vu. Gần về đến làng cũ, trời càng u ám, xa gần thấp thoáng xóm thôn tiêu điều, hoang vắng… im lìm nằm dưới vòm trời vàng úa. Lòng tôi se lại.

Có phải làng cũ tôi không? Làng cũ tôi đẹp hơn kia! về thăm chuyến này, lòng mình vốn không vui, nên tôi mới thấy thê lương như vậy. Về thăm chuyến này là để từ giã ngôi nhà cũ nơi cả đại gia đình chúng tôi đời đời ở chung với nhau, vĩnh biệt ngôi nhà cũ đã bán cho người ta rồi, từ giã làng cũ thân yêu đem gia đình đến sinh sống nơi đất khách quê người.

Tinh mơ sáng hôm sau, tôi về tới cổng nhà. Tôi vừa bước vào gian nhà cũ yêu dấu thì mẹ tôi và cháu Hoàng mới lên 8 tuổi chạy ra đón. Mẹ rất mừng rỡ, nhưng nét mặt vẫn ẩn một nỗi buồn thầm kín. Mẹ bảo tôi ngồi xuồng nghỉ ngơi, uống trà. Cháu Hoàng đứng đằng xa, nhìn tôi chòng chọc.

Sau đó, mẹ và tôi bàn đến chuyện dọn nhà bán đồ đạc. Mẹ nhắc tôi nghỉ ngơi vài hôm rồi đi thăm bà con trước lúc lên đường. Mẹ nhắc đến anh Nhuận Thổ, mẹ đã nhắn lên, có lẽ anh ấy cũng sắp đến. Câu chuyện mẹ nói làm hiện lên trong ký ức tôi hình ảnh một đứa bé trạc mười một, mười hai tuổi, cổ đeo vòng bạc, tay cầm đinh ba, đang cố sức đâm theo một con “tra”… Đứa bé ấy chính là Nhuận Thổ, quê ở vùng biển. Cách đây khoảng chừng 20 năm, tháng giêng năm ấy đến lượt nhà tôi lo giỗ tổ. Giỗ to, lễ vật nhiều, đồ tế rất sang, người đến lễ rất đông. Người ở quá bận, xin thầy tôi cho gọi thằng con là Nhuận Thổ đến để nó trông coi các thứ đồ lễ cho.

Gần Tết thì Nhuận Thổ đến. Đã bao ngày đêm tôi mong vì nghe nói hắn bẫy chim sẻ tài lắm. Hắn đứng trong bếp, khuôn mặt tròn trĩnh, nước da bánh mật, đầu đội mũ lông chiên bé tí tẹo, cổ đeo vòng bạc sáng loáng. Hắn bẽn lẽn. Khi vắng người hắn nói chuyện với tôi. Chỉ nửa ngày, chúng tôi đã thân nhau. Hắn bảo lên tỉnh hắn được trông thấy bao nhiêu điều mới lạ. Hôm sau, tôi rủ Nhuận Thổ đi bẫy chim. Hắn bảo phải tuyết xuống mới bẫy chim được. Hắn nói với tôi cách bẫy chim: sẻ đồng, chào mào, sẻ xanh lưng…

Nhuận Thổ mời tôi đến mùa hè xuống chơi vùng biển, quê hắn, đi nhặt vỏ sò, màu đỏ có, màu xanh có, đủ cả. Còn có cả sò “mặt quỷ”, sò “tay phật” lạ lắm. Hắn kể chuyện những đêm trăng đi canh dưa hấu, cầm đinh ba để đâm con “tra”. Con vật này ăn dưa tinh khôn lắm, lông và da trơn như mỡ. Hắn kể chuyện vùng biển, hắn biết nhiều chuyện lạ lùng mà bạn bè tôi không ai biết cả. Hết tháng giêng năm ấy, Nhuận Thổ về quê. Sau đó, hắn gửi cho tôi một bọc vỏ sò và mấy thứ lông chim rất đẹp. Tôi cũng có vài lần gửi cho hắn ít quà. Nhưng từ đấy chúng tôi không hề gặp nhau nữa. Bây giờ nghe mẹ tôi nhắc đến, ký ức tôi bỗng sáng bừng lên trong chốc lát, tôi cảm thấy tìm được quê hương tôi đẹp ở chỗ nào rồi. Tôi hỏi mẹ về Nhuận Thổ hiện nay, mẹ bảo tình cảnh anh ta cũng chẳng ra gì.

Đang dở câu chuyện thì thím Hai Dương đến, một người đàn bà trên dưới năm mươi tuổi, môi mỏng dính, lưỡng quyền nhô ra… Tôi không nhận ra được, một lúc sau nghe mẹ nói đó là thím Hai Dương bán đậu phụ ở xế cửa nhà tôi, hồi đó, người ta vẫn gọi là “nàng Tây Thi đậu phụ”. Thím ta trách tôi, khích bác tôi là bây giờ làm quan, có nàng hầu, đã giàu có lại không dám rời một đồng xu. Cuối cùng thím Hai Dương giật đôi bít tất tay của mẹ tôi, rồi quay gót, cút thẳng.

Sau 3, 4 ngày vừa tiếp khách đến thăm vừa sửa soạn hành lí, một hôm trời rét lắm, vào lúc quá trưa, Nhuận Thổ đến. Tôi nhận ra ngay, nhưng không phải là Nhuận Thổ trong kí ức tôi. Mặt vàng xạm, thêm những nếp nhăn sâu hóm, mí mắt viền đỏ húp mọng lên. Anh đội một cái mũ lông chiên rách tươm, mặc một chiếc áo bông mỏng dính, người co ro cúm rúm. Bàn tay thô kệch, nặng nề, nứt nẻ như cỏ cây thông. Lâu ngày gặp tôi, anh vừa hớn hở, thê lương, mấp máy mãi rồi cung kính chào: “Bẩm ông!”. Tôi điếng người đi. Giữa chúng tôi đã có một bức tường ngăn cách. Thật là bi đát, tôi cũng nói không nên lời. Tiếp đó, Nhuận Thổ gọi một đứa bé lại và bảo: “Thủy Sinh. Con không lạy ông đi kìa”. Mẹ tôi và cháu Hoàng từ trên gác nghe tiếng đi xuống. Nhuận Thổ cất liếng cung kính chào mẹ tôi, rồi nói: “biết ông về chơi, thật mừng quá!” Mẹ tôi nhẹ nhàng bảo: “Sao lại phải khách sáo thế, trước kia vẫn gọi nhau bằng anh em cơ mà?… ” Thủy Sinh rụt rè nhưng sau đó đã chơi thân với cháu Hoàng.

Mẹ tôi và tôi hỏi thăm gia đình Nhuận Thổ. Anh than thở: “Bẩm, vất vả lắm! Nhà vẫn không đủ ăn, lại có được sống yên ổn đâu! Chỗ nào cũng hỏi tiền, chẳng có luật lệ gì cả. Mùa lại mất”. Trông anh phảng phất như một pho tượng đá. Anh xuống bếp rang cơm ăn. Mẹ tôi và tôi đều cám cảnh cho gia đình anh: con đông, mùa mất, thuế nặng, lính tráng, trộm cướp, quan lại, thân hào đày đọa thân anh khiến anh trở thành đần độn, mụ mẫm đi! Mẹ tôi bảo tôi: cái gì không cần chở đi thi cho anh ta hết, tùy ý chọn, lấy cái nào thì lấy. Anh chọn xin mấy thứ: 2 cái bàn dài, một bộ tam sự, một cái cân, xin một đống tro để về bón ruộng.

Chín ngày sau, chúng tôi lên đường. Khách đến tiễn và lấy đồ rất đông. Gần tối, chúng tôi xuống thuyền thì tất cả đồ đạc trong ngôi nhà cũ, hư hỏng, to nhỏ, xấu tốt đều mang đi sạch trơn như quét. Ngồi tựa mạn thuyền, bỗng cháu Hoàng hỏi bao giờ trở về vì Thủy Sinh đã hẹn đến nhà nó chơi. Mẹ tôi buồn nhắc đến Nhuận Thổ, nhắc đến chị Hai Dương, lùn, chân bé tí tẹo thế mà cũng chạy nhanh đáo để.

Ngôi nhà cũ xa dần, phong cảnh làng cũ cũng mờ dần. Lòng tôi ảo não.

Nằm trong thuyền nghe nước chảy róc rách vỗ vào mạn thuyền, biết là tôi đang đi theo con đường của tôi. Tôi nghĩ đến Nhuận Thổ, đến Thủy Sinh và cháu Hoàng. Tôi nghĩ đến “thứ tượng gỗ”, mọi hy vọng, đâu là thực là hư. Nghĩ đến những con đường trên mặt đất: kỳ thực trên mặt đất vốn làm gì có đường. Người ta đi mãi thì thành đường thôi.

Trích: chúng tôi

Tóm Tắt Cố Hương Của Lỗ Tấn Ngắn Gọn

chúng tôi sẽ hướng dẫn một số bài mẫu tóm tắt Cố Hương truyện ngắn của tác giả Lỗ Tấn. Khi sử dụng các nội dung bên dưới các em lớp 9 không sao chép toàn bộ mà nhớ phải chỉnh sửa sao cho phù hợp với yêu cầu của giáo viên.

Tác giả – Tác phẩm

Lỗ Tấn (1881 – 1936) quê ở tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc. Lỗ Tấn là bút danh của ông lấy theo họ mẹ, tên thật là Chu Chương Thọ. Ông sinh ra ở một gia đình quan lại sa sút, mẹ là nông dân nên có ảnh hưởng đến khả năng văn chương của ông.

Ngay từ nhỏ, Lỗ Tấn luôn muốn quyết tâm thay đổi đất nước. Vì vậy ông học rất nhiều ngành. Sau này theo văn chương như một thứ vũ khí “biến đổi tinh thần” của dân chúng. Các công trình văn chương của ông gồm:  17 tập văn, truyện ngắn Gào thét và Bàng hoàng…

Cố hương chính là một trong những truyện ngắn tiêu biểu được in trong tập Gào thét. Truyện ngắn tác giả phê phán thực trạng nông thôn thời phong kiến Trung Hoa lúc bấy giờ sa sút, đồng thời gửi gắm niềm hi vọng vào hai đứa nhỏ là Hoàng và Thủy Sinh.

Bố cục

Tác phẩm được chia thành 3 phần:

Nội dung

Nhân vật “tôi” sau chuyến về quê lần cuối đã có những rung động về cố hương: sự thay đổi lớn của quê hương đặc biệt là người bạn thuở nhỏ Nhuận Thổ. Từ đó, tác giả nêu lên thực trạng của xã hội phong kiến Trung Hoa lúc bấy giờ nghèo đói và sa sút. Đồng thời, tác giả cũng đặt ra một vấn đề cần có đường đi cho người nông dân cũng như toàn xã hội Trung Quốc thời đó.

Nghệ thuật

– Nghệ thuật kể chuyện lôi cuốn người nghe, đặc biệt là cách đặt ra vấn đề về thực trạng phong kiến ở làng quê – một vấn đề nhức nhối của toàn dân trong xã hội Trung Hoa thời bấy giờ.

– Trong cách kể chuyện, khả năng xây dựng nhân vật có sự tương phản, giúp người đọc ngẫm nghĩ sự đổi thay của con người, đất nước Trung Hoa rõ nét lúc đó.

– Cách kể chuyện kết hợp với biểu cảm, tả và lối lập luận chặt chẽ khiến cho câu chuyện thêm sinh động, giàu xúc cảm.

– Bố cục truyện được kể theo mạch cảm xúc và trình tự chặt chẽ

– Các thủ pháp nghệ thuật: hồi ức xen với thực tại, kết cấu đầu cuối tương ứng.

Tóm tắt Cố hương truyện ngắn Lỗ Tấn

Bài tóm tắt 1

Truyện kể về tác giả về quê sau quãng thời gian 20 năm xa cách, chuyến về quê này như từ biệt ngôi nhà cũ một thời gắn bó. Thời tiết vào mùa đông vì thế cảnh quang càng u ám,hiu quạnh hơn. Nhân vật tự xưng tôi đã nhận ra những sự thay đổi quá nhiều của quê hương, đặc biệt là sự thay đổi của người bạn thuở nhỏ Nhuận Thổ tàn tạ đến đáng thương.

Tác giả đã cho thấy được những con người chính là nguyên nhân tạo xã hội hội phân chia giai cấp trầm trọng, con người bóc lột thậm tệ lẫn nhau. Đồng thời chỉ ra con đường mới giúp những con người xây dựng một xã hội mới đàng hoàng, tươi đẹp hơn.

Tác giả rời quê hương trong tâm trạng ưu tư với nhiều nỗi muộn phiền, hi vọng quê hương sẽ đổi khác và tiến lên trong tương lai.

Bài tóm tắt 2

Chuyện kể về nhân vật khi trở về quê sau thời gian dài xa cách, đây là lần cuối trở về bởi tác giả phải cùng gia đình dọn đến đến nơi khác. Chuyến về quê lần cuối cùng này tác giả thực sự thấy khác lạ so với những lần khác, làng quê khác lạ tiêu điều không nhận ra. Điều làm nhân vật tôi cảm thấy bất ngờ là sự thay đổi quá nhiều của con người nơi đây rõ nhất là người bạn Nhuận Thổ, anh ta trở nên tàn tạ, tính tình thay đổi và cam chịu trước xã hội đầy rẫy bất công của xã hội đương thời.

Rời quê hương trong lòng tác giả có nhiều điều muộn phiền, kì vọng vào thế hệ tương lai sẽ tìm ra “con đường mới” đưa người nông dân và cả đất nước thoát khỏi tình cảnh bi đát như hiện tại.

Bài tóm tắt 3:

Tóm tắt theo ngôi thứ nhất:

Sau hơn hai mươi năm xa cách, tôi trở về quê. Thời tiết đang độ giữa đông với trời âm u và gió lạnh lùa vào khoang thuyền. Hình ảnh quê hương lúc này hiện lên trong kí ức tôi. Làng tiêu điều xơ xác. Lòng tôi thấy không vui. Ý định lần này tôi về thăm quê lần cuối và tính việc chuyển đi nơi khác. Lúc này tôi nhớ đến người bạn thân Nhuận Thổ. Bạn cũ thuở nhỏ của tôi là một cậu bé nông dân khỏe mạnh, hiểu biết và hồn nhiên. Thế mà giờ đây khi gặp lại nó lại thay đổi nhiều trở nên mụ mẫm hơn, đần độn. Tôi buồn bã rời đi với suy nghĩ hai cháu Hoàng và Thủy Sinh sẽ ra sao. Hình ảnh con đường cuối truyện là niềm mong mỏi của tôi về một sự đổi thay.

Lớp 9 –