Văn Bản Của Chính Phủ Về Bảo Hiểm Nhân Thọ / Top 4 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Bac.edu.vn

Bảo Hiểm Nhân Thọ? Hiểu Đúng Về Bảo Hiểm Nhân Thọ Để Đảm Bảo Quyền Lợi

III. Hiểu đúng về bảo hiểm nhân thọ với 4 điều sau:

1. Mục đích chính là bảo vệ trước rủi ro chứ không phải tiết kiệm sinh lời

Tuy bảo hiểm nhân thọ vẫn đảm bảo khả năng sinh lời trong tương lai như các kênh gửi tiết kiệm nhưng mục đích chính của bảo hiểm nhân thọ là bảo vệ trước những rủi ro bất ngờ nên khả năng sinh lời không thể cao như khi gửi tiền ngân hàng.

Chính vì vậy, bạn không nên so sánh giữa bảo hiểm và gửi tiết kiệm hay mua bảo hiểm dưới góc độ sinh lời hay. Thay vào đó, bạn hãy xác định rõ nhu cầu của mình để lựa chọn giữa bảo hiểm bảo vệ rủi ro và tiết kiệm sinh lời một cách đúng đắn nhất qua các quyền lợi bảo hiểm.

2. Là kênh tài chính dài hạn để chuẩn bị trước cho tương lai

Tương lai là một chặng đường dài và chưa biết những gì tốt hay xấu sẽ đến. Vậy nên, điều cần làm là lên kế hoạch chuẩn bị kỹ lưỡng ngay tại thời điểm này. Một trong những cách dự phòng tài chính dài hạn cho tương lai chính là bảo hiểm nhân thọ. Vì những năm về sau cuộc đời, rủi ro sẽ càng lớn nên lực chọn tham gia những sản phẩm được bảo vệ trọn đời sẽ giúp người được bảo hiểm luôn an tâm vì đã có bảo hiểm hỗ trợ.

3. Chỉ bảo vệ trước rủi ro không lường trước chứ không phải là rủi ro có sẵn

Nói đến bảo hiểm nhân thọ không thể không nhắc đến rủi ro – những điều không tốt bất ngờ xảy ra gây tổn thất, mất mát và nguy hiểm cho con người. Bảo hiểm gắn liền với rủi ro nhưng không phải rủi ro nào cũng được đảm bảo quyền lợi bảo hiểm nhân thọ.

Chỉ những rủi ro xảy ra ngoài ý muốn gây thiệt hại đến sức khỏe, thân thể, tính mạng của người được bảo hiểm trong thời gian hợp đồng có hiệu lực mới được bảo hiểm và được chi trả. Ngoài ra, bảo hiểm cũng sẽ không chi trả cho những rủi ro do cố ý hay có sẵn và có trước ngày hiệu lực hợp đồng trừ khi đã được thông báo và được công ty chấp thuận.

4. Không phải bảo vệ trước “tất tần tật” các loại rủi ro

Không riêng gì bảo hiểm nhân thọ, các sản phẩm bảo hiểm nào cũng có giới hạn bảo vệ và không bảo vệ trước “tất tần tật” các loại rủi ro. Đó là lý do tại sao trước khi đặt bút ký hợp đồng bảo hiểm, người tham gia cần nắm rõ mình sẽ được bảo vệ trước những rủi ro nào, trong mỗi một rủi ro đó được chi trả trong trường hợp nào, quyền lợi nhận được bao nhiêu và sẽ loại trừ trường hợp cụ thể nào.

Người tham gia bảo hiểm cần lưu ý bảo hiểm sẽ sẽ không thanh toán trong các trường hợp như tử vong do tự tử trong thời hạn 2 năm, do phạm tội hình sự, do bệnh HIV/AIDS hoặc bị tử hình; các trường hợp tự ý hay cố ý gây ra tổn thương, các bệnh có sẵn, các trường hợp vi phạm pháp luật….

Không quá khó để hiểu về bảo hiểm nhân thọ là gì nhưng muốn hiểu sâu hơn đừng bỏ qua những điều quan trọng cần biết xoay quanh bảo hiểm nhân thọ như bản chất của bảo hiểm, công ty bảo hiểm, các loại hình hay hiểu rõ những đặc điểm cơ bản nhằm tránh nhầm lẫn về sau.

Cẩm Nang Bảo Hiểm Nhân Thọ, Chương I_1: Tìm Hiểu Pháp Luật Liên Quan Đến Bảo Hiểm Nhân Thọ

Dự án Trung tâm đào tạo Bảo hiểm Việt Nam (TTĐTBHVN) của Bộ Tài chính có một phần nâng cao năng lực hoạt động của Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam (HHBHVN) trong đó có tuyên truyền bảo hiểm tới công chúng. HHBHVN chọn hình thức tuyên truyền là xây dựng 02 cuốn Cẩm nang bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ giành cho khách hàng và đã được Ban Chỉ đạo, Ban Quản lý Dự án chấp thuận.

Cuốn Cẩm nang bảo hiểm nhân thọ dành cho khách hàng do Ông Phùng Đắc Lộc – Tổng Thư ký HHBHVN và Tiến sỹ Phí Trọng Thảo – Giám đốc Trung tâm đào tạo Bảo Việt làm đồng chủ biên. Tập thể tác giả bao gồm các chuyên gia bảo hiểm của HHBHVN và bộ môn bảo hiểm Học viện Tài chính biên soạn.

Cẩm nang bao gồm các câu hỏi và câu trả lời xuyên suốt từ Luật kinh doanh bảo hiểm và các văn bản pháp quy hướng dẫn thi hành Luật kinh doanh bảo hiểm, giới thiệu về bảo hiểm nhân thọ, giới thiệu một số loại sản phẩm bảo hiểm nhân thọ cơ bản, giới thiệu thị trường bảo hiểm Việt Nam và các DNBH nhân thọ.

Sau khi biên soạn xong, dự thảo Cẩm nang được gửi đi lấy ý kiến góp ý các DNBH, tổ chức Hội nghị tư vấn xin ý kiến góp ý của các chuyên gia trong lĩnh vực bảo hiểm. Trên cơ sở ý kiến đóng góp, tập thể tác giả đã chỉnh lý bổ sung cho Dự thảo Cẩm nang này.

Ngày 06/8/2007 Dự án TTĐTBHVN tổ chức nghiệm thu cuốn Cẩm nang và kết quả đánh giá Cẩm nang đạt loại xuất sắc.

Cẩm nang Bảo hiểm nhân thọ đáp ứng được phần nào nhu cầu của khách hàng đã đang hoặc sẽ mua bảo hiểm trong việc lựa chọn sản phẩm bảo hiểm, lựa chọn DNBH, giải quyết những thắc mắc, vướng mắc trong quá trình thực hiện hợp đồng bảo hiểm.

Cẩm nang còn là tài liệu hữu ích cho các cán bộ bảo hiểm tại các chi nhánh, công ty thành viên trong quá trình công tác và nâng cao trình độ kiến thức về chuyên môn của mình.

I. QUY ĐỊNH CHUNG Câu hỏi 1. Luật Kinh doanh bảo hiểm (sau đây gọi tắt là Luật KDBH) có phạm vi điều chỉnh với các đối tƣợng nào? Khách hàng của công ty bảo hiểm có thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật KDBH không?

Trả lời: – Người tham gia bảo hiểm (khách hàng) là một trong các đối tượng được điều chỉnh của Luật KDBH – Luật KDBH có phạm vi điều chỉnh bao gồm các tổ chức và hoạt động kinh doanh bảo hiểm (DNBH, DN Môi giới BH, đại lý bảo hiểm) và các tổ chức cá nhân tham gia bảo hiểm nhằm đảm bảo quyền nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp chính đáng của các đối tượng trên (Điều 1. Luật KDBH quy định).

Câu hỏi 2. Ngƣời có nhu cầu bảo hiểm có đƣợc mua bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm không hoạt động tại Việt Nam hay không? DNBH cần phải có đủ điều kiện gì để thực hiện cam kết với khách hàng? Trả lời:

– Tổ chức, cá nhân có nhu cầu bảo hiểm chỉ được tham gia bảo hiểm tại doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động ở Việt Nam bao gồm DNBH Nhân thọ Việt Nam và DNBH Nhân thọ có vốn đầu tư nước ngoài. – Doanh nghiệp bảo hiểm phải bảo đảm các yêu cầu về tài chính để thực hiện các cam kết của mình đối với bên mua bảo hiểm. (Điều 6 Luật KDBH)

Nguyên tắc tham gia bảo hiểm được cụ thể trong Nghị định 45 CP ngày 27 tháng 3 năm 2007 hướng dẫn thi hành Luật KDBH (Điều 3, Nghị định 45 CP) như sau: “1. Tổ chức, cá nhân muốn hoạt động kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh tái bảo hiểm, hoạt động môi giới bảo hiểm tại Việt Nam phải được Bộ Tài chính cấp Giấy phép thành lập và hoạt động theo quy định của Luật KDBH.

2. Tổ chức, cá nhân có nhu cầu bảo hiểm có quyền lựa chọn doanh nghiệp bảo hiểm và chỉ được tham gia bảo hiểm tại doanh nghiệp bảo hiểm được phép hoạt động tại Việt Nam. Không một tổ chức, cá nhân nào được phép can thiệp trái pháp luật đến quyền lựa chọn doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm của bên mua bảo hiểm”

Điều này nhằm bảo vệ quyền lợi của khách hàng mua bảo hiểm bởi các doanh nghiệp bảo hiểm đang hoạt động tại Việt Nam được Nhà nước quản lý chặt chẽ, bị chi phối bởi các Luật pháp hiện hành của Việt Nam. Nếu xảy ra tranh chấp, người mua bảo hiểm có thể đưa ra toà Việt Nam xét xử.

Câu hỏi 3. Sự hợp tác và cạnh tranh trong kinh doanh bảo hiểm đƣợc Luật quy định nhƣ thế nào nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp của khách hàng?

Trả lời: Điều 10 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật KDBH (sau đây gọi tắt là Luật sửa đổi Luật KDBH) quy định nghiêm cấm cạnh tranh bất hợp pháp gây tổn hại lợi ích khách hàng

“1. Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm được hợp tác trong việc tái bảo hiểm, đồng bảo hiểm, giám định tổn thất, giải quyết quyền lợi bảo hiểm, đề phòng và hạn chế tổn thất, phát triển nguồn nhân lực, phát triển sản phẩm bảo hiểm, đào tạo và quản lý đại lý bảo hiểm, chia sẻ thông tin để quản trị rủi ro.

2. Doanh nghiệp bảo hiểm được cạnh tranh về điều kiện, phạm vi, mức trách nhiệm, mức phí, chất lượng dịch vụ, năng lực bảo hiểm và năng lực tài chính.

Việc cạnh tranh phải theo quy định của pháp luật về cạnh tranh và bảo đảm an toàn tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm; mức phí bảo hiểm phải phù hợp với điều kiện, phạm vi, mức trách nhiệm bảo hiểm.

4. Nghiêm cấm các hành vi sau đây:

Câu hỏi 4. Luật KDBH quy định về sự đảm bảo của Nhà nƣớc đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhƣ thế nào để vừa phát triển kinh doanh bảo hiểm vừa thực hiện đúng cam kết với khách hàng tham gia bảo hiểm?

Trả lời: Sự đảm bảo của Nhà nước là cơ sở pháp lý để thực hiện quyền và nghĩa vụ của người tham gia bảo hiểm cũng như của DNBH. Điều 4 Khoản 1 Luật KDBH quy định: “Nhà nước bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm và các tổ chức kinh doanh bảo hiểm”.

Như vậy quyền và lợi ích hợp pháp của cả khách hàng và của DNBH trong quá trình thực hiện hợp đồng bảo hiểm đều được Nhà nước bảo hộ.

Câu hỏi 5. Doanh nghiệp bảo hiểm đƣợc mở rộng sự hợp tác quốc tế nhưng phải đảm bảo quyền và lợi ích khách hàng đƣợc thể hiện nhƣ thế nào?

Trả lời: Hội nhập hợp tác quốc tế và mở cửa thị trường bảo hiểm Việt Nam là đòi hỏi kết hợp hài hòa lợi ích phát triển nền kinh tế xã hội ở Việt Nam. Điều 5 Luật KDBH có chỉ rõ:

” Nhà nước thống nhất quản lý, có chính sách mở rộng hợp tác quốc tế trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng, cùng có lợi theo hướng đa phương hoá, đa dạng hoá; khuyến khích các doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm nước ngoài thu hút các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vốn vào Việt Nam và tái đầu tư lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm phục vụ công cuộc phát triển kinh tế – xã hội ở Việt Nam; tạo điều kiện để doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm tăng cường hợp tác với nước ngoài nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh bảo hiểm”

Ngoài ra, việc hợp tác của các doanh nghiệp bảo hiểm với các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài trong hoạt động nhận và nhượng tái bảo hiểm sẽ chịu sự kiểm soát chặt chẽ của Chính phủ để đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của khách hàng.

Quy Định Của Pháp Luật Về Bảo Hiểm Nhân Thọ Như Thế Nào ?

Luật Minh Khuê tư vấn những quy định của pháp luật hiện hành khi tham gia bảo hiểm nhân thọ theo quy định hiện nay:

Trả lời: 1. Căn cứ pháp lý. 2. Luật sư tư vấn.

Xin được tư vấn Chào các anh chị! Tôi có một vấn đề sau muốn được anh chị giúp đỡ. Bố tôi có tham gia 1 hợp đồng bảo hiểm nhân thọ việt nam nay bố tôi đã chết. Khi làm thủ tục hưởng tiền bảo hiểm thì phát hiện trong hồ sơ hợp đồng và các giấy chứng nhận bảo hiểm đều có ghi sai một số chứng minh thư từ số 6 thành số 9. Nay tôi xin được hỏi gia đình tôi phải làm thủ tục như thế nào? Hồ sơ bảo hiểm do bên đại lý bán hàng viết bố tôi chỉ kí tên. Khi sai sót mà công ty bảo hiểm không chi trả thì bên đại lý bán hàng phải chịu trách nhiệm không? Tôi xin cảm ơn

Trước đây ông tôi có mua bảo hiểm cho tôi hợp đồng do ông ấy đứng ten. Vậy cho tôi hỏi quyền lợi sau này thuộc về ai ? Lúc mua bảo hiểm không có sự đồng ý của mẹ tôi. Vậy sao ông ấy vẫn đứng tên hợp đồng bảo hiểm được ?

Kính chào luật sư, tôi có một câu hỏi kính nhờ luật sư giải thích giúp. Tôi là một đại lý bảo hiểm, tư vấn cho người thân tham gia 1 hợp đồng hưu trí. Sau 21 ngày cân nhắc, khách hàng nghe những người khác nói nhiều chuyện tiêu cực xung quanh bảo hiểm nhân thọ nên họ muốn lấy lại tiền. Tôi đã giải thích nhưng vì tình cảm người thân, tôi bỏ tiền ra mua lại hợp đồng của khách hàng đó. Vậy cho tôi hỏi, tôi cần thực hiện cam kết gì với khách hàng đó nếu sự kiện bảo hiểm xảy ra với người được bảo hiểm? Có giấy tờ thủ tục hay công chứng của nhà nước hay không trong vấn đề chuyển nhượng hợp đồng này? Rất mong luật sư tư vấn giúp tôi trong trường hợp này. Trân trọng cám ơn.

Xin hỏi luật sư. Tôi chưa kí kết bất kì hợp đồng tham gia bảo hiểm nhân thọ nào? Nhưng mới đây tôi có phát hiện 1 công ty bảo hiểm lấy thông tin của tôi và làm giả chữ kí của tôi để tham gia 1 hợp đồng bảo hiểm nhân thọ. Tôi đã làm việc với giám đốc khu vực nhưng lại nhận được kết quả không thỏa đáng. Vậy cho tôi biết công ty bảo hiểm đó đang vi phạm những điều nào ? Khoản nào ? Được không ah. Tôi xin cảm ơn

Chao luat su. Tôi đc bảo hiểm thất nghiệp cấp bhyt từ 9/2015 đã hết hạn 9tháng bây gìơ tôi bị tai nạn xe mới mua lại. Vậy tôi có đc sử dụng bhyt trong kt cao kg? nếu công ty tôi hay bên bảo hiểm nhân thọ mua bhyt cho tôi. Thì tôi có được tính bhyt trong điều trị kỷ thuạt cao không. Xin chân thành cảm ơn luật sư.

Luận Án: Pháp Luật Về Kinh Doanh Bảo Hiểm Nhân Thọ Tại Việt Nam

, ZALO 0932091562 at BÁO GIÁ DV VIẾT BÀI TẠI: chúng tôi

Published on

Download luận án tiến sĩ ngành luật kinh tế với đề tài: Pháp luật về kinh doanh bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn, cho các bạn làm luận án tham khảo

1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI TRẦN VŨ HẢI PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH BẢO HIỂM NHÂN THỌ Ở VIỆT NAM NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI, 2014

2. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI TRẦN VŨ HẢI PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH BẢO HIỂM NHÂN THỌ Ở VIỆT NAM NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ MÃ SỐ: 62.38.01.07 NGƯỜI HƯỚNG DẪN: 1. TS. BÙI NGỌC CƯỜNG 2. TS. NGUYỄN VĂN TUYẾN HÀ NỘI, 2014

3. LỜI CAM ĐOAN Tôi cam đoan luận án này là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện. Mọi số liệu, kết quả nghiên cứu đã công bố được tham khảo trong luận án đều trung thực và trích dẫn nguồn tài liệu đúng quy định. Những kết quả nghiên cứu của luận án chưa từng được công bố trong bất cứ công trình của tác giả nào khác. Nghiên cứu sinh Trần Vũ Hải

6. DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN BHNT : Bảo hiểm nhân thọ BVNĐBH : Bảo vệ người được bảo hiểm DNBH : Doanh nghiệp bảo hiểm HĐBH : Hợp đồng bảo hiểm HĐBHNT : Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ IAIS : Hiệp hội quốc tế các cơ quan giám sát bảo hiểm International Association of Insurance Supervisors ICP : Các nguyên tắc cốt lõi của bảo hiểm Insurance Core Principles NAIC : Hiệp hội quốc gia các Ủy ban bảo hiểm Hoa Kỳ The National Association of Insurance Commissioners WTO : Tổ chức Thương mại Thế giới World Trade Organization

9. – 4 – Với yêu cầu về dung lượng, luận án được xác định giới hạn nghiên cứu như sau: – Đối tượng nghiên cứu là hệ thống quy định pháp luật về kinh doanh BHNT ở Việt Nam kể từ khi có Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 cho đến hiện nay, trong đó tác giả tập trung chủ yếu vào hệ thống các quy định pháp luật hiện hành. Giai đoạn trước khi Luật Kinh doanh bảo hiểm có hiệu lực không thuộc phạm vi nghiên cứu của luận án, tuy nhiên có thể được đề cập khi so sánh và đánh giá các quy định pháp luật hiện hành. – Những nghiên cứu của luận án hướng tới hệ thống các quy định pháp luật điều chỉnh đối với hoạt động kinh doanh BHNT nói chung, không đi sâu vào các quy định cá biệt để điều chỉnh một số sản phẩm BHNT đặc thù. 4. Phương pháp nghiên cứu Để thực hiện được những nhiệm vụ nghiên cứu và mục đích nghiên cứu, dưới giác độ khái quát, luận án được tiếp cận theo phương pháp luận của chủ nghĩa Mác Lênin trong việc giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu. Đối với từng nội dung cụ thể, đề tài chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích, thống kê, phương pháp so sánh luật học và phương pháp lịch sử. Phương pháp phân tích được áp dụng phổ biến trong việc xây dựng các luận điểm trong từng nội dung của luận án. Thông qua việc phân tích từng khía cạnh của đối tượng nghiên cứu, luận án sẽ xây dựng các khái niệm hoặc chứng minh các luận điểm đã được đưa ra. Phương pháp thống kê được áp dụng trong quá trình đánh giá thực tiễn về áp dụng pháp luật về kinh doanh BHNT. Bằng việc sử dụng các số liệu thực tế thông qua phương pháp thông kê sẽ chứng minh cho các nhận định được đưa ra. Phương pháp so sánh luật học được áp dụng tương đối phổ biến trong quá trình phân tích các luận điểm. Nội dung so sánh chủ yếu bao gồm so sánh các quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam với quy định pháp luật của một số quốc gia trên thế giới và so sánh giữa quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam với các tiêu chuẩn, tập quán quốc tế. Phương pháp lịch sử được sử dụng để nghiên cứu quá trình phát triển của hệ thống pháp luật kinh doanh BHNT gắn với bối cảnh phát triển kinh tế xã hội Việt Nam. 5. Ý nghĩa khoa học và tính thực tiễn Luận án là công trình chuyên khảo xây dựng hệ thống lý luận về pháp luật kinh doanh BHNT cũng như đánh giá tương đối toàn diện thực trạng pháp luật hiện hành điều chỉnh lĩnh vực này. Do đó, luận án sẽ góp phần bổ sung tri thức trong ngành khoa học pháp lý nói chung và chuyên ngành Luật kinh tế nói riêng về lĩnh vực pháp luật kinh doanh BHNT.

10. – 5 – Kết quả nghiên cứu của luận án có tính ứng dụng thực tiễn. Một là, luận án đóng góp những căn cứ khoa học cho việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật về kinh doanh BHNT ở Việt Nam. Hai là, luận án sẽ góp phần đóng góp vào hệ thống kiến thức pháp lý để các cơ quan quản lý nhà nước, DNBH và người tham gia bảo hiểm áp dụng các quy định của pháp luật một cách hiệu quả. 6. Kết cấu của luận án Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận án có 4 chương, cụ thể như sau: Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu Chương 2: Những vấn đề lý luận về kinh doanh bảo hiểm nhân thọ và pháp luật kinh doanh bảo hiểm nhân thọ Chương 3: Thực trạng pháp luật kinh doanh bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam Chương 4: Những giải pháp hoàn thiện pháp luật kinh doanh bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam

14. – 9 – sâu và toàn diện trong tác phẩm “Một số vấn đề về quyền tự do kinh doanh trong pháp luật kinh tế hiện hành tại Việt Nam” [27]. Những quan điểm này có thể áp dụng trong phân tích những nội dung về nguyên tắc tự do kinh doanh trong lĩnh vực BHNT. Nguyên tắc bảo vệ quyền lợi người tham gia bảo hiểm có một số quan điểm đáng chú ý như: Dominique Ponsot (2010) trong bài tham luận “Bảo vệ người tiêu dùng chống lại các điều khoản lạm dụng” [57] và Takahiro Yasui (2001) trong tác phẩm “Policyholder Protection Fund: Rationale and Structure” [148]. Qua các công trình kể trên, có thể đánh giá như sau: – Các công trình thường không đề cập cùng một lúc hai nguyên tắc quan trọng của pháp luật kinh doanh BHNT là nguyên tắc đảm bảo quyền tự do kinh doanh và nguyên tắc bảo vệ quyền lợi người tham gia bảo hiểm. – Nội dung của các nguyên tắc chưa được phân tích cụ thể, đặc biệt là nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của người tham gia bảo hiểm. Đồng thời, các công trình nghiên cứu chưa đề cập đến việc xây dựng các quy định pháp luật như thế nào để đảm bảo những nguyên tắc này được thực hiện. – Về cấu trúc pháp luật kinh doanh BHNT Việc nghiên cứu về cấu trúc pháp luật về kinh doanh BHNT có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định nội dung pháp luật về lĩnh vực này. Đề cập đến vấn đề này có những quan điểm chủ yếu sau: John Birds và Norma chúng tôi (2004) trong tác phẩm “Modern Insurance Law” [94]; Muriel L.Crawford (1998) trong tác phẩm “Life & Health Insurance Law” [102]. Jérôme Yeatman (2001) trong “Giáo khoa quốc tế về bảo hiểm” [89] và một số công trình khác. Qua các công trình kể trên, có thể đánh giá là đa số các nghiên cứu thường hướng đến việc xác định nguồn luật điều chỉnh đối với nội dung nhất định của pháp luật về kinh doanh BHNT hơn là trả lời câu hỏi pháp luật về lĩnh vực này cần điều chỉnh những nội dung gì. Nhiều công trình (ví dụ như của Jonh Birds và Norma J.Hird, của Muriel L.Crawford) đã nhìn nhận cấu trúc pháp luật kinh doanh bảo hiểm xuất phát từ mối quan hệ HĐBH. Quan điểm của Jérôme Yeatman (2001) có tính hợp lý hơn cả khi tác giả thấy được quan hệ kinh doanh bảo hiểm rộng hơn là quan hệ HĐBH, nhưng tác giả chỉ coi các quy định điều chỉnh về địa vị pháp lý của DNBH thuộc về nội dung giám sát của nhà nước. Đi sâu vào từng nội dung lý luận về của từng bộ phận trong cấu trúc pháp luật về kinh doanh BHNT, có một số công trình đáng chú ý như: – Các ấn phẩm do Hiệp hội quốc tế các nhà giám sát bảo hiểm (IAIS) ấn hành, trong đó đáng chú ý nhất là các ấn phẩm như: IAIS (2011), Insurance core principles, standards, guidance and assessment methodology [121]; IAIS (2002), Guidance Paper

15. – 10 – on Public Disclosure by Insurers [117]; IAIS (2007), Guidance paper on use of internal models for risks and capital management purposes by insurers [120], v.v.. Những tác phẩm này là những công trình nghiên cứu mà IAIS đã tổng kết nhiều nội dung thực tiễn, từ đó đưa ra quan điểm và khuyến nghị đối với hoạt động giám sát bảo hiểm của các quốc gia thành viên. Những quan điểm và khuyến nghị này có ảnh hưởng mạnh mẽ đến các quy định pháp luật của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, IAIS chỉ nhìn nhận dưới giác độ quản lý và giám sát, còn vận dụng vào cụ thể vào các quy định pháp luật như thế nào thì không được đề cập. – Một số công trình tập trung nghiên cứu về khả năng thanh toán của DNBH mà nổi bật nhất là công trình nghiên cứu của Takahiro Yasui (2001) là “Policyholder Protection Fund: Rationale and Structure” [148]. Tác phẩm này đóng góp rất nhiều nội dung về mặt lý luận khi tác giả đã nghiên cứu và có sự so sánh từ nhiều quốc gia khác nhau. Bên cạnh đó, một công trình khác rất đáng chú ý là Nguyen Van Thanh & Takao Atsushi (2005) với tên gọi “Proposals of the Suitable Solvency Regulation for the Vietnamese Life Insurance Industry – Based on the Experience from the US and Japan” [145]. Trong công trình này, các tác giả đã khảo cứu định lượng về khả năng thanh toán của các DNBH ở Việt Nam trong giai đoạn 1998 – 2004 theo mô hình đánh giá dựa trên rủi ro và đã có những nhận xét quan trọng, đặc biệt là so sánh giữa cách tiếp cận về khả năng thanh toán của Liên minh Châu Âu và cách tiếp cận của Mỹ và Nhật Bản. Tuy nhiên, những đề xuất pháp lý được đưa ra từ công trình này lại không nhiều. – Một số công trình nghiên cứu về những khía cạnh khác nhau của HĐBHNT, trong đó nổi bật như: GS,TS. Trương Mộc Lâm và Lưu Nguyên Khánh (2001) với tác phẩm “Một số điều cần biết về pháp lý trong kinh doanh bảo hiểm” [50], John Birds và Norma chúng tôi (2004) với “Modern Insurance Law” [94] và Trần Vũ Hải (2006) với “Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ – những vấn đề lý luận và thực tiễn” [39]. Trong tác phẩm “Một số điều cần biết về pháp lý trong kinh doanh bảo hiểm”, các tác giả có phân tích nhiều loại hình HĐBH, trong đó có BHNT, tuy nhiên chỉ tập trung vào những đặc điểm của HĐBHNT chứ chưa đề cập nhiều đến nội dung lý luận khác. Tác giả Trần Vũ Hải (2006) đã xây dựng nhiều nội dung lý luận quan trọng, đặc biệt là nội dung về điều khoản mẫu. Tuy nhiên, tác giả cũng chỉ dừng lại ở sự phân tích theo quan điểm cá nhân, chưa có sự so sánh thấu đáo với các quan điểm khoa học khác. – Ngoài những tác phẩm của IAIS, có một số công trình nghiên cứu về hoạt động giám sát kinh doanh bảo hiểm mà đáng chú ý nhất là: Rodney Lester (2009) với tác phẩm “Consumer Protection Insurance” có những đánh giá về tầm quan trọng của khu vực tư (bên cạnh các cơ quan công quyền) trong hoạt động giám sát [127]; Võ Trí Thành & Lê Xuân Sang (2013) trong “Giám sát hệ thống tài chính: Chỉ tiêu và mô hình định lượng” có đề cập đến các mô hình giám sát [75]. Tuy nhiên, những công

16. – 11 – trình này chưa luận giải về cấu trúc các quy định về hoạt động giám sát kinh doanh BHNT gồm những nội dung gì. Như vậy, có thể kết luận, vấn đề cấu trúc pháp luật về kinh doanh BHNT ở Việt Nam hiện nay chưa được nghiên cứu một cách tổng thể, đồng thời cách tiếp cận của các tác giả cũng rất khác nhau cần được tiếp tục nghiên cứu và làm rõ. Các tác giả chưa xuất phát từ các mối quan hệ pháp luật phát sinh trong hoạt động kinh doanh BHNT với một bên chủ thể là DNBH. Đối với từng bộ phận thuộc cấu trúc pháp luật về kinh doanh BHNT, có một số công trình nghiên cứu có thể kế thừa, từ đó hình thành các luận điểm mới để xây dựng cấu trúc pháp luật về kinh doanh BHNT. – Về những yếu tố chi phối đến pháp luật kinh doanh BHNT Có thể khẳng định hiện nay chưa có công trình nào chỉ ra tổng thể những yếu tố chi phối đến pháp luật kinh doanh BHNT. Tuy nhiên, ở giác độ khái quát và từng yếu tố cụ thể thì đã có một số tác giả nghiên cứu với những kết quả nhất định. Ở góc độ lý luận chung về pháp luật, tác giả Nguyễn Minh Đoan (2008) trong tác phẩm “Vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội” đã phân tích về yếu tố phong tục tập quán có ảnh hưởng đến việc xây dựng và thực hiện pháp luật [36]. Còn tác giả Bùi Ngọc Cường trong tác phẩm “Pháp luật Việt nam trong tiến trình hội nhập quốc tế và phát triển bền vững” đề cập đến yếu tố tư duy kinh tế và bối cảnh Việt Nam hiện nay [85]. Viện Khoa học Tài chính (2005) đã có những đánh giá tương đối chi tiết về những tác động của việc mở cửa thị trường đối với ngành bảo hiểm từ việc thực thi các cam kết khi gia nhập WTO, hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ, bao gồm những DNBH có nguồn vốn trong nước và DNBH có nguồn vốn nước ngoài; đổi mới về quản lý nhà nước như cấp phép hoạt động v.v.[87]. Đối với yếu tố chính sách của Đảng và Nhà nước đối với việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật bảo hiểm cũng được một số tác giả đề cập rải rác trong các công trình nghiên cứu. Về nội dung này, có thể đưa ra những đánh giá chung như sau: – Các công trình nghiên cứu chưa giải quyết được một cách tổng thể những yếu tố chính ảnh hưởng đến pháp luật về kinh doanh BHNT, mà thường chỉ tập trung vào một số những yếu tố nhất định, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến yếu tố hội nhập quốc tế. Tuy nhiên đối với yếu tố hội nhập quốc tế, các công trình chỉ tập trung nghiên cứu những tác động của việc gia nhập WTO và Hiệp định Thương mại Việt Nam Hoa Kỳ mà chưa nghiên cứu nội dung tập quán quốc tế của lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm. Từ năm 2009, cơ quan quản lý bảo hiểm của Việt Nam đã là thành viên Hiệp hội quốc tế các cơ quan giám sát bảo hiểm (IAIS) nên những quy tắc, hướng dẫn của cơ quan này rất có ảnh hưởng đến nội dung pháp luật Việt Nam nhưng chưa được nghiên cứu. – Nhiều yếu tố quan trọng không được nghiên cứu như sự tương tác giữa các bộ

18. – 13 – thể dưới giác độ chuyên ngành kinh tế học, chưa có đánh giá tổng quan dưới góc độ luật học để đưa ra những khuyến nghị rõ ràng về việc hoàn thiện pháp luật hiện nay. Hai là, nhiều nội dung chưa được nghiên cứu một cách thỏa đáng như vấn đề thành lập và cơ cấu tổ chức của DNBH kinh doanh BHNT, thực trạng quy định về hoạt động kinh doanh của DNBH như cung ứng sản phẩm BHNT và hoạt động đầu tư, việc đánh giá về thực trạng quy định khả năng thanh toán, về Quỹ BVNĐBH, v.v.. b) Thực trạng quy định về HĐBHNT Vấn đề thực trạng quy định về HĐBHNT được nhiều công trình nghiên cứu đề cập nhiều hơn là những nội dung khác của pháp luật về kinh doanh BHNT. Hầu hết các công trình nghiên cứu đều đề cập đến những khía cạnh cụ thể về thực trạng quy định đối với HĐBHNT như nghĩa vụ nộp phí, việc xác định quyền lợi có thể được bảo hiểm, quan hệ bồi thường v.v.. Tác giả Nguyễn Văn Tuyến (2011) trong bài báo “Quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ chồng khi tham gia quan hệ kinh doanh bảo hiểm” đã có nghiên cứu về vấn đề tài sản giữa vợ và chồng trong quan hệ bảo hiểm. Tác giả cũng chỉ ra rằng, sự mơ hồ trong các quy định về vấn đề tài sản vợ chồng sẽ làm phức tạp quan hệ bảo hiểm và có thể khó giải quyết các tranh chấp phát sinh [86]. Cũng đề cập đến trách nhiệm bảo hiểm, tác giả Phí Thị Quỳnh Nga (2006) lại quan tâm đến các quy định về loại trừ trách nhiệm bảo hiểm. Tác giả cho rằng quy định tại Điều 16 và Điều 39 Luật Kinh doanh bảo hiểm còn bất hợp lý và chưa rõ ràng, có thể dẫn đến những cách hiểu và vận dụng khác nhau giữa các DNBH, cũng như không phù hợp với thông lệ của pháp luật nhiều quốc gia trên thế giới [54]. Tác giả Trần Vũ Hải (2006) trong tác phẩm “Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ – Những vấn đề lý luận và thực tiễn” đã có những kết quả nghiên cứu nhất định, trong đó đã chỉ ra nhiều nguyên nhân cơ bản dẫn đến thực trạng quy định và áp dụng pháp luật, tuy nhiên tác giả còn lúng túng trong việc sắp xếp các nội dung, còn nhầm lẫn giữa hiện tượng và nguyên nhân của thực trạng [39]. c) Thực trạng quy định về hoạt động giám sát trong kinh doanh BHNT Hiện nay có rất ít công trình nghiên cứu về thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động giám sát trong kinh doanh bảo hiểm, tiêu biểu chỉ có một số kết quả đáng chú ý. Chẳng hạn, TS.Võ Trí Thành & Lê Xuân Sang (2013) trong “Giám sát hệ thống tài chính: Chỉ tiêu và mô hình định lượng” có nhận xét là mô hình giám sát hiện nay của Việt Nam về thị trường tài chính còn nhiều bất cập nên việc giám sát không hiệu quả, trong đó có thị trường bảo hiểm [75]. Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm (2012) trong bài “Đánh giá thực tiễn hoạt động giám sát các tập đoàn, doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ tài chính có kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam”, đã nhận định rằng các chuẩn mực giám sát của Việt Nam hiện nay đã lạc hậu, cần được sửa đổi, bổ sung [26].

19. – 14 – Như vậy, các công trình nghiên cứu kể trên còn chưa phân tích được về thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động giám sát thông qua những nhóm nội dung lớn của quy định pháp luật như yêu cầu minh bạch thông tin, thẩm quyền giám sát, nội dung giám sát và phương thức giám sát. Tóm lại, người viết xin được đánh giá chung về các kết quả nghiên cứu thực trạng pháp luật về kinh doanh BHNT như sau: – Một số công trình đã có những kết quả nghiên cứu có thể kế thừa, phát triển khi triển khai phân tích, đánh giá về thực trạng pháp luật ở Chương 3. Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách tổng thể tất cả những nội dung pháp luật về kinh doanh BHNT, do đó chưa có những đánh giá mang tính chất xuyên suốt làm cơ sở để sửa đổi toàn diện pháp luật kinh doanh BHNT hiện hành. – Rất ít các công trình tiếp cận dưới giác độ khoa học pháp lý nên những đánh giá, nhận xét thường nghiêng về khía cạnh quản lý hơn là chỉ ra những bất cập và hiệu quả áp dụng của các quy định pháp luật. – Trong hầu hết các công trình, việc so sánh giữa các quy định của pháp luật Việt Nam với các quy định pháp luật của các quốc gia khác còn tương đối hạn chế, đặc biệt là chưa đánh giá thực trạng của các quy định hiện hành so với tiêu chuẩn của IAIS và những thông lệ phổ biến trong pháp luật của các quốc gia khác. 1.1.3. Những đề xuất trong các công trình nghiên cứu nhằm nâng cao tính hiệu quả thực thi pháp luật về kinh doanh bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam – Về những đề xuất đã công bố nhằm hoàn thiện các quy định của Luật kinh doanh bảo hiểm và các văn bản hướng dẫn thi hành Trong các công trình nghiên cứu kể trên, cũng có khá nhiều đề xuất, kiến nghị đáng chú ý đã được công bố, ví dụ như: – Phí Thị Quỳnh Nga (2006) trong bài báo “Những bất cập của điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm trong Luật kinh doanh bảo hiểm” cho rằng một số quy định của Luật Kinh doanh bảo hiểm cần được sửa đổi vì chưa bao quát được hết các trường hợp cần điều chỉnh [54]. – PGS,TS.Hoàng Trần Hậu và ThS.Nguyễn Tiến Hùng (2013) trong “Giám sát an toàn tài chính đối với các doanh nghiệp bảo hiểm ở Việt Nam” đề xuất giải pháp khắc phục sự khác biệt giữa Chuẩn mực kế toán số 19 và quy định về trích lập dự phòng nghiệp vụ theo Thông tư 125/2012/TT-BTC. – Võ Trí Thành & Lê Xuân Sang (2013) trong tác phẩm “Giám sát hệ thống tài chính: Chỉ tiêu và mô hình định lượng” có đề xuất về xây dựng mô hình giám sát hợp nhất từ nay đến năm 2020. Tuy nhiên, các tác giả chưa đề xuất cụ thể các bước thực hiện mục tiêu này.

20. – 15 – Về những đề xuất nêu trên, người viết cho rằng các kết quả này cần được kế thừa và phát triển, tuy nhiên còn rất nhiều nội dung pháp luật cần hoàn thiện những chưa được nghiên cứu và đề xuất giải pháp hoặc mới chỉ đưa ra những giải pháp chung chung, rất ít các giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật cụ thể. Đồng thời, nhiều đề xuất ở trên còn chưa gắn kết với những chủ trương, định hướng lớn của Đảng và nhà nước trong việc phát triển thị trường bảo hiểm như Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2011 – 2020 và Báo cáo chính trị của Ban chấp hành trung ương Đảng Khóa X về đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển nhanh và bền vững. 1.2. ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN 1.2.1. Những vấn đề mà luận án cần giải quyết a) Xây dựng hệ thống lý luận về pháp luật kinh doanh bảo hiểm nhân thọ Trong nội dung này, luận án cần giải quyết những nhiệm vụ cụ thể sau: – Xây dựng khái niệm BHNT thể hiện bản chất pháp lý của loại hình bảo hiểm này với những đặc trưng của nó, phân biệt được BHNT với các nghiệp vụ bảo hiểm khác. Cùng với đó, xây dựng khái niệm “sản phẩm BHNT” để làm cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu hệ thống pháp luật về kinh doanh BHNT. – Xây dựng khái niệm “kinh doanh BHNT”, trong đó chứng minh rằng nội hàm của hoạt động kinh doanh này bao gồm cung cấp dịch vụ BHNT thông qua các sản phẩm bảo hiểm và hoạt động đầu tư từ nguồn phí bảo hiểm nhàn rỗi. – Xây dựng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật kinh doanh BHNT, bao gồm nguyên tắc đảm bảo quyền tự do kinh doanh và nguyên tắc bảo vệ quyền lợi người tham gia bảo hiểm. – Xây dựng nội dung lý luận về cấu trúc pháp luật kinh doanh BHNT dựa trên các quan hệ pháp luật đặc thù của lĩnh vực này, với xuất phát từ giác độ DNBH. – Đánh giá tổng thể những yếu tố quan trọng nhất chi phối đến pháp luật kinh doanh BHNT. b) Phân tích, đánh giá tổng thể về thực trạng pháp luật về kinh doanh bảo hiểm nhân thọ Trong nội dung này, luận án cần giải quyết những nhiệm vụ cụ thể sau: Phân tích thực trạng của từng bộ phận pháp luật nằm trong cấu trúc pháp luật hiện hành điều chỉnh hoạt động kinh doanh BHNT bao gồm các quy định điều chỉnh doanh nghiệp kinh doanh BHNT, các quy định về HĐBHNT và các quy định về giám sát kinh doanh BHNT. Trong đó, bên cạnh việc đánh giá thành tựu đạt được, luận án

21. – 16 – tập trung phân tích những bất cập của pháp luật để làm cơ sở đưa ra các kiến nghị hoàn thiện. Trong quá trình phân tích, đánh giá, cần có sự so sánh với thông lệ quốc tế và pháp luật các quốc gia khác để có được những nhận định khách quan và khoa học. c) Đề xuất những giải pháp có căn cứ khoa học để hoàn thiện pháp luật kinh doanh bảo hiểm nhân thọ Trong nội dung này, luận án cần giải quyết những nhiệm vụ cụ thể sau: – Xác định rõ những yêu cầu trong việc việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh BHNT từ chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. – Đề xuất hoàn thiện các quy định của pháp luật về địa vị pháp lý của DNBH, các quy định về HĐBHNT và quy định về giám sát đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm trên cơ sở giải quyết được những vướng mắc, bất cập hiện đang tồn tại, phù hợp với thông lệ quốc tế, góp phần tăng cường hiệu quả pháp luật và hội nhập quốc tế. 1.2.2. Nội dung chính của luận án Để giải quyết những nhiệm vụ của luận án đã nêu ra ở trên, nội dung chính của luận án sẽ bao gồm 3 chương từ Chương 2 đến Chương 4, cụ thể như sau: – Chương 2 với tiêu đề “Những vấn đề lý luận về kinh doanh bảo hiểm nhân thọ và pháp luật kinh doanh bảo hiểm nhân thọ”. Nội dung của chương này được phân chia thành 2 phần chính. Phần 2.1 tập trung phân tích làm rõ những vấn đề lý luận về kinh doanh BHNT, trong đó có xây dựng những khái niệm quan trọng và khái niệm BHNT, “sản phẩm BHNT” và “kinh doanh BHNT”. Phần 2.2 tập trung xây dựng nội dung lý luận về pháp luật kinh doanh BHNT như các nguyên tắc, cấu trúc pháp luật kinh doanh BHNT và các yếu tố chi phối đến pháp luật kinh doanh BHNT. – Chương 3 với tiêu đề “Thực trạng pháp luật kinh doanh bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam”. Chương này cũng chia thành 3 phần chính nhằm phân tích, đánh giá hệ thống các quy định hiện hành về pháp luật kinh doanh BHNT bao gồm các quy định về doanh nghiệp kinh doanh BHNT, quy định về HĐBHNT và quy định về giám sát hoạt động kinh doanh BHNT. Những nội dung của phần này thống nhất với cấu trúc pháp luật đã được xây dựng ở Chương 1 để đảm bảo những nội dung lý luận sẽ góp phần đánh giá thực trạng một cách chính xác. – Chương 4 với tiêu đề “Những giải pháp hoàn thiện pháp luật kinh doanh BHNT ở Việt Nam”. Chương này cũng được chia thành 2 phần chính. Phần 4.1 đưa ra những yêu cầu cơ bản trong việc hoàn thiện pháp luật theo định hướng của Đảng và Nhà nước. Phần 4.2 đưa ra những đề xuất về các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện những nội dung còn bất cập, hạn chế đã được đánh giá ở Chương 3. Do đó, phần 4.2 cũng tuân theo cấu trúc pháp luật đã xây dựng, đồng thời đảm bảo những bất cập đã được kết luận ở Chương 3 sẽ có những giải pháp tương ứng.

22. – 17 – KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 1. Đề tài “Pháp luật về kinh doanh bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn” là đề tài nghiên cứu có tính mới, chưa có công trình nghiên cứu nào giải quyết ở cấp độ luận án tiến sỹ luật học. Tuy nhiên, từng khía cạnh của đề tài thì cũng có nhiều công trình đề cập đến ở những mức độ khác nhau, bao gồm những kết quả nghiên cứu trong nước và nước ngoài. Một số kết quả trong những công trình này tiếp tục có giá trị kế thừa, nhưng đa số kết quả lại chưa giải quyết triệt để những nhiệm vụ đặt ra đối với đề tài, đặc biệt dưới khía cạnh khoa học pháp lý. 2. Những hạn chế của những kết quả nghiên cứu trước đây có thể khái quát như sau: một là, các kết quả nghiên cứu thiếu tính hệ thống khi chưa xây dựng các khái niệm cơ bản, đồng thời chỉ đề cập đến từng khía cạnh cụ thể mà không xác định được cấu trúc pháp luật về kinh doanh BHNT; hai là, các kết quả nghiên cứu về lý luận còn nhiều hạn chế, việc đánh giá thực trạng pháp luật còn thiếu so sánh giữa quy định Việt Nam và pháp luật nước ngoài cũng như ít đề cập đến thông lệ quốc tế. 3. Từ những đánh giá về kết quả nghiên cứu, người viết đã xác định rõ những vấn đề mà luận án cần giải quyết, từ đó xác định cụ thể những nhiệm vụ nghiên cứu về lý luận và thực trạng pháp luật kinh doanh BHNT cũng như đề xuất những giải pháp hoàn thiện pháp luật. Những nhiệm vụ này sẽ được giải quyết ở Chương 2, Chương 3 và Chương 4 của luận án này.

23. – 18 – CHƯƠNG 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KINH DOANH BẢO HIỂM NHÂN THỌ VÀ PHÁP LUẬT KINH DOANH BẢO HIỂM NHÂN THỌ 2.1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KINH DOANH BẢO HIỂM NHÂN THỌ 2.1.1. Bảo hiểm nhân thọ và sản phẩm bảo hiểm nhân thọ a) Khái niệm bảo hiểm nhân thọ Trong lịch sử phát triển của ngành bảo hiểm, BHNT với tư cách là dịch vụ thương mại xuất hiện muộn hơn so với loại hình bảo hiểm phi nhân thọ, đồng thời gắn với sự ra đời và phát triển của ngành khoa học xác suất và thống kê. Bằng chứng lâu đời nhất về sự xuất hiện các hình thức sơ khai của BHNT là thời Babilon cổ đại [149]. Cho đến tận đầu thế kỷ 17, BHNT vẫn còn hết sức đơn giản. Việc tham gia bảo hiểm chỉ là có mục đích tiết kiệm và tương trợ lẫn nhau trong cộng đồng mà không phải là hoạt động kinh doanh. Lý do chính giải thích cho hiện tượng này là thời điểm đó khoa học chưa phát triển để có thể tính toán được chi phí bồi thường nhằm đảm bảo khả năng kinh doanh có lãi đối với lĩnh vực BHNT. Thế kỷ 18 đánh dấu sự ra đời nhanh chóng của các DNBH kinh doanh BHNT đặc biệt là ở Vương quốc Anh và Hoa Kỳ. Từ những DNBH nhân thọ đầu tiên, sau khoảng hai thế kỷ rưỡi phát triển, đến nay thị trường BHNT đã trở nên rất quen thuộc với người dân hầu hết các quốc gia trên thế giới. Ở những nước phát triển, thị trường BHNT có quy mô khá lớn với một hệ thống pháp luật tương đối hoàn thiện, góp phần không nhỏ trong việc bảo vệ cuộc sống con người và tái đầu tư cho xã hội. Ở Việt Nam, BHNT là một dịch vụ tài chính tương đối mới mẻ. Mặc dù BHNT cũng đã từng xuất hiện trong thời kỳ Pháp thuộc và ở miền Nam trước ngày đất nước thống nhất nhưng không đáng kể. Sau ngày thống nhất đất nước, trong nền kinh tế theo cơ chế tập trung, lĩnh vực BHNT không có cơ hội phát triển [50, tr.199]. Về mặt pháp lý, thị trường BHNT chính thức được tái lập cách đây gần 20 năm bởi sự ra đời Nghị định 100/CP ngày 18/12/1993 của Chính phủ về kinh doanh bảo hiểm. Nhưng trên thực tế, hoạt động kinh doanh BHNT chỉ thực sự được triển khai theo Quyết định 281/BTC-TCNH ngày 20/3/1996 của Bộ trưởng Bộ Tài chính cho phép Tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt) được thí điểm kinh doanh sản phẩm BHNT với các nghiệp vụ bảo hiểm 5 năm, 10 năm và bảo hiểm trẻ em. Trải qua hơn 18 năm kể từ khi xuất hiện cho đến nay, thị trường BHNT Việt Nam được đánh giá là tương đối đa dạng các loại sản phẩm bảo hiểm và có tốc độ phát

25. – 20 – kết hợp với các hình thức đầu tư chứng khoán hoặc đầu tư vốn” [94, tr.9]. Định nghĩa này có ưu điểm là không những đề cập đến nội dung cốt lõi của nghiệp vụ BHNT mà còn đề cập đến tính tiết kiệm là một đặc trưng quan trọng trong hầu hết các sản phẩm BHNT hiện nay. Tuy nhiên, định nghĩa này chưa thật khái quát, hay nói cách khác, nó chỉ là quan niệm về BHNT trong những trường hợp cụ thể. Nhiều quốc gia cũng định nghĩa BHNT trong các văn bản pháp luật của mình. Luật Công ty bảo hiểm của New Zealand năm 1994 có đưa ra định nghĩa về BHNT là “bảo hiểm bằng việc trả tiền cho cái chết của người tham gia bảo hiểm (không loại trừ là do tai nạn hoặc có nguyên nhân bệnh tật hoặc đau ốm) hoặc do bất kỳ một sự cố ngẫu nhiên nào đó có tác động làm kết thúc hoặc duy trì cuộc sống của người đó; và kể cả một thỏa thuận pháp lý quy định việc trả phí bảo hiểm theo thời hạn phụ thuộc vào sự kết thúc hoặc tiếp tục sống của người được bảo hiểm cũng như đảm bảo một khoản trợ cấp định kỳ phụ thuộc vào cuộc sống tiếp tục của người đó” [132]. Một định nghĩa tương tự cũng được quy định trong phần giải thích thuật ngữ của Đạo luật Bảo hiểm của Cộng hòa Singapore năm 1970 (bản sửa đổi năm 1994) [3, tr.468]. Cách định nghĩa như trên là khái quát, đề cập cả trường hợp BHNT trọn đời, nhưng tương đối phức tạp trong cách tiếp cận, nhất là đối với quốc gia có hệ thống pháp luật còn đang trong quá trình hoàn thiện như Việt Nam. Đạo luật BHNT Australia năm 1995 không đưa ra định nghĩa về BHNT, nhưng liệt kê HĐBHNT bao gồm nhiều loại, trong đó đặc trưng nhất là thỏa thuận giữa DNBH và người tham gia bảo hiểm mà theo đó, DNBH sẽ trả một khoản tiền phụ thuộc vào sự sống hoặc chấm dứt sự sống của người được bảo hiểm; khoản tiền này có thể trả một lần hoặc hàng năm (niên kim); và một số HĐBHNT có thỏa thuận liên kết đầu tư (investment-linked). Để đảm bảo tính nhất quán của định nghĩa, đạo luật này cũng quy định: Một hợp đồng không phải là HĐBHNT nếu theo các điều khoản của hợp đồng, thời hạn của hợp đồng là không quá một năm và chỉ thanh toán trong trường hợp chết do tai nạn hoặc chết do duy nhất một bệnh nhất định [92]. Ở Việt Nam, Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 có đưa ra định nghĩa BHNT như sau: “BHNT là loại nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm sống hoặc chết” [59]. Định nghĩa này mặc dù đã khái quát được về sự kiện bảo hiểm, nhưng có nhiều hạn chế như chưa làm rõ được đối tượng bảo hiểm cũng như sự kiện bảo hiểm thực sự là gì cũng như chưa nêu được đặc trưng phổ biến của hầu hết các sản phẩm BHNT là tính tiết kiệm đối với người tham gia bảo hiểm. Từ những phân tích nêu trên, có thể khẳng định rằng việc định nghĩa BHNT là không dễ dàng vì nhiều lý do. Một là, cách hiểu về BHNT có thể khác nhau ở từng quốc gia, do đặc điểm kinh tế xã hội khác nhau, chính sách phát triển kinh tế nói chung

28. – 23 – (trong trường hợp sống) hoặc gia đình họ (trong trường hợp chết) là rất quan trọng. Vì đối tượng bảo hiểm là tuổi thọ nên không thể xác định được giá trị, cùng với đó là thời hạn bảo hiểm dài nên để hấp dẫn người tham gia bảo hiểm, DNBH thường cam kết đảm bảo về giá trị khoản tiền bảo hiểm ở mức độ nhất định, trong mối tương quan với số phí bảo hiểm. Chính vì vậy đã từ lâu, các DNBH đã gắn nghiệp vụ bảo hiểm cho cuộc sống của con người với quá trình đầu tư từ phí bảo hiểm và nó trở thành một đặc trưng quan trọng của BHNT. Xu hướng chung là người tham gia bảo hiểm mong muốn số tiền bảo hiểm ngày càng tăng để đảm bảo về sức mua. Chính vì thế, trong rất nhiều sản phẩm BHNT, DNBH có cam kết với bên tham gia bảo hiểm việc trả lãi cho người được bảo hiểm dựa trên số phí bảo hiểm đã nộp hoặc đảm bảo số tiền bảo hiểm không thấp hơn tổng số phí bảo hiểm. Ngay cả đối với sản phẩm bảo hiểm tử kỳ, mặc dù yếu tố tiết kiệm và đầu tư không thật sự rõ ràng như các sản phẩm BHNT khác nhưng DNBH cũng cần thực hiện hoạt động đầu tư sinh lời để giảm mức phí bảo hiểm, tạo điều kiện người tham gia bảo hiểm được hưởng quyền lợi bảo hiểm tốt hơn so với số phí bảo hiểm đã nộp. Chính vì BHNT có yếu tố tiết kiệm và đầu tư nên quyền đầu tư của DNBH kinh doanh BHNT thường được quy định rộng hơn so với DNBH kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ. Hiện nay, có nhiều sản phẩm BHNT được thiết kế nhằm nổi bật yếu tố tiết kiệm và đầu tư gọi là sản phẩm BHNT liên kết đầu tư, qua đó thu hút được khá nhiều sự quan tâm của khách hàng có ý định tham gia BHNT. Về mặt lý luận, do sản phẩm BHNT có yếu tố đầu tư nên rất cần thiết phải phân biệt với sản phẩm tiền gửi tại tổ chức tín dụng. Giữa hai sản phẩm này tuy có điểm chung là đều mang yếu tố đầu tư, nhưng sự khác biệt là hết sức rõ ràng. Đầu tiên, sản phẩm BHNT có yếu tố bảo hiểm là nội dung chính, chứ không phải là nội dung đầu tư, mặc dù đối với một số sản phẩm BHNT thì yếu tố đầu tư ngày càng quan trọng. Do đó, phí bảo hiểm được coi là doanh thu của DNBH chứ không phải là một khoản nợ theo đúng nghĩa như trong sản phẩm tiền gửi của TCTD đối với khách hàng gửi tiền. Bên cạnh đó, theo M. Todd Henderson (2009) thì trên thực tế có nhiều sản phẩm tín dụng khá giống với sản phẩm bảo hiểm, nhưng điểm khác biệt rõ nhất là ở chỗ việc cung ứng các sản phẩm BHNT là do DNBH thực hiện với những yêu cầu nghiêm ngặt về mặt pháp lý, và hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có một hệ thống pháp luật về bảo hiểm khá độc lập so với pháp luật về ngân hàng và tín dụng [114]. Như vậy, một cách khái quát dưới góc độ khoa học pháp lý, có thể đưa ra khái niệm BHNT như sau: BHNT là loại hình nghiệp vụ bảo hiểm thương mại mà theo đó, DNBH cam kết trả một khoản tiền xác định theo thỏa thuận khi xảy ra sự kiện bảo hiểm là người được bảo hiểm sống hoặc chết trong một thời gian nhất định, có gắn liền hoặc không gắn

30. – 25 – chiếc xe ô tô, những tiện ích của chiếc xe phải do chính người đó thực hiện như lái xe đến một địa điểm cần đến. Trong trường hợp người đó muốn đi đến một nơi và thuê xe taxi thì người lái xe taxi sẽ đáp ứng nhu cầu đó và đây là một dịch vụ chuyên chở. Sản phẩm BHNT là một dịch vụ nên có tính vô hình, không biểu hiện dưới một hình thái vật chất cụ thể mà thông qua những cam kết của DNBH đối với người tham gia bảo hiểm. Lợi ích cơ bản nhất từ sản phẩm BHNT là được trả tiền trong trường hợp xảy ra sự kiện bảo hiểm. Bên tham gia bảo hiểm có thể được hưởng một số lợi ích khác nếu có thỏa thuận như: được hoàn lại một phần phí bảo hiểm trong trường hợp hủy hợp đồng, được miễn nộp phí bảo hiểm nếu bị thương tật, bệnh hiểm nghèo, v.v.. Nhiều DNBH còn sẵn sàng cho người tham gia bảo hiểm vay tiền sử dụng trong thời hạn có hiệu lực của HĐBHNT nếu hợp đồng đã có giá trị hoàn lại. Những dịch vụ thông thường chỉ cung cấp cho khách hàng những tiện ích hưởng thụ thông qua cảm nhận bằng các giác quan của con người như ăn, mặc, ở, giải trí, kể cả việc tiếp nhận tri thức (trong dịch vụ tư vấn, thiết kế…), trong khi đó sản phẩm nói chung và sản phẩm BHNT nói riêng lại có tính tài sản, đó là quyền được trả tiền bảo hiểm hoặc giá trị hoàn lại của hợp đồng. Đối với hầu hết các sản phẩm BHNT (trừ bảo hiểm tử kỳ thuần túy), trách nhiệm này là bắt buộc và chắc chắn sẽ được thực hiện. Giá trị hoàn lại của HĐBHNT tại một thời điểm nhất định (nếu có), về bản chất là thuộc sở hữu của bên tham gia bảo hiểm. Thứ hai, cũng như các sản phẩm bảo hiểm khác, sản phẩm BHNT có quy trình kinh doanh tương đối đặc biệt: Doanh thu có trước chi phí chủ yếu và chi phí không chắc chắn cho từng sản phẩm cũng như đối với từng khách hàng. Trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm nói chung và BHNT nói riêng, DNBH nhận phí bảo hiểm trước rồi mới trả tiền bảo hiểm sau. Đối với DNBH, phí bảo hiểm về bản chất không phải là chi phí mà chính là doanh thu mà DNBH được nhận khi cung cấp sản phẩm bảo hiểm cho khách hàng. Theo cách thức kinh doanh thông thường, để sản xuất một sản phẩm nhất định, chủ thể kinh doanh phải bỏ ra các chi phí (nguyên liệu, tiền công, dịch vụ mua ngoài, v.v.), sau đó bán hàng mới có được doanh thu. Nhưng đối với sản phẩm BHNT, DNBH sẽ nhận phí bảo hiểm từ bên mua bảo hiểm (về bản chất là doanh thu), rồi sau đó mới phải trả tiền bảo hiểm (về bản chất là chi phí) khi xảy ra sự kiện bảo hiểm. Chính vì vậy, đã có quan điểm thống nhất rằng kinh doanh bảo hiểm nói chung và BHNT nói riêng có chu trình kinh doanh đảo ngược [37, tr.9]. Tuy nhiên, theo ý kiến của người viết, khẳng định như vậy là chưa thỏa đáng vì hai lý do cơ bản sau đây: một là, việc trả tiền bảo hiểm hoặc giá trị hoàn lại không phải là chi phí duy nhất mà DNBH phải bỏ ra để cung cấp sản phẩm BHNT, vì còn có nhiều chi phí khác đã xuất hiện trước khi cung cấp sản phẩm

33. – 28 – lợi, mà còn ở những dịch vụ “chăm sóc” khách hàng. Những DBNH có các dịch vụ tốt, thái độ phục vụ khách hàng chu đáo tất nhiên sẽ có khả năng cạnh tranh cao hơn trên thị trường bảo hiểm. Thứ năm, cơ sở kỹ thuật cơ bản của sản phẩm BHNT là quy luật về số đông, bảng tỷ lệ tử vong, lãi suất kỹ thuật và phí bình quân. Để thiết kế một sản phẩm BHNT, với tư cách là một loại hình bảo hiểm thương mại, DNBH phải dựa trên những cơ sở kỹ thuật nhất định nhằm cùng một lúc đạt được hai mục tiêu song song: đem lại quyền lợi cho người tham gia bảo hiểm với mức chi phí hợp lý, đồng thời đem lại lợi nhuận cho DNBH. Cũng giống như các sản phẩm bảo hiểm khác, cơ sở kỹ thuật đầu tiên của sản phẩm BHNT là dựa trên quy luật về số đông. Quy luật về số đông được hiểu trên hai phương diện cơ bản. Một là, quy luật về số đông đòi hỏi việc tham gia BHNT phải gồm nhiều người. Quỹ bảo hiểm sẽ do nhiều người cùng đóng góp để chi trả cho những trường hợp xảy ra tổn thất hoặc có cam kết trả tiền của DNBH. Do yếu tố xác suất, nếu số lượng người tham gia quỹ bảo hiểm không đủ, thì đương nhiên DNBH không thể đủ khả năng tài chính để thực hiện việc bảo hiểm. Hai là, việc xác định tỷ lệ rủi ro chỉ chính xác trong trường hợp khảo sát với số lượng đủ lớn. Điều này thường được minh họa bằng tình huống tung đồng xu có hai mặt sấp và ngửa, theo đó nếu số lần tung càng nhiều thì số lượng xuất hiện mặt sấp hoặc ngửa sẽ có khuynh hướng bằng nhau. Bên cạnh quy luật về số đông, BHNT dựa vào cơ sở kỹ thuật thứ hai rất đặc trưng là bảng tỷ lệ tử vong được xây dựng dựa trên nguyên tắc thống kê với số lượng lớn cá nhân sống qua các độ tuổi khác nhau. Thông thường, bảng tỷ lệ tử vong có thể có hai loại là bảng tỷ lệ tử vong sống và bảng tỷ lệ tử vong chết. Bảng tỷ lệ tử vong sống xác định số người sống đến độ tuổi x nào đó trên tổng số người khảo sát, còn bảng tỷ lệ tử vong chết xác định số người chết ở độ tuổi x nào đó trên tổng số người khảo sát [89, tr.185]. Bên cạnh đó, bảng tỷ lệ tử vong còn được chia thành hai loại là bảng tỷ lệ tử vong dân số (được lập thông qua các cuộc điều tra chính thức của cơ quan có trách nhiệm) và bảng tỷ lệ tử vong kinh nghiệm (được điều chỉnh dựa trên kinh nghiệm của DNBH kinh doanh BHNT) [37, tr.23]. Hiện nay có 2 bảng tỷ lệ tử vong quốc tế được sử dụng phổ biến là Bảng tỷ lệ tử vong năm 1980 (Commissioners Standard Ordinary, viết tắt là CSO 1980) và Bảng tỷ lệ tử vong 2001 (CSO 2001). Để đảm bảo công bằng, pháp luật một số quốc gia như quy định nhất quán áp dụng một bảng tỷ lệ tử vong làm cơ sở cho các DNBH tính toán mức phí bảo hiểm đối với khách hàng. Ví dụ như ở Hoa Kỳ, từ năm 2009 đã thống nhất áp dụng CSO 2001 theo quy định của Hiệp hội quốc gia các Ủy ban bảo hiểm Hoa Kỳ (NAIC). Theo đánh giá