Văn Bản Của Đảng Cộng Sản Việt Nam / Top 11 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Bac.edu.vn

Nghị Quyết 9 Của Đảng Cộng Sản Việt Nam

Nghị Quyết 9 Của Đảng Cộng Sản Việt Nam, Nghị Quyết Giới Thiệu Đoàn Viên ưu Tú Vào Đảng Cộng Sản Việt Nam, Cách Viết Nghị Quyết Giới Thiệu Đoàn Viên Công Đoàn Vào Đảng, Viết Bản Thu Học Nghị Quyết Khóa 6 Lần Thứ 12 Của Đảng, Nghị Quyết Đề Nghị Công Nhận Đảng Viên Chính Thức, Nghị Quyết Liên Tịch Số 01/1999 Giữa Bộ Công An Với Hội Ccb Việt Nam, Nghị Quyết Về Công Tác Tuyên Huấn Của Đảng, Nghị Quyết Về Công Tác Tuyên Giáo Của Đảng, Nghị Quyết Giới Thiệu Công Đoàn Vào Đảng, Nghị Quyết Liên Tịch Số 01 Ngày 12/7/1999 Của Trung ương Hội Ccb Việt Nam Và Bộ Cong An, Tham Luận Đại Hội Công Đoàn Về Chấp Hành Chỉ Thị Nghị Quyết Của Đảng, Nghị Quyết Chuyên Đề Về Tăng Cường Sự Lãnh Đạo Của Đảng Về Công Tác Quản Lý Đất Đai , Chương Trình Hành Đông Thực Hiện Nghị Quyết Đại Hội Đảng Bộ Công Ty, Nghị Quyết Số 08 Của Đảng ủy Công An Trung ương Về Chiến Lược An Ninh Quốc Gia , Quan Điểm Chỉ Đạo Công Tác Kiểm Tra Giám Sát Của Đảng Theo Tinh Thần Nghị Quyết Tw5, Nghị Quyết Đại Hội Xii Của Đảng, Gắn Với Việc Thực Hiện Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa Xii Và Các Chỉ, Phấn Đấu Rèn Luyện Để Xứng Đáng Với Danh Hiệu Đảng Viên Đảng Cộng Sản Việt Nam, Một Số Nội Dung Về Nghị Quyết Và Chế Độ Ra Nghị Quyết Lânhx Đạo Của Các Cấp Uỷ Chi Bộ Trong Đảng Bộ, Nghị Quyết Giới Thiệu Đoàn Viên Công Đoàn Vào Đảng, Nghị Quyết Giới Thiệu Đoàn Viên Công Đoàn ưu Tú Vào Đảng, Nghị Quyết Giới Thiệu Đoàn Viên Công Đoàn Vào Đảng Violet, Quan Điểm, Đường Lối Của Đảng Cộng Sản Việt Nam Về Phương Châm Chỉ Đạo Bảo Vệ Tổ Quốc Việt Nam Xhcn, Lịch Sử Đảng Bộ Đảng Cộng Sản Việt Nam Tỉnh Khánh Hòa (1930 – 1975), Đảng Cộng Sản Việt Nam Theo Tư Tưởng Của Hồ Chí Minh Được Coi Là Đảng Của?, Bài Thu Hoạch Phấn Đấu Trở Thành Đảng Viên Đảng Cộng Sản Việt Nam, Báo Mạng Điện Tử Với Vai Trò Giáo Dục Chính Trị – Tư Tưởng Cho Đội Ngũ Đảng Viên Đảng Cộng Sản Việt, Báo Mạng Điện Tử Với Vai Trò Giáo Dục Chính Trị – Tư Tưởng Cho Đội Ngũ Đảng Viên Đảng Cộng Sản Việt , Phân Tích Vị Trí Vai Trò Của Đảng Viên Đảng Cộng Sản Việt Nam, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 12 Của Trung ương Hội Nông Dân Việt Nam, Mẫu Nghị Quyết Miễn Sinh Hoạt Đảng Của Đảng ủy, Tiểu Luận Quan Điểm Công Nghiệp Hóa Hiện Đại Hóa Của Đảng Cộng Sản Việt , Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 4 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Số 18-nq/tw Hội Nghị Lần Thứ 6 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii , Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, 3 Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa 12, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, ỷ Xxi, Hội Nghị Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng (khoá X) Đã Thông Qua Nghị Quyết Số 09-nq/t, Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Bài Thu Hoạch Qua Học Tập Quán Triệt Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Tư Bch Trung ương Đảng (khóa Xii), Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Viii, Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Bài Thu Hoạch Học Tập Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Kết Luận Hội Nghị Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghi Quyet So 28 Ngay 25/10/2013 Cua Hoi Nghi Lan Thu 8 Ban Chap Hanh Trung Uong Dang Khoa Xi, Nghị Quyết Số 33-nq/tw, Ngày 9/6/2014, Hội Nghị Lần Thứ 9 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng (khóa Xi) Về, Nghị Quyết Số 33-nq/tw, Ngày 9/6/2014, Hội Nghị Lần Thứ 9 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng (khóa Xi) Về, Nghị Quyết Đề Nghị Chuyển Đảng Chính Thức Của Chi Bộ, Bài Thu Hoạch Học Tập Quán Triệt Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa 12, Bài Thu Hoạch Quán Triệt Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Xóa Tên Đảng Viên Của Đảng ủy, Vận Động Nhân Dân Giám Sát Thực Hiện Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Sáu Ban Chấp Hành Trung ương Đảng K, Vận Động Nhân Dân Giám Sát Thực Hiện Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Sáu Ban Chấp Hành Trung ương Đảng K, Nghị Quyết Đảng Bộ Về Đề Nghị Kiện Toan, Nghị Quyết 19 ở Việt Nam, Nghị Quyết 19 Tại Việt Nam, Nghị Quyết Đề Nghị Kết Nạp Đảng Viên, Đại Hội Đảng Cộng Sản Việt Nam Lần Thứ 13, Đại Hội Đảng Cộng Sản Việt Nam Lần Thứ 12, Dang Cong Viet Nam, Đảng Cộng Sản Việt Nam, Đại Hội Đảng Cộng Sản Việt Nam, Mẫu Đơn Xin Vào Đảng Cộng Sản Việt Nam, Cách Viết Sổ Nghị Quyết Chi Bộ, Hướng Dẫn Viết Nghị Quyết Chi Bộ, Nghị Quyết Có Viết Hoa Không, Quy Trình Viết Nghị Quyết Của Chi Bộ, 3 Nghị Quyết Của Hội Nông Dân Việt Nam, Bai Viết Thu Hoạch Nghị Quyết Số 55, Viet Don Nghi Sinh Hoat Dang Di Lam An Xa, 5 Điều Lệ Đảng Cộng Sản Việt Nam, Văn Kiện Đại Hội Ix Đảng Cộng Sản Việt Nam, Văn Kiện Đại Hội 9 Đảng Cộng Sản Việt Nam, Đường Lối Của Đảng Cộng Sản Việt N Am Về Văn Hóa, Đơn Xin Ra Khỏi Cấp ủy Đảng Cộng Sản Việt Nam, Văn Kiện Đại Hội Đảng Cộng Sản Việt Nam, Mẫu Đơn Xin Rút Ra Khỏi Đảng Cộng Sản Việt Nam, 4 Điều Lệ Đảng Cộng Sản Việt Nam, Mẫu Đơn Xin Ra Khỏi Đảng Cộng Sản Việt Nam, Văn Kiện Đại Hội Xi Đảng Cộng Sản Việt Nam, Quá Trình Ra Đời Của Đảng Cộng Sản Việt Nam, Văn Kiện Đại Hội 12 Đảng Cộng Sản Việt Nam, Điều Lệ Đảng Cộng Sản Việt Nam, Bài 3 Điều Lệ Đảng Cộng Sản Việt Nam, Lời Tuyên Thệ Khi Vào Đảng Cộng Sản Việt Nam, Lời Tuyên Thệ Vào Đảng Cộng Sản Việt Nam, Văn Kiện Đại Hội Xii Đảng Cộng Sản Việt Nam, Văn Kiện Đại Hội Vi Đảng Cộng Sản Việt Nam, Lịch Sử Đảng Cộng Sản Việt Nam, Báo Cáo Kết Quả Thực Hiện Nghị Quyết Hội Nghị Cán Bộ Công Chức Năm 2016, Hướng Dẫn Viết.baithuhoach.nghi.quyet.tu6.koa.12, Cách Viết Dự Thảo Nghị Quyết, Cách Viết Dự Thảo Nghị Quyết Chi Bộ, Nghị Quyết Hội Nghị Công Nhân Viên Chức, ý Nghĩa Của Việc Nghiên Cứu Vấn Đề Giải Quyết Bình Đẳng Dân Tộc ở Việt Nam Hiện Nay, Đáp án 90 Năm Vinh Quang Đảng Cộng Sản Việt Nam, Văn Kiện Đại Hội Thành Lập Đảng Cộng Sản Việt Nam Bao Gồm, Chương 1 Điều Lệ Đảng Cộng Sản Việt Nam, Quá Trình Thành Lập Đảng Cộng Sản Việt Nam, Mẫu Thuyết Trình Đảng Cộng Sản Việt Nam,

Nghị Quyết 9 Của Đảng Cộng Sản Việt Nam, Nghị Quyết Giới Thiệu Đoàn Viên ưu Tú Vào Đảng Cộng Sản Việt Nam, Cách Viết Nghị Quyết Giới Thiệu Đoàn Viên Công Đoàn Vào Đảng, Viết Bản Thu Học Nghị Quyết Khóa 6 Lần Thứ 12 Của Đảng, Nghị Quyết Đề Nghị Công Nhận Đảng Viên Chính Thức, Nghị Quyết Liên Tịch Số 01/1999 Giữa Bộ Công An Với Hội Ccb Việt Nam, Nghị Quyết Về Công Tác Tuyên Huấn Của Đảng, Nghị Quyết Về Công Tác Tuyên Giáo Của Đảng, Nghị Quyết Giới Thiệu Công Đoàn Vào Đảng, Nghị Quyết Liên Tịch Số 01 Ngày 12/7/1999 Của Trung ương Hội Ccb Việt Nam Và Bộ Cong An, Tham Luận Đại Hội Công Đoàn Về Chấp Hành Chỉ Thị Nghị Quyết Của Đảng, Nghị Quyết Chuyên Đề Về Tăng Cường Sự Lãnh Đạo Của Đảng Về Công Tác Quản Lý Đất Đai , Chương Trình Hành Đông Thực Hiện Nghị Quyết Đại Hội Đảng Bộ Công Ty, Nghị Quyết Số 08 Của Đảng ủy Công An Trung ương Về Chiến Lược An Ninh Quốc Gia , Quan Điểm Chỉ Đạo Công Tác Kiểm Tra Giám Sát Của Đảng Theo Tinh Thần Nghị Quyết Tw5, Nghị Quyết Đại Hội Xii Của Đảng, Gắn Với Việc Thực Hiện Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa Xii Và Các Chỉ, Phấn Đấu Rèn Luyện Để Xứng Đáng Với Danh Hiệu Đảng Viên Đảng Cộng Sản Việt Nam, Một Số Nội Dung Về Nghị Quyết Và Chế Độ Ra Nghị Quyết Lânhx Đạo Của Các Cấp Uỷ Chi Bộ Trong Đảng Bộ, Nghị Quyết Giới Thiệu Đoàn Viên Công Đoàn Vào Đảng, Nghị Quyết Giới Thiệu Đoàn Viên Công Đoàn ưu Tú Vào Đảng, Nghị Quyết Giới Thiệu Đoàn Viên Công Đoàn Vào Đảng Violet, Quan Điểm, Đường Lối Của Đảng Cộng Sản Việt Nam Về Phương Châm Chỉ Đạo Bảo Vệ Tổ Quốc Việt Nam Xhcn, Lịch Sử Đảng Bộ Đảng Cộng Sản Việt Nam Tỉnh Khánh Hòa (1930 – 1975), Đảng Cộng Sản Việt Nam Theo Tư Tưởng Của Hồ Chí Minh Được Coi Là Đảng Của?, Bài Thu Hoạch Phấn Đấu Trở Thành Đảng Viên Đảng Cộng Sản Việt Nam, Báo Mạng Điện Tử Với Vai Trò Giáo Dục Chính Trị – Tư Tưởng Cho Đội Ngũ Đảng Viên Đảng Cộng Sản Việt, Báo Mạng Điện Tử Với Vai Trò Giáo Dục Chính Trị – Tư Tưởng Cho Đội Ngũ Đảng Viên Đảng Cộng Sản Việt , Phân Tích Vị Trí Vai Trò Của Đảng Viên Đảng Cộng Sản Việt Nam, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 12 Của Trung ương Hội Nông Dân Việt Nam, Mẫu Nghị Quyết Miễn Sinh Hoạt Đảng Của Đảng ủy, Tiểu Luận Quan Điểm Công Nghiệp Hóa Hiện Đại Hóa Của Đảng Cộng Sản Việt , Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 4 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Số 18-nq/tw Hội Nghị Lần Thứ 6 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii , Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, 3 Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa 12, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, ỷ Xxi, Hội Nghị Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng (khoá X) Đã Thông Qua Nghị Quyết Số 09-nq/t, Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Bài Thu Hoạch Qua Học Tập Quán Triệt Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Tư Bch Trung ương Đảng (khóa Xii), Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Viii, Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Bài Thu Hoạch Học Tập Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Kết Luận Hội Nghị Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghi Quyet So 28 Ngay 25/10/2013 Cua Hoi Nghi Lan Thu 8 Ban Chap Hanh Trung Uong Dang Khoa Xi, Nghị Quyết Số 33-nq/tw, Ngày 9/6/2014, Hội Nghị Lần Thứ 9 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng (khóa Xi) Về, Nghị Quyết Số 33-nq/tw, Ngày 9/6/2014, Hội Nghị Lần Thứ 9 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng (khóa Xi) Về, Nghị Quyết Đề Nghị Chuyển Đảng Chính Thức Của Chi Bộ, Bài Thu Hoạch Học Tập Quán Triệt Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa 12, Bài Thu Hoạch Quán Triệt Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii,

Các Kỳ Đại Hội Đảng Cộng Sản Việt Nam

Kể từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã trải qua 10 kỳ Đại hội. Mỗi kỳ Đại hội Đảng là một mốc lịch sử quan trọng ghi nhận những thắng lợi, thành tựu và những bài học kinh nghiệm của Cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Hội nghị hợp nhất các tổ chức Cộng sản ở Việt Nam dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ ngày 3-7/2/1930 tại Cửu Long (Trung Quốc) mang tầm vóc lịch sử của Đại hội thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội nghị đã đề ra Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt và Điều lệ vắn tắt của Đảng, vạch ra đường lối giải phóng dân tộc và tiến lên chủ nghĩa xã hội của Cách mạng Việt Nam. Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng là đồng chí Trần Phú.

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ I

Diễn ra từ ngày 27-31/3/1935 tại Ma Cao (Trung Quốc) do dồng chí Hà Huy Tập chủ trì.

Đại hội bầu đồng chí Lê Hồng Phong làm Tổng Bí thư. (Đến tháng 10/1936, TƯ Đảng được tổ chức lại, đồng chí Hà Huy Tập làm Tổng Bí thư; tháng 3/1938, BCH TƯ Đảng họp Hội nghị toàn thể, bầu đồng chí Nguyễn Văn Cừ làm Tổng Bí thư; tháng 11/1940, Hội Nghị TƯ 7, Trường Chinh nắm quyền Tổng Bí thư).

Đại hội lần thứ nhất của Đảng có ý nghĩa lịch sử quan trọng. Đại hội đánh dấu sự khôi phục được hệ thống tổ chức của Đảng từ Trung ương đến địa phương, từ trong nước ra ngoài nước; thống nhất phong trào đấu tranh cách mạng của công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ II

Diễn ra từ ngày 11-19/2/1951 tại xã Vinh Quang, Chiêm Hóa, Tuyên Quang.

Dự đại hội có 158 đại biểu chính thức và 53 đại biểu dự khuyết, thay mặt cho hơn 766.000 đảng viên cộng sản trên toàn Đông Dương.

Đồng chí Tôn Đức Thắng đọc diễn văn khai mạc ĐH. ĐH thông qua báo cáo chính trị của Chủ Tịch Hồ Chí Minh, báo cáo “Hoàn thành giải phóng dân tộc, phát triển dân chủ nhân dân, tiến tới CNXH” của đồng chí Trường Chinh. ĐH còn thông qua Chính cương của Đảng Lao Động Việt Nam (Đảng ra hoạt động công khai và lấy tên này).

Đại hội đã tổng kết 21 năm Đảng lãnh đạo cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, 5 năm lãnh đạo chính quyền non trẻ và công cuộc kháng chiến kiến quốc; làm rõ những kinh nghiệm, bài học và lý luận cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và chiến tranh nhân dân; đánh giá bước phát triển của nửa đầu và dự báo sự phát triển của cách mạng nước ta nửa sau thế kỷ XX. Đại hội đã phát triển đường lối kháng chiến và đề ra những chính sách cụ thể để đưa cuộc kháng chiến chống Pháp đến thắng lợi hoàn toàn và chuẩn bị những tiền đề đi lên chủ nghĩa xã hội sau khi kháng chiến thành công.

Do sự phát triển và yêu cầu của sự nghiệp cách mạng và kháng chiến, Đại hội quyết định xây dựng ở mỗi nước Đông Dương một Đảng Cộng sản riêng. Ở Việt Nam, Đảng lấy tên là Đảng Lao động Việt Nam.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng đánh dấu một mốc quan trọng trong quá trình lãnh đạo và trưởng thành của Đảng ta. Đường lối do Đại hội vạch ra đã đáp ứng yêu cầu trước mắt của kháng chiến và yêu cầu lâu dài của cách mạng, đồng thời đóng góp quý báu vào kho tàng lý luận cách mạng nước ta.

Đại hội bầu ra BCH TƯ gồm 19 đồng chí chính thức và 10 đồng chí dự khuyết. Trong đó, Bộ chính trị có 7 đồng chí chính thức và 1 dự khuyết. Đại hội đã bầu Chủ tịch Hồ Chí Minh là Chủ tịch Đảng, bầu đồng chí Trường Chinh làm Tổng bí thư.

Dưới ánh sáng của đường lối Đại hội lần thứ II của Đảng và các nghị quyết hội nghị Trung ương, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cải cách ruộng đất ngay trong chiến tranh, đẩy mạnh cuộc kháng chiến, giành nhiều thắng lợi trên các chiến trường cả nước trong chiến dịch Đông-Xuân mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu, đưa đến thắng lợi hội nghị Geneve, giải phóng hoàn toàn miền Bắc, tạo tiền đề vững chắc để tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam.

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ III

Đại hội diễn ra từ ngày 5-10/9/1960 tại Hà Nội.

Có 525 đại biểu chính thức và 51 đại biểu dự khuyết thay mặt cho hơn 50 vạn đảng viên trong cả nước đã về dự Đại hội. Đại hội xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh hoà bình thống nhất nước nhà.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc diễn văn bế mạc Đại hội. Người nói: “Đại hội lần thứ II đã đưa kháng chiến đến thắng lợi. Chắc chắn rằng, Đại hội lần thứ III này sẽ là nguồn ánh sáng mới, lực lượng mới cho toàn Đảng và toàn dân ta xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà”.

Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành Trung ương mới gồm 47 đồng chí và 31 ủy viên dự khuyết. Ban Chấp hành Trung ương đã bầu Bộ Chính trị gồm 11 ủy viên chính thức.

Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục giữ cương vị Chủ tịch Đảng. Đồng chí Lê Duẩn được bầu làm Bí thư thứ nhất BCH TƯ Đảng.

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV

Đại hội diễn ra từ ngày 14-20/12/1976 tại Hà Nội.

Tham dự đại hội có 1008 đại biểu chính thức thay mặt cho 1.550.000 đảng viên của cả hai miền đất nước, cùng với sự có mặt của nhiều Đảng Cộng sản và các tổ chức quốc tế khác.

Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam IV diễn ra trong bối cảnh cuộc Kháng chiến chống Mỹ đã đạt được thắng lợi. Hai miền Nam Bắc thống nhất sau hơn 20 năm chia cắt từ Hiệp định Geneve 1954 bằng việc hiệp thương của hai nhà nước tồn tại trên lãnh thổ Việt Nam từ sau 30 tháng 4 năm 1975 là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hoà Miền Nam Việt Nam.

+ Đường lối chung cách mạng xã hội chủ nghĩa

+ Đường lối xây dựng kinh tế trong thời kì quá độ

ĐH thông qua Báo cáo Chính trị, Báo cáo về phương hướng, nhiệm vụ và mục tiêu chủ yếu của kế hoạch 5 năm (1976-1980), Báo cáo tổng kết công tác xây dựng Đảng và sửa đổi Điều lệ Đảng.

ĐH đổi tên Đảng Lao Động Việt Nam thành Đảng Cộng sản Việt Nam.

ĐH còn bổ sung Điều lệ Đảng, thay chức danh Bí thư thứ nhất là TBT, bỏ chức danh Chủ tịch Đảng. ĐH bầu BCH TƯ gồm 101 đồng chí chính thức, Bộ chính trị gồm 14 đồng chí. Đồng chí Lê Duẩn tiếp tục làm TBT.

Đại hội tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đưa đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ V Đại hội diễn ra từ ngày 27-31/3/1982.

Tham dự Đại hội có 1033 đại biểu thay mặt 1.727.000 đảng viên hoạt động trong 35.146 đảng bộ cơ sở.

Đồng chí Trường Chinh đọc lời khai mạc Đại hội. Đồng chí Lê Duẩn đọc Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Đồng chí Phạm Văn Đồng đọc Báo cáo về nhiệm vụ kinh tế – xã hội. Đồng chí Lê Đức Thọ đọc Báo cáo về xây dựng Đảng. Nhiều đại biểu của Đại hội đã đọc tham luận, nhiều đại biểu quốc tế và trong nước đọc lời chào mừng.

Đại hội khẳng định: “Xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”. Hai nhiệm vụ chiến lược đó quan hệ mật thiết với nhau. Xây dựng chủ nghĩa xã hội làm cho đất nước lớn mạnh về mọi mặt thì mới có đủ sức đánh thắng mọi cuộc chiến tranh xâm lược của địch, bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Ngược lại có tăng cường phòng thủ, bảo vệ vững chắc Tổ quốc mới có điều kiện để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.

Đại hội lần thứ V của Đảng là kết quả của một quá trình làm việc nghiêm túc, tập hợp ý kiến của toàn Đảng để đề ra nhiệm vụ, phương hướng… nhằm giải quyết những vấn đề gay gắt nóng bỏng đang đặt ra của cách mạng Việt Nam. Đại hội đánh dấu một bước chuyển biến mới về sự lãnh đạo của Đảng trên con đường đấu tranh “Tất cả vì Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, vì hạnh phúc của nhân dân”.

Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng gồm 116 uỷ viên chính thức và 36 uỷ viên dự khuyết.

Ban Chấp hành Trung ương đã bầu Bộ Chính trị gồm 13 uỷ viên chính thức và 2 uỷ viên dự khuyết.

Đồng chí Lê Duẩn được bầu lại làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI

Đại hội diễn ra từ ngày 15-18/12/1986 tại thủ đô Hà Nội.

Dự Đại hội có 1129 đại biểu thay mặt cho gần 1,9 triệu đảng viên trong toàn Đảng. Đến dự Đại hội có 32 đoàn đại biểu quốc tế.

Đồng chí Nguyễn Văn Linh – Uỷ viên Bộ Chính trị đọc diễn văn khai mạc Đại hội. Đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí thư đọc Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Đồng chí Võ Văn Kiệt – Uỷ viên Bộ Chính trị đọc Báo cáo về phương hướng, mục tiêu chủ yếu phát triển kinh tế – xã hội trong 5 năm (1986-1990).

Đại hội đề xướng và lãnh đạo thành công sự nghiệp Đổi mới. Đại hội VI đã đưa ra quan điểm mới về cải tạo xã hội chủ nghĩa dựa trên 3 nguyên tắc: Nhất thiết phải theo quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất để xác định bước đi và hình thức thích hợp. Phải xuất phát từ thực tế của nước ta và là sự vận dụng quan điểm của Lênin coi nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ. Trong công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa phải xây dựng quan hệ sản xuất mới trên cả 3 mặt xây dựng chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, chế độ quản lý và chế độ phân phối xã hội chủ nghĩa.

Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VI gồm 124 uỷ viên chính thức và 49 uỷ viên dự khuyết.

Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã họp Hội nghị lần thứ nhất bầu Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Đồng chí Nguyễn Văn Linh được bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Các đồng chí Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ được giao trách nhiệm là Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII

Đại hội diễn ra từ ngày 24-27/6/1991 tại Hà Nội.

Dự đại hội có 1.176 đại biểu, thay mặt cho hơn 2.155.022 đảng viên trong cả nước.

Với nhiệm vụ “Tiếp tục thực hiện nhiệm vụ đưa đất nước đi theo con đường đổi mới”, Đại hội VII là Đại hội của trí tuệ-đổi mới, dân chủ-kỷ cương-đoàn kết; là Đại hội lần đầu tiên thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta. Đại hội cũng đã thông qua Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế – xã hội đến năm 2000; Báo cáo xây dựng Đảng và sửa đổi Điều lệ Đảng (Điều lệ Đảng sửa đổi).

Đại hội một lần nữa khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc.

Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản.

Đại hội VII có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, không chỉ quyết định những nhiệm vụ chính trị nặng nề trước mắt, mà cả con đường, bước đi của cách mạng nước ta trong những thập niên tiếp theo. Đó là quyết tâm đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, con đường mà Bác Hồ, Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn.

ĐH đã bầu BCH T.Ư gồm 146 ủy viên, bầu Bộ Chính trị gồm 13 ủy viên (Hội nghị BCH T.Ư lần thứ 6 khóa VII tháng 11/1993 đã bầu bổ sung thêm 4 ủy viên Bộ Chính trị).

Đồng chí Đỗ Mười được bầu làm Tổng Bí thư.

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII

Đại hội diễn ra từ ngày 28/6-1/7/1996 tại Hà Nội.

Dự Đại hội có 1.198 đảng viên đại diện cho gần 2 triệu 130 nghìn đảng viên trong cả nước.

Đại hội khẳng định: nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội, nhưng một số mặt còn chưa vững chắc. Tổng kết chặng đường 10 năm đổi mới, đại hội rút ra 6 bài học chủ yếu.

Nhiệm vụ của đại hội là thực hiện đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, quá độ lên CNXH và bảo vệ tổ quốc XHCN.

Đại hội “có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đánh dấu cột mốc phát triển mới trong tiến trình phát triển của cách mạng nước ta”. Đại hội VIII của Đảng là Đại hội tiếp tục đổi mới vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân.

Đại hội đã bầu BCH T.Ư gồm 170 ủy viên.

Đồng chí Đỗ Mười được bầu lại làm Tổng Bí thư (sau đó, tại Hội nghị BCHTƯ lần thứ 4 khóa VIII – tháng 12/1997, đồng chí Lê Khả Phiêu đã được bầu làm Tổng Bí thư).

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IXĐại hội diễn ratừ ngày 19-22/4/2001 tại Hà Nội.

Tham dự ĐH có 1.168 đại biểu là những đảng viên ưu tú được bầu từ các đại hội đảng bộ trực thuộc, đại diện cho 2.479.719 đảng viên trong toàn Đảng.

Đồng chí Trần Đức Lương, Uỷ viên Thường vụ Bộ Chính trị đọc diễn văn khai mạc. Đồng chí Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu đọc Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII về các văn kiện trình Đại hội IX.

Đại hội IX của Đảng đã đánh giá về chặng đường 71 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam, tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VIII, 15 năm đổi mới, 10 năm thực hiện chiến lược kinh tế – xã hội, rút ra những bài học kinh nghiệm của công cuộc đổi mới, từ đó phát triển và hoàn thiện đường lối, định ra chiến lược phát triển đất nước trong hai thập kỷ đầu của thế kỷ XXI.

Đại hội IX có nhiệm vụ kiểm điểm sự lãnh đạo của Đảng, đề ra phương hướng, nhiệm vụ xây dựng Đảng ta ngang tầm với đòi hỏi của dân tộc trong thời kỳ mới; sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng, bầu ra Ban Chấp hành Trung ương mới.

Đại hội IX của Đảng có ý nghĩa trọng đại mở đường cho đất nước ta nắm lấy cơ hội, vượt qua thách thức tiến vào thế kỷ mới, thiên niên kỷ mới, thực hiện mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Trung ương khoá IX gồm 150 uỷ viên.

Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương đã bầu Bộ Chính trị gồm 13 đồng chí, Ban Bí thư gồm 9 đồng chí. Đồng chí Nông Đức Mạnh được bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X

Đại hội diễn ra từ ngày 18-25/4/2006 tại Thủ đô Hà Nội.

Dự Đại hội có 1.176 đại biểu thay mặt cho hơn 3,1 triệu đảng viên trong toàn Đảng.

Đây là Đại hội của trí tuệ, đổi mới, đoàn kết và phát triển bền vững.

Chủ đề của Đại hội là: “Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển”.

Đại hội X của Đảng có nhiệm vụ nhìn thẳng vào sự thật để kiểm điểm, đánh giá khách quan, toàn diện thành tựu và những yếu kém, khuyết điểm, đồng thời rút ra những bài học kinh nghiệm qua việc thực hiện Nghị quyết Đại hội IX của Đảng, thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội 5 năm (2001 – 2005), chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 10 năm (2001-2010) và nhìn lại 20 năm đổi mới; từ đó tiếp tục phát triển và hoàn thiện đường lối, quan điểm, định ra phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ phát triển đất nước 5 năm tới (2006-2010); phương hướng, nhiệm vụ xây dựng Đảng; bổ sung sửa đổi một số điểm trong Điều lệ Đảng….

Đặc điểm của Đại hội X là không chỉ nhìn lại 5 năm sau Đại hội IX mà còn tổng kết cả 20 năm thực hiện đường lối đổi mới về mọi mặt, trong đó có lĩnh vực đối ngoại. Đại hội đã khẳng định đường lối đó “đúng đắn, sáng tạo, phù hợp thực tiễn Việt Nam”, vì vậy đã kế tục đường lối, chính sách đối ngoại được khởi xướng và kiên trì thực hiện trong suốt thời kỳ đổi mới với một số sự “cập nhật” cho phù hợp với tình hình mới. Đó là đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa đa dạng hóa các quan hệ quốc tế.

Một trong những quan điểm mới của Đảng tại ĐH lần này là Đảng viên làm kinh tế tư nhân không giới hạn về quy mô. Việc Đại hội ra Nghị quyết cho phép Đảng viên của Đảng được làm kinh tế tư nhân, kể cả kinh tế tư bản tư nhân là bước tiến quan trọng trong nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam sau 20 năm đổi mới, thể hiện bước đột phá trong thay đổi tư duy của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Trung ương gồm 160 ủy viên chính thức và 21 ủy viên dự khuyết, với Bộ Chính trị gồm 14 thành viên và Ban Bí thư có 8 thành viên.

Đồng chí Nông Đức Mạnh được bầu lại làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X.

Đồng chí Nguyễn Văn Chi, Uỷ viên Bộ Chính trị được bầu làm Chủ nhiệm Uỷ ban Kiểm tra Trung ương Đảng khoá X.

Đảng Cộng Sản Việt Nam Qua Các Kỳ Đại Hội

Đảng Cộng sản Việt Nam qua các kỳ Đại hội

Trải qua 90 năm xây dựng và phát triển, Đảng Cộng sản Việt Nam đã trải qua 12 kỳ Đại hội. Mỗi kỳ Đại hội Đảng là một mốc lịch sử quan trọng ghi nhận, đánh dấu những thắng lợi, thành tựu của cách mạng Việt Nam.

Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 3/2/1930. Ảnh chụp lại tranh của họa sĩ Phi Hoanh tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam

Dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam diễn ra từ ngày 6/1 đến 7/2/1930 tại Hồng Công (Trung Quốc), mang tầm vóc lịch sử của Đại hội thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hội nghị đã hợp nhất 3 tổ chức Cộng sản ở Việt Nam là Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn thành một đảng duy nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam, với mục tiêu lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam tiến hành giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người, tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Hội nghị đã đề ra Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt và Điều lệ vắn tắt, trong đó, Chánh cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt phản ánh nội dung cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hội nghị cũng ban hành Lời kêu gọi nhân dịp thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam của đồng chí Nguyễn Ái Quốc thay mặt Quốc tế Cộng sản và Đảng Cộng sản Việt Nam gửi đến công nhân, nông dân, binh lính, thanh niên, học sinh và tất cả đồng bào bị áp bức, bóc lột.

Đại hội I: Khôi phục tổ chức, thống nhất các phong trào đấu tranh cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng

Thời gian: từ 27 đến 31/3/1935 

Địa điểm: Ma Cao (Trung Quốc)

Số lượng đảng viên: 600 

Số lượng đại biểu tham dự Đại hội: 13

Tổng Bí thư do Đại hội bầu: Đồng chí Lê Hồng Phong 

Ban Chấp hành Trung ương Đảng được bầu tại Đại hội: 13 đồng chí 

Nhiệm vụ chính: Củng cố hệ thống tổ chức của Đảng từ Trung ương đến địa phương, từ trong nước đến nước ngoài. 

Đại hội đã thông qua Nghị quyết chính trị của Đảng; các nghị quyết về vận động công nhân, vận động nông dân, vận động thanh niên, phụ nữ, binh lính, về mặt trận phản đế, về đội tự vệ, về các dân tộc ít người…; Điều lệ của Đảng; Điều lệ của các tổ chức quần chúng của Đảng. 

Đại hội cử đồng chí Nguyễn Ái Quốc làm đại diện của Đảng Cộng sản Đông Dương bên cạnh Quốc tế Cộng sản. 

Tháng 7/1936, đồng chí Hà Huy Tập được cử làm Tổng Bí thư.

Tháng 3/1938, đồng chí Nguyễn Văn Cừ được cử làm Tổng Bí thư.

Đại hội đại biểu lần thứ I của Đảng là một sự kiện lịch sử quan trọng, đánh dấu thắng lợi căn bản của cuộc đấu tranh gìn giữ và khôi phục hệ thống tổ chức của Đảng từ trung ương đến cơ sở. Đây là một điều kiện cơ bản và cần thiết để Đảng bước vào một thời kỳ đấu tranh mới với một đội ngũ cán bộ đã được tôi luyện.

Đại hội lần thứ 2 của Đảng Cộng sản Việt nam

Đại hội II: Đưa cuộc kháng chiến chống Pháp đến thắng lợi hoàn toàn

Thời gian: Từ 11 đến 19/2/1951 

Địa điểm: Xã Vinh Quang, huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang 

Số lượng đảng viên trong cả nước:766.349

Số lượng đại biểu tham dự Đại hội: 158

Chủ tịch Đảng được bầu tại Đại hội: Chủ tịch Hồ Chí Minh 

Tổng Bí thư được bầu tại Đại hội: Đồng chí Trường Chinh

Ban Chấp hành Trung ương Đảng được bầu tại Đại hội: 29

Ủy viên Bộ Chính trị được bầu tại Đại hội: 7

Ủy viên Nhiệm vụ chính: Đưa cuộc kháng chiến chống Pháp đến thắng lợi hoàn toàn.

Đại hội đã tổng kết 21 năm Đảng lãnh đạo cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, 5 năm lãnh đạo chính quyền non trẻ và công cuộc kháng chiến kiến quốc.

Do sự phát triển và yêu cầu của sự nghiệp cách mạng và kháng chiến, Đại hội quyết định xây dựng ở mỗi nước Đông Dương một đảng cộng sản riêng. Ở Việt Nam, Đảng lấy tên là Đảng Lao động Việt Nam.

Đại hội thông qua Điều lệ của Đảng Lao động Việt Nam. Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và của nhân dân lao động Việt Nam.

 

Đảng lấy chủ nghĩa Marx-Lenin làm nền tảng tư tưởng và xây dựng Đảng theo nguyên tắc một Đảng vô sản kiểu mới, lấy tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt căn bản của Đảng; phê bình, tự phê bình là quy luật phát triển của Đảng; phục vụ nhân dân là mục tiêu hoạt động của Đảng.  Đại hội đánh dấu một mốc quan trọng trong quá trình lãnh đạo và trưởng thành của Đảng ta, đáp ứng yêu cầu cấp bách của thực tiễn, đưa cuộc kháng chiến chống Pháp đến thắng lợi hoàn toàn.

Đoàn Chủ tịch Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III Đảng Lao động Việt Nam, ngày 5/9/1960. (Ảnh: baotanglichsu.vn)

Đại hội III: Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh thống nhất nước nhà

Thời gian: Từ 5 đến 10/9/1960

Địa điểm: Thủ đô Hà Nội

Số lượng đảng viên trong cả nước: 500.000

Số lượng đại biểu tham dự Đại hội: 525 

Chủ tịch Đảng được bầu tại Đại hội: Chủ tịch Hồ Chí Minh

Bí thư thứ nhất được bầu tại Đại hội: Đồng chí Lê Duẩn

Ban Chấp hành Trung ương Đảng được bầu tại Đại hội: 47 uỷ viên

Bộ Chính trị được bầu tại Đại hội: 11 uỷ viên

Nhiệm vụ chính: Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà ở miền Nam.

Đại hội đã tổng kết 30 năm lãnh đạo của Đảng, nêu lên những bài học có ý nghĩa lý luận và thực tiễn của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Đại hội xác định nhiệm vụ cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là nhiệm vụ quyết định nhất đối với sự phát triển của toàn bộ cách mạng nước ta. Cách mạng miền Nam có nhiệm vụ giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, thực hiện hoà bình thống nhất nước nhà, hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước. 2 nhiệm vụ có mục tiêu chung là thực hiện hoà bình thống nhất Tổ quốc, đều nhằm giải quyết mâu thuẫn chung là mâu thuẫn giữa nhân dân ta với đế quốc Mỹ và tay sai của chúng.

 

Đại hội quyết nghị lấy ngày 3 tháng 2 dương lịch mỗi năm làm ngày kỷ niệm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng Cộng sản Việt Nam, Hà Nội, tháng 12/1976 (Ảnh: baotanglichsu.vn) 

Đại hội IV: Hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội

Thời gian: Từ 14 đến 20/12/1976

Địa điểm: Thủ đô Hà Nội

Số lượng đảng viên trong cả nước: 1.550.000

Số lượng đại biểu tham dự Đại hội: 1.008

Tổng Bí thư được bầu tại Đại hội: Đồng chí Lê Duẩn

Ban Chấp hành Trung ương Đảng được bầu tại Đại hội: 101 uỷ viên chính thức, 32 ủy viên dự khuyết.

Bộ Chính trị được bầu tại Đại hội: 14 uỷ viên chính thức, 3 ủy viên dự khuyết

Nhiệm vụ chính: Hàn gắn vết thương chiến tranh, từng bước khôi phục, phát triển đất nước.

Đại hội tổng kết những bài học lớn của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Đại hội xác định nhiệm vụ, phương châm và biện pháp công tác Đảng trong giai đoạn mới, bảo đảm cho Đảng làm tròn trách nhiệm lãnh đạo nhân dân cả nước tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa. 

Đại hội quyết định đổi tên Đảng Lao động Việt Nam thành Đảng Cộng sản Việt Nam và thông qua Điều lệ mới gồm 11 chương và 59 điều, đặt lại chức vụ Tổng Bí thư thay chức Bí thư thứ nhất, quy định nhiệm kỳ của Ban Chấp hành Trung ương là 5 năm.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V họp từ ngày 27 – 31/3/1982 tại Thủ đô Hà Nội. Ảnh: Báo Nhân dân

Ðại hội V: Tất cả vì Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, vì hạnh phúc của nhân dân

Thời gian: từ 27 đến 31/3/1982

Địa điểm: Thủ đô Hà Nội

Số lượng Đảng viên trong cả nước: 1.727.000

Số lượng đại biểu tham dự Đại hội: 1.033

Tổng Bí thư được bầu tại Đại hội: Đồng chí Lê Duẩn

Ban Chấp hành Trung ương Đảng được bầu tại Đại hội: 116 uỷ viên

Bộ Chính trị được bầu tại Đại hội: 13 uỷ viên

Nhiệm vụ chính: Xây dựng chủ nghĩa xã hội trên toàn lãnh thổ Việt Nam.

Đại hội nhận định, đất nước đứng trước những khó khăn lớn về kinh tế – xã hội mà một phần nguyên nhân là do khuyết điểm, sai lầm của các cơ quan Đảng và Nhà nước về lãnh đạo và quản lý. Do đó, Đảng phải lãnh đạo nhân dân thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. 

 

Đại hội thông qua những nhiệm vụ văn hoá, xã hội; tăng cường nhà nước xã hội chủ nghĩa, phát động phong trào cách mạng của quần chúng; chính sách đối ngoại; nhiệm vụ nâng cao sức chiến đấu của Đảng.  Đại hội đánh dấu một bước chuyển biến mới về sự lãnh đạo của Đảng trên con đường đấu tranh “Tất cả vì Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, vì hạnh phúc của nhân dân”.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng họp tại Hà Nội (Ảnh tư liệu)

Đại hội VI: Khởi xướng và lãnh đạo sự nghiệp đổi mới đất nước

Thời gian: Từ 15 đến 18/12/1986

Địa điểm: Thủ đô Hà Nội

Số lượng đảng viên trong cả nước: 2.109.613

Số lượng đại biểu tham dự Đại hội: 1.129

Tổng Bí thư được bầu tại Đại hội: Đồng chí Nguyễn Văn Linh

Ban Chấp hành Trung ương được bầu tại Đại hội: 124 uỷ viên

Bộ Chính trị được bầu tại Đại hội: 13 uỷ viên

Nhiệm vụ chính: Thực hiện đổi mới đất nước (khởi xướng đưa đất nước tiến hành công cuộc đổi mới)

Đại hội VI khẳng định quyết tâm đổi mới công tác lãnh đạo của Đảng theo tinh thần cách mạng và khoa học. Đại hội đã đưa ra quan điểm mới về cải tạo XHCN, trong đó, phải xây dựng quan hệ sản xuất mới trên cả ba mặt xây dựng chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, chế độ quản lý và chế độ phân phối XHCN.

 

Nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng, Đại hội VI của Đảng nhấn mạnh: Đảng phải đổi mới về nhiều mặt: đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế; đổi mới tổ chức; đổi mới đội ngũ cán bộ; đổi mới phong cách lãnh đạo và công tác. Nâng cao chất lượng đảng viên và sức mạnh chiến đấu của tổ chức cơ sở, tăng cường đoàn kết nhất trí trong Đảng là nhiệm vụ quan trọng, vừa cơ bản, vừa cấp bách của công tác xây dựng Đảng.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng. Ảnh tư liệu

Đại hội VII: Đổi mới toàn diện, đồng bộ, đưa đất nước tiến lên theo con đường XHCN

Thời gian: từ 24 đến 27/6/1991 

Địa điểm: Thủ đô Hà Nội 

Số lượng đảng viên trong cả nước: 2.155.022 

Số lượng đại biểu tham dự Đại hội: 1.176 

Tổng Bí thư được bầu tại Đại hội: Đồng chí Đỗ Mười 

Ban Chấp hành Trung ương Đảng được bầu tại Đại hội: 146 uỷ viên 

Bộ Chính trị được bầu tại Đại hội: 13 uỷ viên 

Nhiệm vụ chính: Tiếp tục thực hiện nhiệm vụ đưa đất nước đi theo con đường đổi mới. Đại hội khẳng định: Đổi mới toàn diện, đồng bộ, có nguyên tắc và có bước đi vững chắc, đó là mệnh lệnh của cuộc sống, là quá trình không thể đảo ngược. 

Với nhiệm vụ “Tiếp tục thực hiện nhiệm vụ đưa đất nước đi theo con đường đổi mới”, Đại hội VII lần đầu tiên thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH.

Đại hội một lần nữa khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc. Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản.

Đại hội VIII: Tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Thời gian: từ 28/6 đến 1/7/1996.

Địa điểm: Thủ đô Hà Nội

Số lượng Đảng viên trong cả nước: 2.130.000

Số lượng đại biểu tham dự Đại hội: 1.198 đại biểu

Tổng Bí thư được bầu tại Đại hội: Đồng chí Đỗ Mười

Ban Chấp hành Trung ương bầu tại Đại hội: 170 uỷ viên 

Bộ Chính trị bầu tại Đại hội: 19 uỷ viên

Nhiệm vụ chính: Thực hiện đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, quá độ lên chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Đại hội khẳng định: nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội, nhưng một số mặt còn chưa vững chắc. Đại hội đã đưa ra các định hướng phát triển các lĩnh vực chủ yếu trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

 

Đại hội VIII đánh dấu bước ngoặt chuyển đất nước ta sang thời kỳ mới – thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá; vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.  Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ tư (khoá VIII, tháng 12/1997) bầu đồng chí Lê Khả Phiêu làm Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam.

Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Ðảng diễn ra từ ngày 19 đến 22/4/2001 tại Hà Nội. Ảnh: Báo điện tử Nhân dân

Đại hội IX: Phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Thời gian: Từ 19-22/4/2001

Địa điểm: Thủ đô Hà Nội

Số lượng đảng viên trong cả nước: 2.479.719

Số lượng đại biểu tham dự Đại hội: 1.168

Tổng Bí thư được bầu tại Đại hội: Đồng chí Nông Đức Mạnh

Ban Chấp hành Trung ương Đảng được bầu tại Đại hội: 150  uỷ viên

Bộ Chính trị được bầu tại Đại hội: 15 uỷ viên

Nhiệm vụ chính: Phát huy sức mạnh toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Đại hội chỉ rõ mô hình tổng quát của thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam là phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng XHCN.

Đại hội khẳng định phải coi trọng xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Đó là nhiệm vụ then chốt, là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của Đảng ta, là nhân tố bảo đảm thắng lợi của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập khu vực và thế giới, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng diễn ra từ ngày 18 đến 25/4/2006 tại Hà Nội. Ảnh: Báo điện tử Nhân dân

Đại hội X: Huy động và sử dụng tốt mọi nguồn lực, sớm đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển

Thời gian:  Từ 18 đến 25/4/2006

Địa điểm: Thủ đô Hà Nội

Số lượng đảng viên trong cả nước: 3,1 triệu

Số lượng đại biểu tham dự Đại hội: 1.176

Tổng Bí thư được bầu tại Đại hội: Đồng chí Nông Đức Mạnh

Ban Chấp hành Trung ương Đảng được bầu tại Đại hội: 160 uỷ viên chính thức, 21 ủy viên dự khuyết

Bộ Chính trị được bầu tại Đại hội: 14 uỷ viên.

Nhiệm vụ chính: Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Ðảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, sớm đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển.

Đại hội đánh giá sau 20 năm đổi mới, đất nước ta đạt những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử; đồng thời nêu bật năm bài học lớn.

Đại hội quyết định mục tiêu tổng quát 5 năm tới là nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, huy động và sử dụng tốt mọi nguồn lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; phát triển văn hóa; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; tăng cường quốc phòng và an ninh, mở rộng quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế; giữ vững ổn định chính trị-xã hội; sớm đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển; tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

Đại hội XI: Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới đất nước

Đại hội XI: Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới đất nước

Thời gian: Từ 12 đến 19/1/2011

Địa điểm: Thủ đô Hà Nội

Số lượng đảng viên trong cả nước: 3,6 triệu

Số lượng đại biểu tham dự Đại hội: 1.377

Tổng Bí thư được bầu tại Đại hội: Đồng chí Nguyễn Phú Trọng

Ban Chấp hành Trung ương Đảng được bầu tại Đại hội: 175 uỷ viên chính thức, 25 ủy viên dự khuyết.

Bộ Chính trị được bầu tại Đại hội: 14 uỷ viên.

Nhiệm vụ chính: Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

Đại hội có nhiệm vụ nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật, đề cao tinh thần tự phê bình nghiêm túc, để kiểm điểm, đánh giá khách quan, toàn diện những thành tựu và yếu kém, khuyết điểm, đồng thời rút ra những bài học kinh nghiệm qua việc thực hiện Nghị quyết Đại hội X.

Đại hội XII: Đẩy mạnh công cuộc đổi mới, sớm đưa đất nước cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại

Đại hội XII: Đẩy mạnh công cuộc đổi mới, sớm đưa đất nước cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại

Thời gian: Từ 20 đến 28/1/2016

Địa điểm: Thủ đô Hà Nội

Số lượng đảng viên trong cả nước: 4,5 triệu

Số lượng đại biểu tham dự Đại hội: 1.510

Tổng Bí thư được bầu tại Đại hội: Đồng chí Nguyễn Phú Trọng

Ban Chấp hành Trung ương Đảng được bầu tại Đại hội: 180 uỷ viên chính thức, 20 ủy viên dự khuyết.

Bộ Chính trị được bầu tại Đại hội: 18 uỷ viên.

Nhiệm vụ chính: Đẩy mạnh công cuộc đổi mới; phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Đại hội đánh giá thành tựu và hạn chế sau 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước.

Đại hội đã đề ra các nhiệm vụ trọng tâm trong 5 năm tiếp theo, chủ yếu tập trung vào kinh tế, xây dựng Đảng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, kiên quyết bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

Đại hội này cũng là lần đầu tiên Đảng thực hiện Đề án Quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các chức danh lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước nhiệm kỳ 2016-2021 và các nhiệm kỳ tiếp theo. Theo đó công tác chuẩn bị nhân sự Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các chức danh lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước nhiệm kỳ 2016-2021 được tiến hành theo một quy trình chặt chẽ, bài bản, khoa học, thận trọng và thực sự phát huy dân chủ, giữ vững kỷ cương, tạo được sự thống nhất cao của các đại biểu dự Đại hội.

Nguồn: dangcongsan.vn

 

 

 

 

Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản Việt Nam Về Vấn Đề Tôn Giáo, Tín Ngưỡng

Cùng với sự nghiệp đổi mới, trước hết là đổi mới tư duy, Đảng Cộng sản Việt Nam (CSVN) đã từng bước đổi mới nhận thức về vấn đề tôn giáo và công tác tôn giáo. Bước ngoặt trong sự đổi mới tư duy lí luận của Đảng CSVN về vấn đề tôn giáo được đánh dấu bằng sự ra đời Nghị quyết số 24 của Bộ Chính trị, ngày 16/10/1990 về tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới.

Về nhận thức lí luận, Nghị quyết 24 nêu lên “3 luận đề” cơ bản về vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng: Một là, tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân; hai là, tôn giáo là vấn đề còn tồn tại lâu dài và ba là, đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới. Để có được những tư tưởng đổi mới có tính “đột phá” nêu trên, Đảng CSVN tìm tòi, trăn trở trên cơ sở vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề tôn giáo vào tình hình tôn giáo ở Việt Nam. Trong quá trình đổi mới, tư duy lí luận của Đảng CSVN về vấn đề tôn giáo tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện, nhất là Nghị quyết số 25 Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 7 (khóa IX), ngày 12/3/2003. Điều đó được thể hiện ở các nội dung cơ bản sau đây:

Một là, tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân. Đây là khâu đột phá đầu tiên trong nhận thức tư duy lí luận của Đảng CSVN về vấn đề tôn giáo. Quan điểm này đã đi vào vấn đề có tính “bản thể luận” của tôn giáo vì đã nêu lên và trả lời cho câu hỏi: Tôn giáo là gì? Trước đây, tôn giáo thường được tiếp cận từ hai góc độ tư tưởng triết học và chính trị với hai định nghĩa mang tính kinh điển: “tôn giáo là hình thái ý thức xã hội” và “tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”. Đây là hướng tiếp cận đúng, nhưng chưa đủ theo quan điểm mới của Đảng CSVN về vấn đề tôn giáo. Bởi vì, tôn giáo không chỉ là triết học (một bộ phận của thượng tầng kiến trúc, phản ánh thế giới quan, nhân sinh quan), không chỉ là vấn đề chính trị (bị các thế lực chính trị xấu lợi dụng), mà tôn giáo còn là lịch sử (phản ánh tiến trình lịch sử của nhân loại), là nhận thức (giải thích về thế giới và con người), là văn hóa (góp phần hình thành nên những nền văn minh và nếp sống văn hóa của loài người), là đạo đức (góp phần điều chỉnh hành vi của con người hướng tới những giá trị chân, thiện, mĩ), là lối sống (góp phần hình thành lối sống của những người có đạo) và tôn giáo là một thực thể xã hội (có lực lượng tín đồ hùng hậu, có tổ chức giáo hội, tôn giáo chân chính góp phần vào củng cố cộng đồng và sự ổn định xã hội), v.v…

Như vậy, với quan điểm nhìn nhận mới, Đảng CSVN không chỉ bó hẹp tôn giáo trong khuôn khổ của tư tưởng triết học và chính trị mà đa diện hơn, đúng với sự tồn tại và phản ánh của nó. Đây là một vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt, thể hiện tầm sâu trong tư duy nhận thức lí luận của Đảng CSVN về vấn đề tôn giáo. Điều đó đã khẳng định rõ thái độ của những người CSVN về sự tôn trọng nhu cầu đời sống tâm linh của nhân dân, một nhu cầu đích thực, chính đáng của quần chúng có đạo, thể hiện sự quan tâm và bảo đảm cho những lợi ích thiết thân của đồng bào các tôn giáo. Việc tôn trọng, bảo đảm và thỏa mãn nhu cầu đời sống tín ngưỡng lành mạnh, chính đáng của họ cũng giống như việc bảo vệ các quyền lợi khác của con người như ăn, ở, mặc, bảo vệ sức khoẻ, tự do, nhân quyền,dân chủ, v.v…

Hai là, từ việc khẳng định tôn giáo còn “tồn tại lâu dài” đến xác định rõ tôn giáo, tín ngưỡng “đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta”. Nếu như luận đề thứ nhất của Nghị quyết 24 đi vào vấn đề có tính “bản thể luận” của tôn giáo, thì luận đề thứ hai này lại đề cập tới “nguồn gốc và sự tồn tại” của tôn giáo. Trước đây, khi giải thích về sự ra đời, tồn tại và phát triển của tôn giáo, chúng ta thường chỉ nhấn mạnh đến hai nguồn gốc: tự nhiên và xã hội. Về nguồn gốc tự nhiên, do trình độ hiểu biết của con người còn hạn chế, không giải thích được thế giới tự nhiên, bất lực, sợ hãi trước thiên nhiên nên con người gán cho những hiện tượng tự nhiên là thần thánh, như Lênin đã chỉ rõ: sự sợ hãi đẻ ra thần thánh. Về nguồn gốc xã hội, khi xã hội hình thành đối kháng giai cấp và có sự áp bức bóc lột, thì “Sự bất lực của giai cấp bị bóc lột trong cuộc đấu tranh chống bọn bóc lột tất nhiên đẻ ra lòng tin vào cuộc đời tốt đẹp hơn ở thế giới bên kia, cũng giống y như sự bất lực của người dã man trong cuộc đấu tranh chống thiên nhiên đẻ ra lòng tin vào thần thánh, ma quỷ, vào những phép màu”, tức là người ta tìm đến với tôn giáo để được che chở và cứu vớt. Với quan điểm nhìn nhận mới, nguồn gốc tự nhiên và xã hội của tôn giáo vẫn đúng, nhưng chưa đủ. Vì tôn giáo ra đời, tồn tại và phát triển còn có những nguyên nhân khác nữa, trong đó có nguyên nhân nhận thức, tâm lí,… gắn với con người. Nhìn chung, các tôn giáo đều tập trung lí giải về những vấn đề cơ bản của triết học: con người từ đâu đến, con người đang đứng ở đâu, đặc biệt con người sau khi chết sẽ đi về đâu, mối quan hệ giữa con người khi sống và con người sau khi chết ra sao? Ở những góc độ khác nhau, các tôn giáo đều nhìn nhận thế giới sau cái chết với những lời giải thích rất hấp dẫn.

Do đó, chừng nào con người chưa khắc phục được cái bi kịch lớn nhất của cuộc đời về cái chết thì tôn giáo vẫn còn cơ sở để tồn tại. Đó là chưa kể trong cuộc sống thường ngày, dù xã hội có phát triển cao đến mấy, con người cũng khó có thể tránh khỏi hết những rủi ro, bất trắc,… cơ sở cho tôn giáo tồn tại và phát triển. Hơn nữa, con người đến với tôn giáo còn là sự biểu lộ niềm kính trọng, lòng biết ơn công sinh thành đối với ông bà tổ tiên, những người đã khuất, biết ơn những người có công với làng, với nước, v.v…Như vậy, với quan điểm nhìn nhận mới, Đảng CSVN cho rằng tôn giáo còn tồn tại lâu dài, không thể đơn giản cho rằng tôn giáo sẽ mất đi một sớm một chiều khi con người có thể khám phá, chinh phục được thiên nhiên, khi đời sống vật chất được nâng cao, tức là đã giải quyết được nguồn gốc tự nhiên. Đây là một nhận định mang tính khoa học và cách mạng sâu sắc của Đảng, phản ánh đúng tính tất yếu khách quan trong sự tồn tại và phát triển của tín ngưỡng, tôn giáo. Chính Ph. Ăngghen đã chỉ rõ: “Khi nào con người không chỉ mưu sự mà còn làm cho thành sự nữa, thì chỉ khi đó, cái sức mạnh xa lạ cuối cùng hiện nay vẫn còn đang phản ánh vào tôn giáo sẽ mất đi, và cùng với nó, bản thân sự phản ánh có tính chất tôn giáo cũng sẽ mất đi, vì khi đó sẽ không có gì để phản ánh nữa”. Từ luận đề tôn giáo còn tồn tại lâu dài, trong quá trình đổi mới, Đảng CSVN tiếp tục phát triển lên một bước mới, khẳng định rõ hơn tôn giáo “đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội”. Nhận thức này có ý nghĩa lí luận và thực tiễn sâu sắc, là sự phát triển có tính sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời phản ánh đúng quy luật tồn tại khách quan của tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Luận điểm này đã cụ thể hóa quan điểm “tồn tại lâu dài” của tôn giáo do Nghị quyết 24 nêu ra, nhưng phát triển rõ hơn trong mối quan hệ giữa dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Trên phương diện nhận thức, quan điểm này tránh được các cuộc tranh luận không cần thiết về vấn đề tôn giáo sẽ tồn tại đến khi nào? Đồng thời khắc phục được tư tưởng chủ quan, duy ý trí, nóng vội cho rằng tôn giáo sẽ mất đi nhanh chóng trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Theo quan điểm của chủ nghĩa MácLênin, tôn giáo chỉ mất đi khi những cơ sở kinh tế-xã hội, thậm chí là cả cơ sở tâm lí, nhận thức cho sự tồn tại của nó không còn nữa. Nghĩa là khi nào những cơ sở cho sự tồn tại của tôn giáo “không còn gì để phản ánh nữa”, như Ph.Ăngghen đã chỉ ra, thì khi ấy tôn giáo sẽ mất đi. Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với thế giới tự nhiên còn nhiều điều chưa thể đạt đến sự hợp lí, đặc biệt mặt trái của cơ chế thị trường, nh­iều tội phạm, sự phân hóa giàu nghèo, những rủi ro, bệnh tật, môi tr­ường sinh thái bị hủy hoại, v.v… vẫn còn là cơ sở khách quan cho tôn giáo tồn tại và phát triển trên những phạm vi nhất định.

Do đó, tôn giáo vẫn còn tồn tại, khó có thể đoán định đư­ợc “tuổi thọ” của tôn giáo, song chắc chắn rằng tôn giáo vẫn là một thực thể tồn tại trong chủ nghĩa xã hội. Ba là, từ việc thừa nhận “đạo đức tôn giáo” đến khẳng định những giá trị văn hóa, truyền thống tốt đẹp của tôn giáo và sự tư­ơng đồng giữa lí t­ưởng tôn giáo với mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, coi tôn giáo là một thành tố của văn hóa. Luận điểm này đề cập tới vai trò, chức năng và ảnh hư­ởng của tôn giáo. Đây là hư­ớng tiếp cận tôn giáo chủ yếu theo t­ư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng CSVN trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, như­ng đ­ược bổ sung hoàn thiện và làm sâu sắc hơn trong thời kì đổi mới.

Tôn giáo trong quá trình tồn tại và phát triển luôn bộc lộ hai mặt: tích cực và tiêu cực. Tr­ước đây do yêu cầu của cách mạng cần phải tập trung cho nhiệm vụ đấu tranh giải phóng dân tộc trong điều kiện các thế lực thù địch th­ường lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng nên chúng ta th­ường nhấn mạnh đến mặt tiêu cực, hạn chế của tôn giáo, nh­ư tư­ tư­ởng yếm thế, ru ngủ con ngư­ời. Nh­ưng quan điểm đổi mới của Đảng, bên cạnh mặt hạn chế cần khắc phục, cần trân trọng và phát huy những giá trị tích cực của tôn giáo, trong đó có mặt tích cực về đạo đức gắn với chủ nghĩa nhân văn. Tôn giáo có chức năng điều chỉnh hành vi xã hội của con ng­ười, h­ướng con ng­ười đến cái chân, thiện, mĩ. Tín đồ các tôn giáo với niềm tin vào đấng tối cao và cuộc sống vĩnh hằng sau khi chết, lo sợ bị trừng phạt hoặc bị “quả báo” nếu phạm tội hoặc làm điều ác nên đã có hành vi đạo đức h­ướng thiện.

Giáo lí, giáo luật và những lời răn dạy của tôn giáo đã tạo ra những quy phạm đạo đức hư­ớng con người làm các việc thiện lành, tránh điều ác, tu nhân tích đức để được giải thoát (theo quan niệm của Phật giáo), đ­ược lên Thiên Đàng (theo quan niệm của Kitô giáo, Islam giáo). Các tôn giáo không chỉ “thiêng hóa” các quy phạm đạo đức mà còn tạo ra dư­ luận xã hội để điều chỉnh hành vi của tín đồ hư­ớng về cái thiện, bài trừ cái ác. Như­ vậy, đạo đức tôn giáo góp phần điều chỉnh hành vi xã hội của con ngư­ời. Không dừng lại ở việc thừa nhận tính “phù hợp” của đạo đức tôn giáo với công cuộc xây dựng xã hội mới, trong quá trình đổi mới, tư­ duy lí luận của Đảng càng phát triển sâu sắc hơn khi khẳng định tôn giáo là một thành tố của văn hóa. Thực ra, quan điểm tôn giáo là một bộ phận của văn hóa đã đ­ược Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra ngay từ đầu những năm 40 của thế kỉ XX. Ngư­ời viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng nh­ư mục đích của cuộc sống, loài ngư­ời mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các ph­ương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” .

Tuy nhiên, do phải tập trung cho nhiệm vụ cách mạng giải phóng dân tộc nên những ý t­ưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh có điều kiện để thực hiện. Khi b­ước vào thời kì đổi mới, t­ư t­ởng của Ng­ười về tôn giáo nói chung, phát huy các giá trị văn hóa, đạo đức của tôn giáo nói riêng, đã đ­ược Đảng CSVN phát triển và làm rõ hơn. Chỉ thị 37 của Bộ Chính trị (2/7/1998) chỉ rõ: “Những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tôn giáo đư­ợc tôn trọng và khuyến khích phát huy”. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ­ương khoá VIII về Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc (16/7/1998), dành quan điểm thứ 8 về “Chính sách văn hóa đối với tôn giáo”, khẳng định: “Khuyến khích ý tư­ởng công bằng, bác ái, h­ướng thiện… trong tôn giáo”.

Tôn giáo, tín ng­ưỡng không đơn thuần chỉ là vấn đề thuộc về đời sống tâm linh, tinh thần, mà còn là vấn đề văn hóa, đạo đức, lối sống. Trên tinh thần ấy, Đảng CSVN coi tôn giáo là một thành tố của văn hóa, có những giá trị mà công cuộc xây dựng xã hội mới có thể tiếp thu. Điều ấy thể hiện một cách sâu sắc quan điểm thống nhất giữa lí luận và thực tiễn, giữa tồn tại xã hội với ý thức xã hội của Đảng CSVN về vấn đề tôn giáo, một lĩnh vực phức tạp và nhạy cảm. Tôn giáo bên cạnh những hạn chế cũng chứa đựng nhiều yếu tố hợp lí bởi tính nhân bản, nhân văn, tính h­ướng thiện của nó, những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới, góp phần bổ sung hoàn thiện cho việc xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Hơn nữa, mọi tôn giáo chân chính đều răn dạy tín đồ h­ướng tới cái chân, thiện, mĩ. Đó chính là điểm tư­ơng đồng, gặp gỡ với công cuộc đổi mới vì mục tiêu: “dân giàu, nư­ớc mạnh, công bằng, văn minh”.

Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội với chủ tr­ương, đư­ờng lối đúng đắn của Đảng và Nhà n­ớc ta, các tôn giáo đã và sẽ có sự điều chỉnh để thích ứng với xã hội mới. Đồng bào các tôn giáo ngày càng tham gia tích cực hơn vào phong trào thi đua yêu nư­ớc xây dựng cuộc sống “tốt đời, đẹp đạo”. Quan điểm nêu trên của Đảng đã góp phần khơi dậy, động viên đ­ược những giá trị tốt đẹp, phát huy tính tích cực, điểm tương đồng của tôn giáo với chủ nghĩa xã hội; phát huy tinh thần yêu n­ước của đồng bào các tôn giáo làm cho họ tự giác đấu tranh chống lại những luận điệu xuyên tạc, âm m­ưu lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch chống phá chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Việc khẳng định những điểm “tư­ơng đồng” giữa mục tiêu của tôn giáo với lí tư­ởng xã hội chủ nghĩa là một luận điểm mới có giá trị lí luận và thực tiễn sâu sắc, thể hiện sự vận dụng nhuần nhuyễn nét đặc sắc trong tư­ tư­ởng Hồ Chí Minh về việc khai thác, phát huy những giá trị tốt đẹp trong văn hóa, đạo đức của các tôn giáo với mục tiêu của công cuộc xây dựng xã hội mới ở n­ước ta hiện nay. Luận điểm này, một mặt, làm thất bại những âm m­ưu tuyên truyền xuyên tạc của các thế lực thù địch về chủ nghĩa cộng sản vô thần chống tôn giáo, vi phạm nhân quyền, dân chủ, vi phạm quyền tự do tín ng­ưỡng, tôn giáo; mặt khác, hạn chế mặt tiêu cực, phát huy mặt tích cực của các tôn giáo, tạo cơ sở cho sự đồng thuận xã hội. Mục tiêu “dân giàu, n­ước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” chính là điểm tư­ơng đồng, là mạch kết nối, nơi gặp gỡ giữa giá trị nhân bản trong tôn giáo với giá trị nhân văn của chủ nghĩa xã hội, có tác dụng huy động sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc trong công cuộc đổi mới đất nước.

Tín ngư­ỡng hay không tín ngư­ỡng là quyền tự do lựa chọn của mỗi công dân. Đấu tranh cho sự phồn vinh của Tổ quốc và hạnh phúc của nhân dân là lí t­ưởng thiêng liêng chung cho mọi ng­ười, là mục tiêu mà công cuộc xây dựng xã hội mới của chúng ta đang h­ướng tới, đồng thời cũng chính là ­ước vọng mà các tôn giáo theo đuổi. Đó chính là mẫu số chung để gắn kết đồng bào các tôn giáo với toàn thể nhân dân trong khối đại đoàn kết dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Mục đích cao cả của Phật Thích Ca và Chúa Giêsu đều giống nhau: Thích Ca và Giêsu đều muốn mọi ng­ười có cơm ăn, áo mặc, bình đẳng, tự do và thế giới đại đồng”. Còn “Chúng ta kháng chiến cứu nước, thi đua tăng gia sản xuất và tiết kiệm, cải cách ruộng đất làm cho ng­ời cày có ruộng, tín ng­ưỡng tự do. Nh­ư thế, những việc Chính phủ và nhân dân ta làm, đều hợp với tinh thần Phúc âm”. Trong mỗi tôn giáo đều có những hạt nhân triết học hợp lí, có giá trị nhân văn sâu sắc, nh­ư đức “từ bi” của Phật giáo, lòng “nhân nghĩa” của đạo Cao Đài và Phật giáo Hòa Hảo, tư­ tư­ởng “bác ái” của đạo Kitô, truyền thống uống n­ớc nhớ nguồn, lòng tự hào, tự tôn dân tộc của tín ng­ưỡng thờ cúng tổ tiên, là mẫu số chung – điểm t­ương đồng giữa văn hóa, đạo đức, tín ngư­ỡng, tôn giáo với văn hóa dân tộc. Đó cũng chính là chân giá trị mà nhân loại cũng nh­ư dân tộc ta luôn h­ướng tới. Hồ Chủ tịch đã đúc kết một cách sâu sắc những giá trị đạo đức của các tôn giáo lớn. Ngư­ời viết: “Chúa Giêsu dạy: Đạo đức là bác ái. Phật Thích Ca dạy: Đạo đức là từ bi. Khổng tử dạy: Đạo đức là nhân nghĩa”. Đại đa số đồng bào tôn giáo ở n­ước ta đều có tinh thần yêu n­ước, đồng hành cùng dân tộc trong quá trình chống giặc ngoại xâm và xây dựng đất n­ước, tham gia vào xây dựng và giữ gìn bản sắc dân tộc, đó là chủ nghĩa yêu nư­ớc, dân tộc và quốc gia có chủ quyền.

Để phát huy đư­ợc những điểm tư­ơng đồng ấy đòi hỏi phải kết hợp một cách biện chứng giữa lợi ích chung của sự phát triển đất nư­ớc với lợi ích cụ thể của đồng bào có tín ng­ưỡng, tôn giáo trên cả hai mặt đời sống vật chất và đời sống tinh thần, trong đó có nhu cầu về đời sống tôn giáo. Đây chính là động lực thúc đẩy phong trào thi đua yêu n­ước trong đồng bào các tôn giáo nhằm thực hiện nhiệm vụ kinh tế – xã hội và thực hiện ph­ương châm, đư­ờng h­ướng hành đạo gắn bó với dân tộc, tuân thủ pháp luật của các tôn giáo. Phát huy những điểm tư­ơng đồng, hư­ớng về mục tiêu chung của công cuộc đổi mới đất n­ước có tác dụng huy động sức mạnh tiềm năng của đồng bào các tôn giáo, tăng cư­ờng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, giúp đồng bào các tôn giáo đấu tranh chống các thế lực lợi dụng tín ng­ưỡng, tôn giáo gây mất đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo.

Đảng CSVN khẳng định, đồng bào các tôn giáo là một bộ phận không thể tách rời trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Trư­ớc khi trở thành tín đồ của một tôn giáo, họ là công dân của n­ước Việt Nam, cùng chung lo tới vận mệnh của dân tộc. Trên cơ sở thừa nhận tín ng­ưỡng, tôn giáo là một nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới, đồng bào các tôn giáo là một bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Đảng CSVN còn khẳng định thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng quyền tự do tín ng­ưỡng, tôn giáo; quyền đ­ược sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật của đồng bào có đạo và sự bình đẳng giữa các tôn giáo. Tôn trọng quyền tự do tín ngư­ỡng, tôn giáo tr­ước hết là tạo điều kiện, đảm bảo cho quần chúng có đạo đư­ợc tham gia sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật.

Mặt khác, phải chăm lo đến lợi ích thiết thân của bộ phận quần chúng đặc thù này. Nghĩa là phải chủ động giải quyết một cách kịp thời những nhu cầu sinh hoạt tín ng­ưỡng chính đáng của đồng bào có đạo đúng với pháp luật. Trong đó, quan trọng nhất là chăm lo nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho họ. Bốn là, việc khẳng định “giữ gìn và phát huy những giá trị tích cực của truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh những ng­ười có công với Tổ quốc và nhân dân” là một luận điểm mang ý nghĩa sâu sắc cả về mặt lí luận và thực tiễn. Quan điểm này hoàn toàn mới, có tính sáng tạo trong tư­ duy lí luận của Đảng CSVN về vấn đề tín ng­ưỡng, tôn giáo. Lần đầu tiên nội hàm của tín ngư­ỡng đư­ợc Đảng CSVN đề cập tới một cách chính thức trong văn kiện của mình.

Đây là quan điểm đúng đắn, phản ánh rõ truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh những người có công với làng, với n­ước của nhân dân Việt Nam. Trong tâm thức của ng­ười Việt Nam, thờ cúng tổ tiên, tôn vinh những có công với dân, với n­ước không đơn thuần chỉ là một loại hình tín ngư­ỡng mà cao hơn đó còn là một đạo lí “uống nư­ớc nhớ nguồn” của dân tộc. Đó là một truyền thống lâu đời đã ăn sâu trong tiềm thức, đời sống tâm linh, văn hóa, tinh thần của mỗi ngư­ời dân Việt Nam, trở thành một di sản văn hóa phi vật thể đậm đà bản sắc dân tộc, thể hiện lòng tự tôn, tự hào dân tộc. Chính vì vậy, các tôn giáo ngoại nhập, kể cả những tôn giáo độc thần như­ Công giáo khi vào Việt Nam cũng phải thừa nhận, tiếp thu loại hình tín ngưỡng truyền thống này. Trong cuốn Văn hóa và Đổi mới, cố Thủ tư­ớng Phạm Văn Đồng đã có một nhận xét sâu sắc về truyền thống thờ cúng tổ tiên như­ sau: “Từ xa x­a dân tộc ta không có tôn giáo theo nghĩa thông th­ường của nhiều n­ước khác. Còn nói tôn giáo là thờ cúng thì mọi ng­ười đều thờ cúng ông bà, mọi họ đều thờ cúng tổ tiên,… Từ góc độ văn hóa, tôi thấy đây là một đặc trư­ng đáng trọng của ng­ười Việt Nam, ở chỗ nó là sự tư­ởng nhớ những người có công trong việc tạo lập cuộc sống ngày nay trong mỗi gia đình và làng xóm”. Việc Đảng CSVN thừa nhận những giá trị tốt đẹp của truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh những ngư­ời có công với Tổ quốc và nhân dân, có một ý nghĩa hết sức quan trọng, có tác dụng to lớn, góp phần định h­ướng cho các tôn giáo đồng hành, gắn bó với dân tộc.

Mặt khác, việc phát huy những giá trị tích cực của truyền thống thờ cúng tổ tiên còn là nhân tố để khắc phục sự hẫng hụt, thiếu vắng trong đời sống tâm linh, văn hóa, tinh thần vốn là khoảng trống để các hiện t­ượng tôn giáo mới phát triển. Đoàn kết đồng bào các tôn giáo, giữ gìn và phát huy những giá trị tích cực của truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh những ngư­ời có công với Tổ quốc và nhân dân, đồng thời phải nghiêm cấm sự phân biệt đối xử với công dân vì lí do tín ngư­ỡng, tôn giáo; nghiêm cấm lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động trái pháp luật và chính sách của Nhà nư­ớc, kích động chia rẽ nhân dân, chia rẽ dân tộc, gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia. Đó là những quan điểm mang tính biện chứng sâu sắc trong lĩnh vực tín ngư­ỡng, tôn giáo, giữa xây dựng khối đoàn kết toàn dân với việc chống sự phân biệt, đối xử, chống âm m­ưu chia rẽ dân tộc, kích động gây rối; giữa giữ gìn, phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp với đấu tranh loại trừ các tệ nạn mê tín hủ tục nhằm bảo đảm cho môi tr­ường sinh hoạt tín ng­ưỡng, tôn giáo lành mạnh.

Quan điểm của ĐCSVN về công tác tôn giáo: Từ những quan điểm nhận thức mới về vấn đề tôn giáo, Nghị quyết 24 nêu lên “3 quan điểm” mới về công tác tôn giáo: Một là, vừa quan tâm giải quyết hợp lí nhu cầu tín ng­ưỡng của quần chúng, vừa cảnh giác kịp thời đấu tranh chống địch lợi dụng tôn giáo phá hoại cách mạng.

Hai là, nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng và ba là, công tác tôn giáo là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị.

Các quan điểm mới đó ngày càng đư­ợc bổ sung, hoàn thiện qua các Đại hội, hội nghị, chỉ thị tiếp theo của Đảng, nhất là Nghị quyết số 25 ra ngày 12/3/2003 về công tác tôn giáo. Một là, công tác tôn giáo vừa phải quan tâm hợp lí nhu cầu tín ngưỡng của quần chúng, vừa phải kịp thời đấu tranh chống địch lợi dụng tôn giáo để phá hoại cách mạng. Trong quan điểm này, Đảng CSVN nhấn mạnh đến 2 nội dung rất quan trọng của công tác tôn giáo. Đó là chăm lo đến đời sống tôn giáo của nhân dân và đấu tranh chống sự lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch. Trên cơ sở xác định tôn giáo là tình cảm, nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, Đảng CSVN chủ tr­ương thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngư­ỡng, tôn giáo của nhân dân.

Mọi ng­ười đ­ược tự do theo hoặc không theo một tôn giáo nào, khắc phục nhận thức thiển cận đối với tôn giáo và thái độ hẹp hòi, thành kiến, phân biệt đối xử với đồng bào có đạo. Tín đồ các tôn giáo đ­ược tự do sinh hoạt tôn giáo tại gia đình và nơi thờ tự theo nghi lễ truyền thống, có kinh sách để tu học, có chức sắc h­ướng dẫn việc đạo. Đặc biệt, Nghị quyết 24 đã mở ra việc giải quyết, công nhận về mặt tổ chức các tôn giáo nếu hội đủ các điều kiện: có đ­ường h­ướng hành đạo gắn bó với dân tộc, có tôn chỉ, mục đích, điều lệ phù hợp với luật pháp, chuẩn bị tốt về mặt nhân sự,… Sau khi đã đư­ợc công nhận, tổ chức tôn giáo đư­ợc thực hiện đầy đủ theo Hiến ch­ương, Điều lệ (hoặc giáo luật), như­ tổ chức đại hội, hội nghị, đào tạo, phong chức, bổ nhiệm chức sắc, xuất bản kinh sách, sản xuất đồ dùng việc đạo, xây sửa cơ sở thờ tự, quan hệ đối ngoại, v.v… Đây là quan điểm có ý nghĩa rất quan trọng để ứng xử cụ thể đối với từng tôn giáo, một mặt tạo điều kiện cho các tôn giáo hợp pháp chăm lo đời sống sinh hoạt của tín đồ, mặt khác đ­ưa sinh hoạt tôn giáo vào khuôn khổ quản lí nhà n­ước, góp phần loại bỏ các tà đạo nhằm làm lành mạnh hóa sinh hoạt tôn giáo. Bên cạnh việc chăm lo đời sống mọi mặt của đồng bào các tôn giáo, cần đấu tranh chống âm mư­u lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch chống phá sự nghiệp cách mạng.

Do đặc điểm của tôn giáo ở Việt Nam, trư­ớc đây khi xâm lư­ợc n­ước ta, các thế lực đế quốc đều tìm cách lợi dụng tôn giáo để phục vụ cho mục đích chính trị của chúng. Ngày nay, các thế lực thù địch vẫn không từ bỏ việc lợi dụng tôn giáo để chống phá cách mạng n­ước ta. Vì vậy, trong khi tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngư­ỡng, tôn giáo của nhân dân, Đảng CSVN chủ trương phải cảnh giác đấu tranh với những hoạt động lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch. Hai nhiệm vụ này có mối quan hệ gắn bó hữu cơ mật thiết với nhau. Giải quyết đúng đắn và đầy đủ nhu cầu tín ngư­ỡng, tôn giáo chính đáng của quần chúng là làm cho đồng bào có đạo yên tâm, tin t­ưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, tin vào chế độ và sự nghiệp đổi mới đất nư­ớc, hiểu rõ âm m­ưu thủ đoạn lợi dụng tôn giáo của các thế lực xấu, từ đó nêu cao cảnh giác để họ tự giác đấu tranh chống lại chúng, bảo vệ quyền tự do tín ng­ưỡng chính đáng của mình, bảo vệ an ninh Tổ quốc. Ng­ược lại, khi làm tốt công tác đấu tranh chống địch lợi dụng tôn giáo sẽ tạo môi tr­ường sinh hoạt tôn giáo lành mạnh, không bị địch lợi dụng để quần chúng yên tâm sinh hoạt tôn giáo. Nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng. Đây là quan điểm thể hiện tư­ duy lí luận sâu sắc của Đảng CSVN về công tác quần chúng nói chung, công tác tôn giáo nói riêng. Khi nói nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng, Đảng CSVN muốn nhấn mạnh đến bản chất và vai trò quyết định của công tác vận động quần chúng trong công tác tôn giáo. Suy cho cùng, công tác vận động quần chúng tín đồ là công tác đối với con ngư­ời, đó là những con ngư­ời – công dân – tín đồ. Họ là một đối tư­ợng quần chúng đặc thù, có điểm giống, nh­ưng cũng có điểm khác với các đối tượng quần chúng khác. Ở họ, giữa con ngư­ời công dân với con ngư­ời tín đồ luôn quyện chặt vào nhau, bổ sung cho nhau không thể tách rời và luôn h­ướng tới “tốt đời, đẹp đạo”.

Trong họ, quyền lợi và nghĩa vụ song trùng giữa con người công dân có quyền lợi, nghĩa vụ với Tổ quốc và con ng­ười tín đồ có quyền lợi, bổn phận với đạo, với giáo hội của mình. Bởi vậy, công tác vận động quần chúng tín đồ không đơn thuần chỉ là công tác tuyên truyền giáo dục mà còn là công tác tập hợp tín đồ các tôn giáo trong các đoàn thể quần chúng, công tác xây dựng cốt cán, công tác đối với các chức sắc, nhà tu hành, các nhân sĩ trí thức trong các tôn giáo. Công tác vận động quần chúng còn là “tăng cư­ờng công tác giáo dục, y tế, văn hóa, khoa học, kĩ thuật, nâng cao dân trí, nhất là ở những vùng đông đồng bào có đạo”, tức là phải chăm lo việc ăn, mặc, ở, đi lại, giáo dục, y tế, hư­ởng thụ văn hóa, v.v… để nâng cao đời sống dân sinh, trình độ dân trí cho quần chúng. Về khía cạnh tôn giáo, công tác vận động quần chúng tín đồ phải thực hiện tốt chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngư­ỡng, tôn giáo, chứ không phải là tuyên truyền thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cách mạng để “giải phóng” quần chúng khỏi “đám mây mù” tôn giáo; cũng không phải tốn thời gian vào các cuộc tranh luận vô bổ có hay không có Đấng tối cao, có hay không có Thiên Đư­ờng mà là vận động quần chúng tín đồ các tôn giáo xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc ngay trên thế gian này. Nói tóm lại, công tác vận động quần chúng có đạo là làm cho đồng bào đư­ợc “phần xác no ấm, phần hồn thong dong”. Làm đ­ược điều đó cũng chính là đã tạo điều kiện để đồng bào có đạo tích cực tham gia xây dựng cuộc sống “tốt đời, đẹp đạo”, góp phần cùng toàn dân thực hiện thắng lợi mục tiêu: “dân giàu, nư­ớc mạnh, công bằng, văn minh”. 

Bốn là, việc theo đạo, truyền đạo cũng như­ mọi hoạt động tôn giáo khác phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật. Đây là quan điểm có vị trí đặc biệt quan trọng phản ánh rõ đời sống sinh hoạt tín ng­ưỡng, tôn giáo ở n­ước ta ngày càng đư­ợc mở rộng cùng với quá trình đổi mới, dân chủ hóa đời sống xã hội. Như­ng đồng thời cũng xuất hiện những vấn đề phức tạp trong đời sống sinh hoạt tôn giáo cần được chấn chỉnh. Cùng với việc khẳng định quyền tự do hoạt động tôn giáo của tín đồ và các tổ chức tôn giáo hợp pháp, cần nghiêm cấm các tổ chức, cá nhân ch­ưa đ­ược nhà n­ước thừa nhận t­ư cách pháp nhân truyền đạo, nghiêm cấm việc lợi dụng hoạt động tôn giáo để tuyên truyền tà đạo, hoạt động mê tín dị đoan, trục lợi cá nhân hay ép buộc ngư­ời khác theo đạo. Điều đó không chỉ bảo đảm cho hoạt động tôn giáo theo pháp luật, giữ vững tình hình chính trị – xã hội mà còn bảo vệ các tôn giáo chân chính, chống tà đạo và hiện t­ượng mê tín dị đoan nhằm làm lành mạnh hóa môi trư­ờng sinh hoạt tôn giáo theo nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của quần chúng tín đồ, chức sắc các tôn giáo. Hoạt động tôn giáo, nhất là hoạt động truyền giáo luôn mang tính xã hội và ảnh h­ưởng đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Do đó, cũng phải tuân thủ và chịu sự quản lí của nhà n­ước thế tục. Vì vậy, bất cứ một quốc gia nào v­ới những hình thức khác nhau đều có các chính sách hay pháp luật để quản lí các hoạt động tôn giáo, nhất là hoạt động truyền giáo nhằm giữ vững ổn định chính trị, bảo vệ các giá trị văn hóa truyền thống của mình. Tóm lại, cùng với công cuộc đổi mới toàn diện đất n­ước, dân chủ hóa đời sống xã hội, Đảng và Nhà n­ước ta cũng từng b­ước xây dựng hoàn thiện chính sách đổi mới về công tác tôn giáo theo quan điểm thống nhất giữa lí luận và thực tiễn. Qua đó, nhận thức­ duy lí luận và khả năng tổng kết thực tiễn về vấn đề tín ngư­ỡng, tôn giáo của Đảng CSVN ngày càng phát triển. Đó là điều kiện quan trọng có tính quyết định đến sự thành công của công tác tôn giáo, góp phần vào sự ổn định và phát triển của đất n­ước trong thời gian vừa qua./.

Ngô Hải Linh

Công ty Cổ phần Bảo hiểm NHNo – Chi nhánh Phú Thọ