Văn Bản Của Đảng Là Gì / Top 10 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Bac.edu.vn

Nguồn Gốc Của Văn Bản Là Gì

Người ta cho rằng những người phát minh ra văn bản đầu tiên là người Sumer, người sinh sống ở miền Nam Mesopotamia. Mã viết đầu tiên xuất hiện ở đó vào năm 3100 trước Jesus và ngay sau khi viết lại được phát minh ra cách đó gần 1600 km, ở Ai Cập. Trong bài viết này, từ .com chúng tôi sẽ giải thích nguồn gốc của văn bản là gì, hãy đọc kỹ. Viết là một trong những sáng tạo tối cao của con người. Điều tuyệt vời là, mặc dù với các dấu hiệu khác nhau, nó đã xuất hiện ở các thị trấn và thời gian khác nhau. Nhưng ông luôn có sứ mệnh siêu việt là cứu lấy suy nghĩ của con người và truyền nó cho các thế hệ tương lai.

Nguồn gốc của văn bản

Trong những năm 100.000 đến 40.000 BC, con người đã phát triển ngôn ngữ, khoảng 30.000 năm trước Công nguyên, ông bắt đầu vẽ những chữ tượng hình đầu tiên trong các hang động ở Tây Âu.

3000 năm trước Công nguyên xuất hiện những câu thánh thư đầu tiên ở Sumer (Mesopotamia châu Á), sau đó người Ai Cập xuất hiện trước những người coi cha đẻ của văn bản.

Viết ở Ai Cập

Dường như người Ai Cập đã lấy ý tưởng về văn bản của người Sumer, vì có sự tiếp xúc giữa hai nền văn hóa; nhưng các biểu tượng được sử dụng bởi cả hai là hoàn toàn khác nhau. Ngoài ra, người Umeria viết trên những viên đất sét hoặc đất sét, trong khi người Ai Cập ghi lại những hình vẽ và dấu hiệu của họ trên di tích hoặc vẽ chúng trên những con tàu hoặc cuộn giấy cói, một loại giấy làm từ sợi cây mọc trên bờ sông. Sông Nile

Chữ viết ở Ả Rập

Vào khoảng năm 2500, văn bản được phát minh ra trong số các Elamite, những người chiếm giữ các vùng đất ngày nay hình thành nên Iran; và gần như đồng thời nó phát sinh tại thung lũng sông Indus, phía bắc Ấn Độ, nơi hiện là Pakistan.

Viết ở Châu Á và Châu Mỹ

Trong khi đó ở thung lũng sông Hoàng Hà, người dân Trung Quốc cũng phát minh ra chữ viết. Người Inca là những người duy nhất trên thế giới phát triển một nền văn minh lộng lẫy mà không cần biết viết. Các sổ đăng ký và điều tra dân số cho phép họ kiểm soát đế chế rộng lớn của họ được duy trì bằng một hệ thống dây thừng thắt nút được gọi là quipos phục vụ như viết và tính toán.

Nhiều nguồn gốc của Kinh thánh

Không có nguồn gốc duy nhất của văn bản; Ông được sinh ra độc lập ở những nơi khác nhau trên thế giới. Dường như những người đầu tiên viết là người Sumer và người Ai Cập vào khoảng 3500-3200 trước Công nguyên. Không rõ ai trong hai dân tộc này đã phát minh ra chữ viết ngay từ đầu, mặc dù có vẻ như văn bản Ai Cập có một số ảnh hưởng của người Sumer chứ không phải ngược lại. Họ là những người đã biết đến nông nghiệp trong hàng ngàn năm và họ cảm thấy cần một hệ thống ký hiệu cho các sản phẩm nông nghiệp. Nói chung, chủ quyền áp thuế đối với các vấn đề của riêng họ như nông sản. Họ sử dụng các tài nguyên này để chi trả cho việc xây dựng các cung điện và đền thờ, để duy trì quân đội, các quan chức tòa án, tòa án, v.v. Ngoài ra trong các sàn giao dịch thương mại, mọi người cảm thấy cần phải được phép thực hiện các mục nhập hàng hóa. Điều tương tự cũng đúng với những lời đề nghị được đưa đến các đền thờ. Phát minh về văn bản được theo sát bởi nhiều sáng kiến ​​khác của thời đại đồ đá mới, như xây dựng các thành phố, sử dụng đồng, phát minh ra bánh xe, bánh xe của thợ gốm và máy dệt để dệt. Trong thời kỳ này, nông nghiệp và chăn nuôi lan rộng và điều quan trọng hơn là có thể chỉ ra hàng hóa và con người trong tâm trí các tài liệu và trong các hoạt động thương mại.

Thuyết Minh Là Gì? Đặc Điểm Và Tính Chất Của Văn Bản Thuyết Minh Là Gì?

Số lượt đọc bài viết: 23.161

Thuyết minh theo khái niệm với nghĩa là làm rõ, giải thích hay giới thiệu.

Thuyết minh cũng có nghĩa là giúp hướng dẫn, giải thích cách dùng.

Văn bản thuyết minh là gì?

Văn thuyết minh là gì? Văn bản thuyết mình là dạng văn bản rất thường gặp trong cuộc sống thường ngày. Trong giáo dục các giáo viên rất chú trọng dạy học sinh nội dung thể loại văn này để sử dụng, nhận biết và giúp thể hiện được chân thực các hiện tượng, sự vật.

Văn bản thuyết minh sẽ cung cấp cho người đọc, người nghe những kiến thức cụ thể về đặc điểm, tính chất, tác dụng, thành phần,… của những hiện tượng và sự vật trong tự nhiên cũng như trong xã hội bằng cách giải thích, giới thiệu hay trình bày. Với thuyết minh, người ta thể hiện văn chương qua phương cách trình bày giới thiệu hoặc giải thích cho người nghe hiểu rõ.

Khác với những dạng văn trừu tượng, văn thuyết minh phải được chủ thể trình bày một cách chính xác, chặt chẽ, rõ ràng. Nhằm cung cấp thông tin chuẩn xác cho người nghe, không đan xen trí tưởng tượng hay thêm bớt, nói quá.

Chính vì vậy, cách thức trình bày văn bản thuyết minh yêu cầu mạch lạc, rõ ý, kết cấu chặt chẽ và cuốn hút người đọc. Không trình bày lủng củng theo ý khiến người đọc không hiểu hết ý của người viết. Lời văn lịch sự, chuẩn văn phong ngữ pháp tiếng Việt, rõ ràng.

Tuy nhiên, người viết văn bản thuyết minh cũng cần ghi điểm, truyền cảm hứng cho đối phương, tạo nên sự hấp dẫn riêng của văn bản. Vì thế nên bạn có thể thấy người viết đưa vào câu chuyện để kể. Đôi khi bạn đi vào các viện bảo tàng, các hướng dẫn viên sẽ thuyết minh về lịch sử địa danh cụ thể, chiến tích.

Giới thiệu về một nhân vật lịch sử cụ thể

Giới thiệu về một vùng quê, một khu vực địa lý

Giới thiệu về một vài món đặc sản, hay món ăn cụ thể nào đó

Giới thiệu về vị thuốc, thảo dược có lợi cho sức khỏe

Giới thiệu về một loài hoa, sinh vật có trong tự nhiên,…

Các phương pháp thuyết minh

Để có một văn bản thuyết minh mạch lạc, rõ ràng, dễ hiểu cũng như thuyết phục, bạn cần nắm rõ các phương pháp thuyết minh để ứng dụng một cách tốt nhất.

Phương pháp liệt kê các măt, hoặc các phần, các tính chất hay các phương diện… của đối tượng theo một trình tự nhất định. Điều này giúp cung cấp cho người đọc có được cái nhìn toàn cảnh về đối tượng một cách khách quan nhất.

Đây là phương pháp giúp so sánh đối tượng hay các khía cạnh của đối tượng… đối với những cái gần gũi và cụ thể đề giúp cho người đọc có thể tiếp cận vấn đề một cách dễ hiệu và nhanh chóng.

Đây là phương pháp giúp đưa ra những ví dụ thực tiễn và sinh động, một cách chính xác và cụ thể, đồng thời cũng có tác dụng thuyết phục cao, làm cho người đọc tin cậy.

Phương pháp nêu con số (số liệu) có tác dụng giúp làm cụ thể và sáng tỏ vấn đề đồng thời có sức thuyết phục nhất về đặc điểm cũng như vai trò nào đó của đối tượng.

Phương pháp giải thích, nêu định nghĩa

Phương pháp này sử dụng kiểu câu trần thuật với từ ” là ” nhằm giải thích, định nghĩa hay giới thiệu sự vật, hiện hượng, vấn đề nào đó.

Phương pháp phân tích hay phân loại

Phương pháp này bản chất chính là việc phân loại hay chia ra từng phần theo những đặc điểm của đối tượng thuyết minh. Phương pháp phân loại hay phân tích này có ưu điểm là mang tính khách quan, lại đầy đủ và dễ hiểu với đối tượng người đọc.

Tìm hiểu bố cục bài văn thuyết minh

Bao gồm 3 phần là mở bài, thân bài và kết bài. Cụ thể như sau

Mở bài: Giới thiệu sơ qua về đối tượng được thuyết minh, gợi mở cho quý khách

Thân bài: Trình bày chi tiết về tính chất, đặc biệt, sự kiện và bản chất của sự việc, hiện tượng hướng tới. Giải thích được nguyên nhân, nguồn gốc, cấu tạo, chức năng, kết cấu để cung cấp thông tin chi tiết cho người đọc.

Kết bài: Đánh giá về đối tượng, tổng kết lại nội dung của toàn bài.

Tính chất của văn thuyết minh là gì?

Toàn bộ kiến thức được trình bày trong văn thuyết minh đòi hỏi tính chính xác, khách quan không xuất phát từ ý kiến chủ quan của con người. Vì thế mà người viết cần có sự tìm hiểu về sự vật, hiện tượng đó trước khi trình bày. Đem lại kiến thức bổ ích cho người nghe như dạng trang bị thêm thông tin.

Thể loại văn này khác với văn nghị luận, miêu tả, tự sự, toàn bộ thông tin phải được cung cấp đúng sự thật, không mang tính chất hư cấu. Bởi vậy mọi người khi có nhu cầu đọc văn này sẽ nhận được thông tin mà mình mong muốn chuẩn nhất. Tránh trường hợp hiểu sai dẫn tới nhiều việc sai lầm. Con người sẽ vận dụng kiến thức này vào cuộc sống để thực hiện công việc có lợi cho mình.

Văn bản này gắn liền với tư duy khoa học ở trình độ sâu, đòi hỏi sự chính xác. Người làm văn bản phải trải qua quá trình tìm hiểu, điều tra, nghiên cứu, học hỏi kiến thức để thể hiện cụ thể, rõ ràng nhất. Thông dụng nhất chúng ta thường thấy văn bản thuyết minh trình bày cấu tạo, chức năng, cách dùng,…để con người hiểu.

Các văn bản thuyết minh quan trọng là yếu tố xác thực luôn được đặt lên hàng đầu để đánh giá chất lượng. Phân tích kỹ nghĩa của từ thuyết minh, trong đó thuyết là thuyết phục, minh là chứng minh. Đó chính là dùng lập luận, lý lẽ dẫn chứng để giải thích cụ thể, làm sáng tỏ vấn đề.

Tính chất của thể loại này là độ chính xác cần cao độ, người viết có kiến thức sâu rộng về lĩnh vực mình viết và trình bày. Số liệu tìm hiểu chuẩn, không ước chừng hay vay mượn ở nơi khác.

Ngôn ngữ diễn đạt trong văn bản cô đọng, dễ hiểu, rõ ràng, chính xác và lịch sự. Không viết kiểu văn dài dòng, mơ hồ hay văn vẻ, trừu tượng trong thể loại thuyết minh này.

Đặc điểm của văn thuyết minh là gì?

Văn bản thuyết minh đỏi hòi tính khách quan, chính xác, mang lại lợi ích cho con người phục vụ công việc và cuộc sống tốt nhất

Trình bày văn bản rõ ràng, mạch lạc, đủ nội dung đúng ý, kết cấu phân chia rõ

Người viết am hiểu về nội dung mình đang viết tới để trình bày đúng, đủ ý, truyền đạt cho người đọc hiểu và sử dụng có ích

Để văn thuyết minh trở nên hấp dẫn thì người viết có thể sử dụng các biện pháp nghệ thuật. Góp phần làm nổi bật đặc điểm, tính chất, nhấn mạnh ý chính trong bài viết và gây hứng thú cho người đọc. Một số biện pháp nổi bật như kể chuyện, tự thuật, đối thoại, diễn ra, tự luận, ẩn thụ,…

Các yếu tố đan xen trong văn thuyết minh

Sử dụng kết hợp các biện pháp tu từ

Với mục đích giúp văn bản thuyết minh được sinh động, cụ thể và hấp dẫn hơn, ta có thể thêm một số biện pháp tu từ trong văn bản, điển hình như ẩn dụ, hoán dụ, nhân hóa, so sánh…. Các biện pháp này khi được kết hợp sẽ giúp khơi gợi sự cảm thụ về đối tượng thuyết minh.

Yếu tố miêu tả trong văn thuyết minh

Biện pháp miêu tả được sử dụng trong văn bản thuyết minh giúp hiện tượng, sự vật trở nên chân thực, rõ nét và khách quan hơn. Với màu sắc, đường nét, âm thanh hay hương vị từ miêu tả mà giúp người đọc có thể cảm nhận cụ thể hơn.

Tìm hiểu cách làm bài văn thuyết minh

Bước 1:

Xác định đối tượng cần phải thuyết minh.

Sưu tầm và ghi chép, lựa chọn các tư liệu cho bài viết.

Lựa chọn phương pháp thuyết minh sao cho phù hợp.

Sử dụng ngôn từ dễ hiểu nhằm làm nổi bật đặc điểm của đối tượng.

Bước 2: Lập dàn ý bài văn thuyết minh chi tiết.

Bước 3: Viết bài văn thuyết minh hoàn chỉnh.

Please follow and like us:

Phê Bình Văn Bản Là Gì?

Câu hỏi: Phê bình văn bản là gì?

Trả lời: Nói một cách đơn giản, phê bình văn bản là một phương pháp được sử dụng để xác định điều bản thảo gốc của Kinh Thánh nói. Bản thảo gốc của Kinh Thánh đã bị mất, che giấu, hoặc không còn tồn tại nữa. Những gì chúng ta có là hàng chục ngàn bản sao của những bản thảo gốc có niên đại từ thế kỷ thứ hai đến thế kỷ thứ 15 sau Công Nguyên (cho Tân Ước) và có niên đại từ thế kỷ thứ 4 trước Công Nguyên đến thế kỷ thứ 15 sau Công Nguyên (cho Cựu Ước). Trong những bản thảo này, có nhiều sự khác biệt nhỏ và một vài khác biệt đáng kể. Phê bình văn bản là sự nghiên cứu của những bản thảo này nhằm xác định xem bản gốc thực sự là gì.

Có ba phương pháp chính để phê bình văn bản. Đầu tiên là Textus Receptus. Textus Receptus là một bản thảo của Kinh Thánh được biên soạn bởi một người tên là Erasmus vào những năm 1500 sau Công Nguyên. Ông lấy số lượng bản thảo có giới hạn mà ông đã truy cập và biên soạn chúng thành thứ cuối cùng được gọi là Textus Receptus.

Phương pháp thứ hai được gọi là Majority Text. The Majority Text lấy tất cả các bản thảo có sẵn ngày nay, so sánh sự khác biệt và chọn bản có khả năng chính xác dựa trên việc bản nào xuất hiện nhiều nhất. Ví dụ, nếu 748 bản thảo đọc “ông ấy nói” và 1429 bản thảo đọc “họ nói” thì Majority Text sẽ chọn “họ nói” là bản gốc có khả năng. Không có bản dịch Kinh Thánh chính nào dựa trên Majority Text.

Phương pháp thứ ba được gọi là phương pháp phê bình hoặc chiết trung. Phương pháp chiết trung bao gồm việc xem xét các bằng chứng bên ngoài và bên trong để xác định văn bản gốc có khả năng. Bằng chứng bên ngoài làm cho chúng ta hỏi những câu hỏi này: trong đó có bao nhiêu bản thảo có bài đọc xuất hiện? Niên đại của những bản thảo này là gì? những bản thảo này được tìm thấy ở những khu vực nào trên thế giới? Bằng chứng bên trong nhắc nhở những câu hỏi này: điều gì có thể đã gây ra những bài đọc khác nhau? Bài đọc nào có thể có khả năng giải thích nguồn gốc của các bài đọc khác?

Phương pháp nào là chính xác nhất? Đó là nơi cuộc tranh luận bắt đầu. Khi các phương pháp được mô tả lần đầu tiên cho một người nào đó, thì người đó thường chọn phương pháp Majority Text làm phương pháp nên được sử dụng. Về cơ bản nó là “quy tắc đa số” và phương pháp “dân chủ”. Tuy nhiên, có một vấn đề khu vực để xem xét ở đây. Trong vài thế kỷ đầu tiên của Hội Thánh, đại đa số các Cơ Đốc nhân đã nói và viết bằng tiếng Hy Lạp. Bắt đầu từ thế kỷ thứ 4 sau Công Nguyên, tiếng La-tin bắt đầu trở thành ngôn ngữ phổ biến nhất, đặc biệt là trong nhà thờ. Bắt đầu với bản Latin Vulgate, Tân Ước bắt đầu được sao chép bằng tiếng La-tin thay vì tiếng Hy Lạp.

Tuy nhiên, trong thế giới Cơ Đốc phương đông, tiếng Hy Lạp tiếp tục là ngôn ngữ chủ đạo của nhà thờ trong hơn 1.000 năm nữa. Kết quả là, phần lớn các bản thảo tiếng Hy Lạp đến từ khu vực phương Đông/Đế quốc Đông La Mã. Những bản thảo Đế quốc Đông La Mã này đều rất giống nhau. Tất cả chúng đều có nguồn gốc từ cùng một vài bản thảo tiếng Hy Lạp. Mặc dù rất giống nhau, nhưng các bản thảo Đế quốc Đông La Mã có nhiều sự khác biệt so với các bản thảo được tìm thấy ở các khu vực phía Tây và trung tâm của nhà thờ. Tóm lại: nếu bạn bắt đầu với ba bản thảo, và một bản được sao chép 100 lần, một bản khác được sao chép 200 lần, và bản thứ ba được sao chép 5.000 lần, nhóm nào sẽ có quy tắc đa số? Tất nhiên là nhóm thứ ba. Tuy nhiên, nhóm thứ ba không có khả năng có bản gốc nhiều hơn nhóm thứ nhất hoặc nhóm thứ hai. Nó chỉ có nhiều bản sao hơn. Phương pháp phê bình/chiết trung của phê bình văn bản đưa ra “trọng lượng” bằng nhau cho các bản thảo từ các vùng khác nhau, mặc dù các bản thảo từ phương Đông có đa số áp đảo.

Phương pháp phê bình/chiết trung hoạt động như thế nào trong thực tế? Nếu bạn so sánh Giăng 5:1-9 trong nhiều bản dịch khác nhau, bạn sẽ nhận thấy rằng câu 4 bị thiếu trong các bản dịch dựa theo phương pháp chiết trung. Trong phương pháp Textus Receptus, Giăng 5:4 đọc, “Vì một thiên sứ thỉnh thoảng giáng xuống trong ao, làm cho nước động, lúc nước đã động rồi, ai xuống ao trước hết, bất kì mắc bệnh gì, cũng được lành”. Tại sao câu này lại thiếu trong bản dịch Kinh Thánh sử dụng phương pháp chiết trung? Phương pháp chiết trung hoạt động như sau: (1) Bản văn của Giăng 5:4 không xảy ra trong hầu hết các bản thảo cổ nhất. (2) Bản văn của Giăng 5:4 xảy ra trong tất cả các bản thảo của Đế quốc Đông La Mã, nhưng không có nhiều bản thảo không phải của phương Đông. (3) Có khả năng là người sao chép bản thảo sẽ thêm một lời giải thích hơn là sẽ loại bỏ một lời giải thích. Giăng 5:4 làm cho nó rõ ràng hơn tại sao người bại muốn vào trong ao. Tại sao người sao chép bản thảo lại xóa câu này? Điều đó không có ý nghĩa. Nó có ý nghĩa về mặt truyền thống của lý do tại sao người bại muốn đi xuống ao sẽ được thêm vào. Theo kết quả của những khái niệm này, phương pháp phê bình/chiết trung không bao gồm Giăng 5:4.

Trở lại trang chủ tiếng Việt Phê bình văn bản là gì?

Văn Bản Thuyết Minh Là Gì?

Khi viết báo cáo, thông tin, hợp đồng,… có nhiều loại văn bản được sử dụng để diễn đạt thông tin đó. Có thể là văn bản hành chính, công vụ, văn bản nghị luận nhưng loại văn bản hay được sử dụng nhất là văn bản thuyết minh. Trong seri hướng dẫn học và ôn tập ngữ văn trung học cơ sở này mình sẽ giới thiệu về loại văn bản này.

Văn bản thuyết minh là kiểu văn bản thông dụng trong mọi lĩnh vực của đời sống. Nó cung cấp tri thức khách quan về đặc điểm, tính chất, nguyên nhân … của sự vật hiện tượng trong tự nhiên, xã hội bằng phương thức trình bày, giải thích.

Có 6 phương pháp thuyết minh chính mà các bạn cần ghi nhớ gồm:

Phương pháp thuyết minh định nghĩa, giải thích

Định nghĩa, giải thích về một danh từ, tính từ, sự việc, sự vật… Ví dụ như định nghĩa tam giác là gì hay giải thích vì sao một tam giác là tam giác vuông ….

Phương pháp liệt kê

Là liệt kê những thông tin mà đối tượng có như một chiếc xe đạp thì có các bộ phận như bánh xe, yên xe, sườn xe, cổ xe…

Phương pháp nêu ví dụ

Nêu một ví dụ cụ thể về một việc nào đó. Ví dụ nêu ra ví dụ về sự nguy hiểm của virus corona vớ: Sử dụng số liệu cho trước hoặc có sẵn để thuyết minh

Phương pháp so sánh

So sánh theo tính chất tương đồng để làm nổi bật đối tượng cần thuyết minh.

Phương pháp phân loại, phân tích

Là phương pháp quan trọng nhất, vì nó thể hiện được tính sâu sắc và cụ thể để làm một bài văn thuyết minh ấn tượng và đầy đủ nhất.

Lưu ý: Có thể kết hợp nhiều phương pháp thuyết minh trong cùng một bài, nhưng lưu ý cần lựa chọn và sử dụng thích hợp.

Cũng như các loại văn bản khác, khi viết văn bản thuyết minh cũng chia thành 3 phần gồm:

Ví dụ 1: giới thiệu về một danh lam thắng cảnh của quê hương em.

Ta có thể giới thiệu vị trí, địa điểm, các cảnh đẹp nổi bật nhất về thắng cảnh đó. Những giá trị văn hóa và kinh tế mà thắng cảnh đó mang lại.

Ví dụ 2: Thuyết minh về một văn bản mà em đã học

Ta có thể chọn bất kỳ một bài thơ, bài văn nào đã từng học trước đó như bài mùa xuân nho nhỏ – Thanh Hải. Sau đó giới thiệu sơ qua về tác giả, năm sáng tác và mục đích sáng tác. Sau đó mô tả nội dung và các biện pháp nghệ thuật mà tác phẩm có.

Ví dụ 3: giới thiệu cách làm một đồ dùng học tập mà em đang sử dụng

Ta giới thiệu về chất liệu, cách làm theo đúng trình tự và yêu cầu thành phẩm.