Văn Bản Của Đảng Về Công Tác Dân Vận / Top 8 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Bac.edu.vn

Triển Khai Các Văn Bản Mới Của Đảng Về Công Tác Dân Vận

Ngày 3.6, tại Trụ sở Tỉnh ủy, Ban Dân vận Trung ương tổ chức hội nghị triển khai các văn bản mới của Đảng về công tác dân vận khu vực Đồng bằng sông Hồng. Đồng chí Trương Thị Mai, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Dân vận Trung ương chủ trì hội nghị. Dự hội nghị có các đồng chí Ủy viên BCH Trung ương Đảng: Đỗ Văn Chiến, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc; Điểu K’Ré, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Dân vận Trung ương; Đỗ Tiến Sỹ, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Hưng Yên. Cùng dự có các đồng chí: Đào Hồng Lan, Ủy viên Dự khuyết BCH Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Bắc Ninh; Nguyễn Duy Hưng, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Hưng Yên; đại diện lãnh đạo các cơ quan Trung ương, Thường trực các tỉnh ủy, thành ủy khu vực Đồng bằng sông Hồng.

Tại hội nghị, lãnh đạo Ban Dân vận Trung ương đã triển khai các văn bản mới của Đảng về công tác dân vận gồm: Chỉ thị số 39-CT/TW ngày 1.11.2019 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác người khuyết tật; Thông báo kết luận số 158-TB/TW ngày 2.1.2020 của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Kết luận số 102-KL/TW của Bộ Chính trị (khóa XI) về hội quần chúng trong tình hình mới; Thông báo kết luận số 160-TB/TW, ngày 15.1.2020 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Kết luận số 62-KL/TW ngày 8.12.2009 của Bộ Chính trị (khóa X) về tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị – xã hội; Quy định số 213-QĐ/TW ngày 2.1.2020 của Bộ Chính trị về trách nhiệm của đảng viên đang công tác thường xuyên giữ mối liên hệ với tổ chức đảng và nhân dân nơi cư trú; Kết luận số 65-KL/TW, ngày 30.10.2019 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 12.3.2003 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) về công tác dân tộc trong tình hình mới.

Đồng chí Trưởng ban Dân vận Trung ương Trương Thị Mai phát biểu kết luận hội nghị

Phát biểu tại hội nghị, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Đỗ Tiến Sỹ giới thiệu khái quát về tiềm năng, lợi thế và kết quả phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh trong những năm qua, đồng thời khẳng định những kết quả đó có sự đóng góp không nhỏ từ công tác dân vận và đội ngũ cán bộ dân vận các cấp. Đồng chí Bí thư Tỉnh ủy nhấn mạnh: Trong thời gian tới, cấp ủy, chính quyền, MTTQ, các tổ chức đoàn thể của tỉnh sẽ tiếp tục chỉ đạo, tăng cường đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dân vận; thực hiện nghiêm Quy chế dân chủ ở cơ sở; đẩy mạnh phong trào thi đua “Dân vận khéo” gắn với các phong trào thi đua yêu nước khác góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội…

Đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Đỗ Tiến Sỹ phát biểu tại hội nghị

Kết luận hội nghị, đồng chí Trưởng ban Dân vận Trung ương Trương Thị Mai nhấn mạnh: Việc ban hành các văn bản mới của Đảng về công tác dân vận có ý nghĩa quan trọng, tạo thuận lợi để cấp ủy, chính quyền các địa phương, đơn vị đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dân vận.

Đồng chí Trương Thị Mai yêu cầu, các cấp ủy đảng, chính quyền, MTTQ và các tổ chức chính trị – xã hội cần làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến rộng rãi các văn bản mới của Đảng về công tác dân vận để cán bộ, đảng viên và nhân dân biết, tham gia thực hiện; chú trọng đổi mới phương thức công tác làm dân vận ở các cấp; tăng cường đối thoại, xử lý kịp thời những vấn đề nhạy cảm; tiếp tục củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc; xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân… Đồng thời mong muốn tỉnh Hưng Yên tiếp tục thực hiện tốt công tác dân vận của Đảng, là điển hình cho các địa phương khác trong cả nước học tập…

Nghị Quyết Xii Của Đảng Về Công Tác Dân Vận Trong Tình Hình Mới

Công tác dân vận là công việc của toàn bộ hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng tiến hành tập hợp vận động, đoàn kết Nhân dân, đưa các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các chương trình kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh vào cuộc sống, góp phần xây dựng sự đồng thuận xã hội, thực hiện thắng lợi đường lối cách mạng của Đảng.

Nghị quyết Đại hội XII của Đảng tiếp tục khẳng định một trong những nhiệm vụ quan trọng về xây dựng Đảng trong điều kiện hiện nay là “tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dân vận, tăng cường quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân”. Theo đó, nghị quyết đưa ra mục tiêu rất rõ của công tác dân vận là: “Tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới nhằm củng cố vững chắc lòng tin của Nhân dân đối với Đảng; tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc và mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với Nhân dân; tập hợp, vận động Nhân dân thực hiện tốt các chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; phát huy sức mạnh to lớn của Nhân dân, tạo thành phong trào cách mạng rộng lớn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

Nội dung cốt lõi Nghị quyết Đại hội XII của Đảng về công tác dân vận là quán triệt quan điểm “Dân là gốc”, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng về công tác dân vận, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, giải quyết kịp thời, có hiệu quả những bức xúc, kiến nghị chính đáng của Nhân dân, kịp thời thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng thành chính sách, pháp luật, về tăng cường và đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả lãnh đạo công tác dân vận của các cơ quan nhà nước, thực hiện tốt quy chế dân vận của hệ thống chính trị. Quan tâm đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác dân vận.

Trên cơ sở các nội dung cơ bản của Nghị quyết Đại hội XII của Đảng và tình hình thực tế của từng địa phương, các cấp ủy, tổ chức đảng phải thường xuyên đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng về công tác dân vận trong tình hình mới nhằm củng cố lòng tin của Nhân dân đối với Đảng. Bên cạnh đó, tiếp tục lãnh đạo, tăng cường và đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác dân vận của các cơ quan nhà nước. Tăng cường phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị – xã hội trong công tác vận động, tập hợp quần chúng. Thực hiện có chất lượng, hiệu quả vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội. Công tác dân vận phải góp phần cùng Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội thật sự dựa vào dân để xây dựng Đảng và chính quyền các cấp trong sạch, vững mạnh, thực hiện tốt quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị. Làm tốt việc giáo dục, nâng cao phẩm chất cho cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức. Đề cao đạo đức công vụ của đội ngũ cán bộ công chức, có cơ chế, chính sách thu hút người có năng lực, có uy tín, kinh nghiệm làm công tác dân vận; chú trọng luân chuyển, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận; khắc phục tình trạng đưa cán bộ phẩm chất, năng lực yếu và không có uy tín làm công tác dân vận… Các cấp ủy đảng cần có biện pháp thật kiên quyết và tích cực giáo dục, rèn luyện, quản lý chặt chẽ cán bộ, đảng viên, đấu tranh với các hiện tượng thoái hóa, biến chất, các biểu hiệnsuy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, siết chặt kỷ luật của Đảng, kiên quyết thải loại những phần tử đã biến chất ra khỏi Đảng, làm trong sạch đội ngũ của Đảng và bộ máy nhà nước, lấy lại lòng tin của Nhân dân

Đất nước ta trải qua 30 năm đổi mới, Đảng ta rút ra 5 bài học quan trọng, trong đó có bài học “Đổi mới phải luôn luôn quán triệt quan điểm Dân là gốc, vì lợi ích của Nhân dân, dựa vào Nhân dân, phát huy vai trò làm chủ, tinh thần trách nhiệm, sức sáng tạo và mọi nguồn lực của Nhân dân, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc”. Đây là bài học sâu sắc, là sự kế thừa ý thức “dân là gốc” của cha ông ta.

Có thể nói, Công tác dân vận có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp cách mạng nước ta, là điều kiện quan trọng bảo đảm cho sự lãnh đạo của Đảng và củng cố, tăng cường mối quan hệ máu thịt giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân. Vấn đề có ý nghĩa quyết định để tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và Nhân dân là Đảng phải chăm lo đầy đủ và sâu sắc đến đời sống, lợi ích của Nhân dân; thật sự tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; củng cố và xây dựng tổ chức đảng thật trong sạch, khắc phục những hiện tượng tiêu cực trong cán bộ, đảng viên, làm cho Đảng thật sự xứng đáng là người lãnh đạo và người đầy tớ trung thành của Nhân dân.

Trong tình hình mới hiện nay, việc thực hiện hiệu quả chủ trương, giải pháp về công tác dân vận theo Nghị quyết Đại hội XII của Đảng góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, tạo sự đồng thuận trong xã hội, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới đất nước.

Bài Báo “Dân Vận” Và Quan Điểm Về Công Tác Dân Vận Của Đảng Trong Giai Đoạn Cách Mạng Hiện Nay

Yêu nước thương dân, đấu tranh không mệt mỏi vì tự do, hạnh phúc của nhân dân, coi sự hy sinh ấy là hạnh phúc lớn nhất của đời người, sống vì dân, gần gũi với dân, thấu hiểu tâm trạng, nguyện vọng của dân để làm tất cả những gì có thể đem lại lợi ích cho dân…Đó là nét nổi bật nhất, quy tụ tất cả những gì làm nên sự vĩ đại của trí tuệ, tâm hồn lớn và nhân cách lớn Hồ Chí Minh.

Nghiên cứu chữ Dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta mới hiểu được ý nghĩa của nó một cách toàn diện, cách mạng và khoa học. Tùy vào những hoàn cảnh khác nhau, Người đã dùng những khái niệm dân, nhân dân, quần chúng, đồng bào một cách phù hợp và rất gần gũi, quen thuộc với cách nói hàng ngày của người Việt Nam. Dân, theo Hồ Chí Minh, là mọi người dân nước Việt Nam, là mọi “con dân nước Việt”, là “con Rồng, cháu Tiên”, là “con Lạc, cháu Hồng”, không phân biệt “già, trẻ, gái, trai, giàu, nghèo, quý, tiện”, là bất kỳ “đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc”.

Vận dụng sáng tạo quan điểm “cách mạng là sự nghiệp của quần chúng” của chủ nghĩa Mác – Lênin, kết tinh truyền thống dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra quan điểm: Dân là lực lượng sáng tạo ra mọi của cải vật chất và tinh thần, không ai thông minh, trí tuệ, sáng tạo bằng dân chúng; không ai tốt bằng dân chúng; không ai hăng hái như dân chúng, không ai dũng cảm bằng dân chúng; không ai nhìn thấu bằng dân chúng… Từ đó, Người khẳng định: Dân là gốc của nước, “gốc có vững, cây mới bền”, dân có giàu nước mới mạnh; dân là lực lượng vô tận để dựng nước và giữ nước; dân là chủ, “Bao nhiêu quyền hạn đều của dân”, mọi “quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”… Nói chung, có dân là có tất cả, không có gì quý bằng nhân dân, không có lực lượng nào mạnh hơn lực lượng đoàn kết của nhân dân, “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, Khó vạn lần dân liệu cũng xong”.

Thứ nhất, hình thức bài viết, phong cách diễn đạt. Bài viết ngắn gọn, xúc tích, có tính khái quát cao, bố cục chặt chẽ, rõ ràng, câu từ đơn giản, dễ nhớ, dễ hiểu, dễ thuộc song tầng nấc ngữ nghĩa thì vô cùng, càng nghiền ngẫm thì càng thấy độc đáo và càng sáng tỏ về nội dung.

Thứ hai, nội dung bài viết thể hiện rõ quan điểm xuất phát, nội dung, mục tiêu của dân vận là dân chủ, là hướng tới xây dựng nước ta thành một nước dân chủ. Trên cơ sở, nền tảng dân chủ, Hồ Chí Minh xác định ba vấn đề quan trọng: Dân vận là gì ? Ai phụ trách dân vận ? Dân vận phải thế nào ? Mỗi vấn đề được trình bày với những nét độc đáo riêng, mang tính độc lập và được đặt trong một thể thống nhất hoàn chỉnh.

Một là, phần thứ I – Nước ta là nước dân chủ. Điều này được khẳng định chỉ với 73 chữ, được sắp xếp trong 7 câu, ở mỗi câu đều có chữ dân, trong đó có 1 lần “vì dân”, 2 lần “do dân”, 3 lần “của dân” và câu thứ 7 khẳng định: “Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân “. Vậy là, ngay từ những ngày đầu có chính quyền, Bác đã chỉ rõ bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Không dừng lại ở đó, Người còn đề cập đến Đảng, đoàn thể hay nói cách khác là hệ thống chính trị của ta đều có bản chất chung là của dân, do dân và vì dân. Quan điểm của Bác xác định rõ dân chủ là cái chìa khóa vạn năng mở mọi cánh cửa và trở thành nền tảng của công tác dân vận.

Hai là, phần thứ II – Dân vận là gì ? Người đã đưa ra một khái niệm hoàn chỉnh “Dân vận là vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân, để thực hành những công việc nên làm, những công việc Chính phủ và Đoàn thể đã giao cho”.

Ba là, phần thứ III – Ai phụ trách dân vận ? Người xác định : Dân vận thuộc trách nhiệm của cả hệ thống chính trị.

Bốn là, phần thứ IV – Dân vận phải như thế nào ? Chúng ta cần quán triệt phương châm “óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm”.

Đặc biệt nhất là câu kết bài đặc sắc, súc tích, tinh túy và trở thành câu nói kinh điển dành cho những ai làm công tác dân vận: “Lực lượng của dân rất to. Việc dân vận rất quan trọng. Dân vận kém thì việc gì cũng kém. Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”. Chỉ trong 29 chữ, câu kết bài đã khái quát đầy đủ ý nghĩa tầm quan trọng của công tác dân vận. Nếu bài Dân vận là một hạt ngọc trong chuỗi ngọc Tư tưởng Hồ Chí Minh, thì câu kết bài chính là kết tinh làm nên sự tỏa sáng của hạt ngọc ấy.

Những chỉ dẫn mà Chủ tịch Hồ Chí Minh vạch ra cho chúng ta gần bảy mươi năm qua đến nay vẫn mang tính thời sự mới mẻ và trở thành bài học của mọi bài học về công tác dân vận. Chúng ta luôn khắc ghi lời nhắc nhở của Bác: Đối với dân phải nâng cao trình độ để xứng đáng là người làm chủ, trách nhiệm của người làm chủ bởi vì “Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân”, “Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân”; điều quan trọng hơn cả là trách nhiệm của Đảng, chính quyền, đoàn thể trong việc tập hợp, giác ngộ, tổ chức, lãnh đạo dân, phát huy được sức mạnh vô tận của dân góp phần gặt hái thành công trong sự nghiệp cách mạng.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng hiện nay, điều kiện Đảng cầm quyền, xây dựng Nhà nước pháp quyền, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế… có nhiều vấn đề mới đặt ra tác động đến tình hình tư tưởng, tình cảm, đời sống của cán bộ, đảng viên và nhân dân, Đảng ta xác định công tác dân vận là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp cách mạng của đất nước; là điều kiện quan trọng đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng, củng cố tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Thực tế đã chứng minh, từ sau đổi mới đến nay, Đảng ta đã ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết về công tác dân vận. Trong đó, tư tưởng chỉ đạo đặt nền tảng cơ sở của Đảng ta về công tác dân vận chính là Nghị quyết Trung ương 8B (Nghị quyết 8B- NQ/TW “Về đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân” được Hội nghị Trung ương 8 – khóa VI – ban hành ngày 27/3/1990). Nghị quyết 8B đã xác định: Sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp của dân, do dân, vì dân. Kết hợp hài hòa lợi ích cá nhân với lợi ích xã hội. Công tác vận động nhân dân phải năng động, sáng tạo về nội dung, đa dạng về phương thức hoạt động và tổ chức. Trách nhiệm dân vận là của Đảng, của Nhà nước và của toàn xã hội, không chỉ là trách nhiệm riêng của đoàn thể.

Trên cơ sở Nghị quyết 8B, Đảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản như: Nghị quyết số 07-NQ/BCT của Bộ Chính trị về “Tăng cường Mặt trận dân tộc thống nhất” ngày 17/11/1993; Chỉ thị số 18-CT/2000/TTg của Thủ tướng Chính phủ về “Tăng cường công tác dân vận” ngày 21/9/2000; Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 (khóa IX) năm 2003 về “Phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” … nhằm tiếp tục cụ thể hóa, thể chế hóa nội dung Nghị quyết 8B.

Đảng ta chú trọng vấn đề xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, trong đó chú trọng công tác dân vận. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII yêu cầu: “Các cấp ủy đảng và chính quyền phải thường xuyên đối thoại, lắng nghe, học hỏi, tiếp thu ý kiến, giải quyết các khó khăn, vướng mắc và yêu cầu chính đáng của nhân dân; tin dân, tôn trọng, lắng nghe những ý kiến khác; có hình thức, cơ chế, biện pháp cụ thể, thích hợp để nhân dân bày tỏ chính kiến, nguyện vọng và thực hiện quyền làm chủ của mình thông qua Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân; tôn trọng, tôn vinh những đóng góp, cống hiến của nhân dân”. [1]

Nói tóm lại, dù bất cứ giai đoạn nào, gắn với quá trình cách mạng của Việt Nam công tác dân vận luôn giữ vai trò vô cùng quan trọng. Để góp phần nâng cao nhận thức lý luận về công tác dân vận, việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận nói chung và những quan điểm của Người trong tác phẩm “Dân vận” nói riêng có ý nghĩa to lớn cả về tầm lý luận và thực tiễn. Tư tưởng dân vận của Hồ Chí Minh, tác phẩm Dân vận của Hồ Chí Minh có sức sống mãnh liệt, ngày càng ăn sâu, bén rễ vào cuộc sống và lấy đó làm kim chỉ nam cho công tác dân vận:”Dân vận kém thì việc gì cũng kém; dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”./.

Tiếp Tục Đẩy Mạnh Công Tác Dân Vận Của Đảng Trong Tình Hình Mới

Công tác dân vận là một mặt công tác cơ bản của Đảng, góp phần quan trọng vào việc củng cố mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc. Trước yêu cầu nhiệm vụ mới, công tác dân vận cần được tiếp tục đẩy mạnh, thực sự là cầu nối giữa “ý Đảng” với “lòng dân”, phát huy sức dân, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Lực lượng của dân rất to. Việc dân vận rất quan trọng. Dân vận kém thì việc gì cũng kém. Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công” 1. Thấm nhuần tư tưởng của Người, qua các thời kỳ cách mạng, Đảng ta đều có các nghị quyết chuyên đề về dân vận để định hướng lãnh đạo, chỉ đạo đối với công tác này. Đặc biệt, Hội nghị Trung ương 7 (khóa XI) đã ban hành Nghị quyết 25-NQ/TW, ngày 03-6-2013 về “Tăng cường và đổi mới sự lãnh của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới” (sau đây gọi tắt là Nghị quyết 25). Qua 5 năm thực hiện, Nghị quyết đã được các cấp, các ngành, các tổ chức, lực lượng quán triệt, tổ chức thực hiện, với nhiều cách làm hay, sáng tạo và mang lại hiệu quả thiết thực.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nội dung và phương thức công tác dân vận ngày càng được đổi mới, bám sát tình hình thực tiễn, phản ánh được tâm tư, nguyện vọng, quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân. Nội dung công tác dân vận gắn với nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị và đặc điểm địa bàn; được tiến hành có trọng tâm, trọng điểm, hình thức đa dạng, phong phú, phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Các cấp đã tích cực đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, kế hoạch, chương trình phát triển kinh tế – xã hội của địa phương. Ở biên giới, vùng sâu, vùng xa, công tác dân vận đã góp phần giúp đồng bào các dân tộc thay đổi nếp sống, cách nghĩ; sống định canh, định cư, xây dựng thôn, bản văn hóa, tích cực tham gia phòng, chống tội phạm; không sinh hoạt đạo trái pháp luật, tàng trữ vũ khí, buôn bán ma túy, tái trồng cây thuốc phiện, v.v. Thông qua công tác dân vận, đồng bào các dân tộc đã nhận rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề “dân tộc”, “tôn giáo”, “dân chủ”, “nhân quyền” để chống phá cách mạng nước ta. Phong trào Thi đua “Dân vận khéo” được đẩy mạnh, gắn với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh bằng những việc làm thiết thực, ngày càng đi vào chiều sâu; nhiều mô hình hiệu quả, có sức lan tỏa, tạo động lực, cổ vũ, động viên đông đảo nhân dân hưởng ứng, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa – xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh trên từng địa bàn.

Đồng chí Trương Thị Mai phát biểu tại buổi làm việc với Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam. Ảnh: qdnd.vn

Công tác dân vận đã tích cực tham gia xây dựng cơ sở chính trị ở các địa phương, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng, hiệu lực quản lý, điều hành của chính quyền, hoạt động của các ban, ngành, đoàn thể các địa phương, đơn vị. Đội ngũ cán bộ dân vận đã tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương phối hợp thực hiện tốt công tác quốc phòng – an ninh, xây dựng “thế trận lòng dân”, khu vực phòng thủ vững chắc, v.v. Trên cơ sở đó, niềm tin của nhân dân với Đảng, chế độ được củng cố, tăng cường; kinh tế – xã hội từng bước phát triển vững chắc; đời sống của nhân dân không ngừng được cải thiện, nâng cao; chính trị, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội được củng cố và giữ vững; công tác đối ngoại của Đảng, ngoại giao của Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân và hội nhập quốc tế được đẩy mạnh, vị thế nước ta ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế.

Hiện nay, đất nước ta đang đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực có những diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo; thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen. Những hạn chế trong phát triển kinh tế, xã hội, hội nhập quốc tế, mặt trái của kinh tế thị trường đã và đang tác động, làm nảy sinh những mâu thuẫn, bức xúc trong xã hội. Các thế lực thù địch triệt để lợi dụng vấn đề “dân tộc”, “tôn giáo”, “dân chủ”, “nhân quyền”, những sơ hở, yếu kém trong quản lý, phát triển kinh tế – xã hội của ta để xuyên tạc, vu khống, chống phá Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang, đẩy mạnh chiến lược “Diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; kích động, lôi kéo, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chia rẽ mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang với nhân dân, v.v.

Một là, tiếp tục quán triệt sâu sắc Nghị quyết 25 và Nghị quyết Đại hội XII của Đảng về công tác dân vận, nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về công tác quan trọng này trong giai đoạn mới của cách mạng. Theo đó, cần tăng cường và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận, hướng mạnh về cơ sở, quan tâm đến những vấn đề thiết thực trong đời sống nhân dân, nhằm củng cố vững chắc lòng tin của nhân dân đối với Đảng, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc và mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân; tập hợp, vận động nhân dân thực hiện tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tạo phong trào cách mạng rộng lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Các cơ quan chức năng của Đảng và Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội cần tiếp tục đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho các tầng lớp nhân dân về mọi mặt của đời sống xã hội trong công cuộc đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng; về vị trí, vai trò, mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác dân vận, nhất là đồng bào ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, vùng đồng bào có tôn giáo. Khi tiến hành công tác dân vận, phải thường xuyên đổi mới nội dung và hình thức tuyên truyền, vận động nhân dân sao cho dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện; giúp nhân dân thấy rõ quyền lợi, nghĩa vụ công dân và quyền làm chủ trực tiếp theo đúng quy định của pháp luật. Đồng thời, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp phải thực hiện có hiệu quả công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, trọng tâm là Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) và Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị (khóa XII) về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, xây dựng Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh. Thường xuyên sâu sát cơ sở, nắm tâm tư, nguyện vọng, ý kiến đóng góp, phản ảnh của nhân dân; kịp thời giải quyết có hiệu quả yêu cầu chính đáng, hợp pháp của nhân dân. Tăng cường đối thoại, nâng cao chất lượng tiếp xúc cử tri, thực hiện tiếp dân đúng quy định, giải quyết kịp thời, đúng pháp luật đơn, thư khiếu nại, tố cáo của công dân; quan tâm chăm lo đến đời sống, lợi ích chính đáng và tôn trọng, phát huy quyền làm chủ của nhân dân.

Ba là, thường xuyên kiện toàn tổ chức, bộ máy; chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ dân vận, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội các cấp. Quán triệt, thực hiện nghiêm Nghị quyết 18-NQ/TW, ngày 25-10-2017 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XII) về “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”. Trọng tâm là thực hiện thống nhất văn phòng cấp ủy phục vụ chung các cơ quan tham mưu, giúp việc cấp ủy cấp tỉnh; thí điểm việc kiêm nhiệm chức danh người đứng đầu hoặc hợp nhất một số cơ quan của Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc có chức năng, nhiệm vụ tương đồng ở cấp tỉnh, cấp huyện với những nơi có đủ điều kiện; phối hợp rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy, mối quan hệ công tác của các cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc cấp ủy từ Trung ương đến địa phương. Thực hiện tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí, sử dụng cán bộ dân vận; chú trọng đào tạo nguồn cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là cán bộ cấp chiến lược, cán bộ chủ chốt của ban dân vận, Mặt trận, đoàn thể các cấp. Không phân công, bố trí cán bộ vi phạm kỷ luật hoặc phẩm chất, năng lực yếu kém, uy tín thấp làm công tác dân vận, Mặt trận, đoàn thể. Xây dựng đội ngũ cán bộ đủ tiêu chuẩn, năng lực, phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, lý luận chính trị, kinh nghiệm công tác; bồi dưỡng, tạo nguồn cán bộ trẻ, cán bộ trưởng thành từ cơ sở, nhất là năng lực và kỹ năng tuyên truyền, vận động quần chúng theo phong cách Hồ Chí Minh. Thực hiện tốt lời dạy của Người: cán bộ dân vận phải “óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm” 2, luôn “gần dân, học dân, nghe theo dân” 3 và phương châm “chân thành, tích cực, thận trọng, kiên trì, tế nhị, hiệu quả” trong tiến hành công tác dân vận. Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, quản lý, sử dụng đội ngũ cán bộ dân vận là con em đồng bào các dân tộc thiểu số, đồng bào tôn giáo và đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, địa bàn trọng điểm về quốc phòng – an ninh, v.v.

Năm là, chú trọng công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện công tác dân vận. Công tác kiểm tra, giám sát cần tập trung vào nắm kết quả triển khai thực hiện công tác dân vận, trong đó có việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Ðảng về công tác này; thực hiện quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị theo Nghị quyết 25 và Quyết định 290 của Bộ Chính trị (khóa X) về “Quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị”. Thực hiện tốt việc tiếp công dân, tăng cường đối thoại, quan tâm giải quyết những kiến nghị, nguyện vọng hợp pháp, chính đáng của nhân dân, giải quyết đơn, thư khiếu nại, tố cáo, không để phát sinh các “điểm nóng”, vụ việc phức tạp, kéo dài. Tăng cường kiểm tra, giám sát việc rèn luyện đạo đức công vụ, chất lượng phục vụ nhân dân; tinh thần trách nhiệm trong thực hiện công tác dân vận, sự thân thiện, gần dân, trọng dân và vì dân, v.v. Đồng thời, kiên quyết đấu tranh, xử lý nghiêm khắc những biểu hiện xa dân, vô cảm, cửa quyền, hách dịch và vi phạm kỷ luật trong quan hệ với nhân dân, nhằm củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, chế độ và cấp ủy đảng, chính quyền các cấp.

Kế thừa và phát huy những thành quả tốt đẹp, kinh nghiệm công tác “Dân vận khéo” của Đảng trong thời gian qua, cần tiếp tục đổi mới toàn diện, đồng bộ và nâng cao tính hiệu quả công tác dân vận, góp phần xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện thắng lợi mục tiêu: “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

1 – Hồ Chí Minh – Toàn tập, Tập 6, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 234.

2, 3 – Sđd, tr. 233-234, 370.