Tiểu Luận Về Chính Sách Tôn Giáo Của Đảng

Tiểu Luận Về Chính Sách Tôn Giáo Của Đảng, Tiểu Luận Về Chế Độ Chính Sách Cho Giáo Viên Trong Trường Học, Tiểu Luận Công Tác Giáo Dục Chính Trị Tư Tưởng Cho Cán Bộ Đảng Viên Trong Gia, Tiểu Luận Chính Sách Văn Hóa, Tiểu Luận Chính Sách Công, Tiểu Luận Về Chính Sách Công, Tiểu Luận Chính Sách Tài Khóa, Tiểu Luận Xử Lý Tình Huống Chế Độ, Chính Sách, Tiểu Luận Chính Sách Xã Hội Đối Với Phụ Nữ Cho Người Nghèo, Tiểu Luân Cương Lĩnh Chính Trị Đầu Tiên Của Đảng, Tiểu Luận Bình Đẳng Giới Trong Lĩnh Vực Chính Trị, Tiểu Luận Sự Ra Đời Của Đảng Cộng Sản Việt Nam Và Cương Lĩnh Chính Trị Đ, Tiểu Luận Xây Dựng Đảng Trong Sạch Vững Mạnh, Tiểu Luận Thực Hiện Chính Sách Xóa Đói Giảm Nghèo, Chính Sách Của Đảng Và Nhà Nước Về Tôn Giáo, Tiểu Luận Nội Dung Cương Lĩnh Chính Trị Đầu Tiên Của Đảng 2 1930, Tiểu Luận So Sánh Chính Sách Kích Cầu Của Việt Nam Trung Quốc Và Mỹ, Tiểu Luận Môn Luật So Sánh Chính Sách Kích Cầu Của Việt Nam Trung Quốc Và Mỹ, Quan Diem Cua Dang, Chinh Sach Cua Nha Nuoc Ve Dan Toc Ton Giao, Chính Sách Ngoại Giao Của Đảng Với Liên Hợp Quốc, Quan Điểm Chính Sách Dân Tộc, Tôn Giáo Của Đảng Và Nhà Nước Ta, Quan Điểm, Chủ Trương Của Đảng, Chính Sách Của Nhà Nước Về Dân Tộc, Tôn Giáo, Tiểu Luận Nhiệm Vụ Giải Pháp Xây Dựng Đảng Trong Sạch Vững Mạnh Hiện Nay, Quan Điểm Chủ Trương Của Đảng Cộng Sản Việt Nam Chính Sách Của Nhà Nước Về Dân Tộc Tôn Giáo, Mẫu Tham Luận HĐnd Xã Tuyên Truyền Đường Lối Chính Sách Của Đảng, Pháp Luật Của Nhà Nước, Mẫu Tham Luận HĐnd Xã Về Việc Tuyrn Truyền Đường Lối Chính Sách Của Đảng, Pháp Luật Của Nhà Nước, Bài Tiểu Luận Bồi Dưỡng Theo Tiêu Chuẩn Bác Sĩ Chính, Tài Liệu Tiểu Luận Lớp Bồi Dưỡng Theo Tiêu Chuẩn Chức Danh Nghề Nghiệp Bác Sĩ Chính Hạng Ii, Tiểu Luận Con Người Chính Trị Và Nghệ Thuật Hoạt Động Chính Trị, Đề Nghị Kết Luận Tiêu Chuẩn Chính Chị Theo Quy Định 126 Của Bộ Chính Trị, Tiểu Luận Phát Triển Kỹ Năng Giao Tiếp Cho Học Sinh Tiểu Học, Tác Động Của Nhân Tố Đảng Phái Đến Chính Sách Đối Ngoại Của Chính Quyền Obama, Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về An Ninh Chính Trị, Kinh Tế, Văn Hó, Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách Pháp Luật Nhà Nước Về Bảo Vệ An Ninh Chính Trị, Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về An Ninh Chính Trị, Kinh Tế, Văn Hó, Powerpoint Bảo Vệ Luận Văn Thạc Sệ Khóa Luận Tốt Nghiệp Của Sinh Viên Giáo Dục Tiểu Học, Báo Mạng Điện Tử Với Vai Trò Giáo Dục Chính Trị – Tư Tưởng Cho Đội Ngũ Đảng Viên Đảng Cộng Sản Việt, Báo Mạng Điện Tử Với Vai Trò Giáo Dục Chính Trị – Tư Tưởng Cho Đội Ngũ Đảng Viên Đảng Cộng Sản Việt , Góp ý Dự Thảo Tiêu Chí Chọn Sách Giáo Khoa Theo Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông, Tiểu Luận Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Tiểu Học, Tiểu Luận Ngạch Giáo Dục Tiểu Học, Lý Luận Về Đảng Chính Trị, Đảng Cầm Quyền, Bài Tiểu Luận Sự Ra Đời Của Đảng, Bài Tiểu Luận Báo Cáo Tài Chính, Bài Tiểu Luận Chính Trị, 6 Bài Tiểu Luận Chính Trị, Tiểu Luận Bác Sĩ Chính, Tiểu Luận Về Rau Sạch, Bài Tiểu Luận Về Rau Sạch, Tiêu Chí Đánh Giá Chính Sách Đất Đai, Tiêu Chí Đánh Giá Chính Sách, Tiểu Luận Xây Dựng Đảng, Tiểu Luận ý Nghĩa Sự Ra Đời Của Đảng, Tiểu Luận Môn Xây Dựng Đảng, Tiểu Luận Xây Dựng Đảng Về Đạo Đức, Tiểu Luận Lịch Sử Đảng, Tieu Luan Boi Duong Bac Si Chinh, 329 Bài Tiểu Luận Kinh Tế Chính Trị, Tiểu Luận Kinh Tế Chính Trị, Tiểu Luận Kinh Tế Chính Trị Ftu, 199 Bài Tiểu Luận Kinh Tế Chính Trị, Tiểu Luận Học Viện Tài Chính, Bài Tiểu Luận Kinh Tế Chính Trị, Tiểu Luận Con Người Chính Trị, Tiêu Chuẩn Học Cao Cấp Lý Luận Chính Trị, Tiểu Luận Điều Chỉnh Hóa Đơn, Tiêu Luân Bồ Dưỡng Bác Sỹ Chính, Mẫu Một Bài Tiểu Luận Hoàn Chỉnh, Tiểu Luận Môn Tài Chính Tiền Tệ, 1 Bài Tiểu Luận Mẫu Hoàn Chỉnh, Tiểu Luận Chính Trị Học So Sánh, 1 Bài Tiểu Luận Hoàn Chỉnh, Bài Tiểu Luận Hoàn Chỉnh, Tiểu Luận Hoàn Chỉnh, Tiểu Luận Hành Chính, Tiểu Luận Lập Mô Hình Tài Chính, Tiểu Luận Dự án Trồng Rau Sạch, Tiểu Luận Về Ngân Sách Xã, Bài Tiểu Luận Sản Xuất Sạch Hơn, Tiểu Luận Thu Ngân Sách Xã, Báo Cáo Kết Quả Rà Soát Tiêu Chuẩn Chính Trị Cán Bộ Đảng Viên, Mẫu Báo Cáo Rà Soát Tiêu Chuẩn Chính Trị Cán Bộ Đảng Viên, Tiểu Luận Bình Đẳng Giới, Tiểu Luận Sự Ra Đời Của Đảng Cộng Sản Việt Nam, Tiểu Luận Lich Sử Đảng Đoàn Kết, Bài Tiểu Luận Về Bình Đẳng Giới, Tiểu Luận Lịch Sử Đảng Hubt, Tiểu Luận Về Kiểm Tra Giám Sát Của Đảng, Bài Tiểu Luận Lớp Giảng Viên Chính, Tiểu Luận Về Luật Hành Chính, Tiểu Luận Chuyên Viên Chính, Bài Tiểu Luận Lớp Chuyên Viên Chính, Tiểu Luận Giảng Viên Chính, Tiểu Luận Quản Lý Nhà Nước Về Tài Chính, Tiểu Luận Luật Hành Chính, Tiểu Luận Về Chính Quyền Địa Phương, Bài Tiểu Luận Chuyên Viên Chính, Tiểu Luận Kinh Tế Chính Trị Về Thất Nghiệp, Tiểu Luận Chuyên Viên Chính Về Y Tế, Tiểu Luận Phân Tích Báo Cáo Tài Chính Vnm,

Tiểu Luận Về Chính Sách Tôn Giáo Của Đảng, Tiểu Luận Về Chế Độ Chính Sách Cho Giáo Viên Trong Trường Học, Tiểu Luận Công Tác Giáo Dục Chính Trị Tư Tưởng Cho Cán Bộ Đảng Viên Trong Gia, Tiểu Luận Chính Sách Văn Hóa, Tiểu Luận Chính Sách Công, Tiểu Luận Về Chính Sách Công, Tiểu Luận Chính Sách Tài Khóa, Tiểu Luận Xử Lý Tình Huống Chế Độ, Chính Sách, Tiểu Luận Chính Sách Xã Hội Đối Với Phụ Nữ Cho Người Nghèo, Tiểu Luân Cương Lĩnh Chính Trị Đầu Tiên Của Đảng, Tiểu Luận Bình Đẳng Giới Trong Lĩnh Vực Chính Trị, Tiểu Luận Sự Ra Đời Của Đảng Cộng Sản Việt Nam Và Cương Lĩnh Chính Trị Đ, Tiểu Luận Xây Dựng Đảng Trong Sạch Vững Mạnh, Tiểu Luận Thực Hiện Chính Sách Xóa Đói Giảm Nghèo, Chính Sách Của Đảng Và Nhà Nước Về Tôn Giáo, Tiểu Luận Nội Dung Cương Lĩnh Chính Trị Đầu Tiên Của Đảng 2 1930, Tiểu Luận So Sánh Chính Sách Kích Cầu Của Việt Nam Trung Quốc Và Mỹ, Tiểu Luận Môn Luật So Sánh Chính Sách Kích Cầu Của Việt Nam Trung Quốc Và Mỹ, Quan Diem Cua Dang, Chinh Sach Cua Nha Nuoc Ve Dan Toc Ton Giao, Chính Sách Ngoại Giao Của Đảng Với Liên Hợp Quốc, Quan Điểm Chính Sách Dân Tộc, Tôn Giáo Của Đảng Và Nhà Nước Ta, Quan Điểm, Chủ Trương Của Đảng, Chính Sách Của Nhà Nước Về Dân Tộc, Tôn Giáo, Tiểu Luận Nhiệm Vụ Giải Pháp Xây Dựng Đảng Trong Sạch Vững Mạnh Hiện Nay, Quan Điểm Chủ Trương Của Đảng Cộng Sản Việt Nam Chính Sách Của Nhà Nước Về Dân Tộc Tôn Giáo, Mẫu Tham Luận HĐnd Xã Tuyên Truyền Đường Lối Chính Sách Của Đảng, Pháp Luật Của Nhà Nước, Mẫu Tham Luận HĐnd Xã Về Việc Tuyrn Truyền Đường Lối Chính Sách Của Đảng, Pháp Luật Của Nhà Nước, Bài Tiểu Luận Bồi Dưỡng Theo Tiêu Chuẩn Bác Sĩ Chính, Tài Liệu Tiểu Luận Lớp Bồi Dưỡng Theo Tiêu Chuẩn Chức Danh Nghề Nghiệp Bác Sĩ Chính Hạng Ii, Tiểu Luận Con Người Chính Trị Và Nghệ Thuật Hoạt Động Chính Trị, Đề Nghị Kết Luận Tiêu Chuẩn Chính Chị Theo Quy Định 126 Của Bộ Chính Trị, Tiểu Luận Phát Triển Kỹ Năng Giao Tiếp Cho Học Sinh Tiểu Học, Tác Động Của Nhân Tố Đảng Phái Đến Chính Sách Đối Ngoại Của Chính Quyền Obama, Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về An Ninh Chính Trị, Kinh Tế, Văn Hó, Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách Pháp Luật Nhà Nước Về Bảo Vệ An Ninh Chính Trị, Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về An Ninh Chính Trị, Kinh Tế, Văn Hó, Powerpoint Bảo Vệ Luận Văn Thạc Sệ Khóa Luận Tốt Nghiệp Của Sinh Viên Giáo Dục Tiểu Học, Báo Mạng Điện Tử Với Vai Trò Giáo Dục Chính Trị – Tư Tưởng Cho Đội Ngũ Đảng Viên Đảng Cộng Sản Việt, Báo Mạng Điện Tử Với Vai Trò Giáo Dục Chính Trị – Tư Tưởng Cho Đội Ngũ Đảng Viên Đảng Cộng Sản Việt , Góp ý Dự Thảo Tiêu Chí Chọn Sách Giáo Khoa Theo Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông, Tiểu Luận Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Tiểu Học, Tiểu Luận Ngạch Giáo Dục Tiểu Học, Lý Luận Về Đảng Chính Trị, Đảng Cầm Quyền, Bài Tiểu Luận Sự Ra Đời Của Đảng, Bài Tiểu Luận Báo Cáo Tài Chính, Bài Tiểu Luận Chính Trị, 6 Bài Tiểu Luận Chính Trị, Tiểu Luận Bác Sĩ Chính, Tiểu Luận Về Rau Sạch, Bài Tiểu Luận Về Rau Sạch, Tiêu Chí Đánh Giá Chính Sách Đất Đai,

Quan Điểm Đổi Mới Của Đảng Về Tôn Giáo, Tín Ngưỡng

Nghị quyết số 24 (1990) của Bộ Chính trị “Về tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới” lần đầu tiên khẳng định các quan điểm mới về tôn giáo, tín ngưỡng: i) tôn giáo là vấn đề còn tồn tại lâu dài; ii) tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân; iii) đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới. Từ đây, công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực tôn giáo, tín ngưỡng cũng được định hướng: i) vừa quan tâm giải quyết hợp lý nhu cầu tín ngưỡng của quần chúng, vừa kịp thời đấu tranh chống lợi dụng tôn giáo; ii) nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng và iii) công tác tôn giáo là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị.  Trong các chỉ thị, nghị quyết tiếp theo, tư duy lý luận của Đảng về vấn đề tôn giáo tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện: Chỉ thị 37 (1998) của Bộ Chính trị chỉ rõ: “Những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tôn giáo được tôn trọng và khuyến khích phát huy”. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII về “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” (1998) khuyến khích ý tưởng công bằng, bác ái, hướng thiện… trong tôn giáo. Đặc biệt, Nghị quyết số 25 Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 7 khóa IX của Đảng (2003) đã tổng kết và phát triển tư duy lý luận của Đảng về vấn đề tôn giáo và công tác tôn giáo trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Theo đó, nhận thức mới về vấn đề tôn giáo trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội tập trung ở những nội dung chủ yếu sau: Một là, thừa nhận sự tồn tại của tôn giáo trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đây là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, thể hiện một cách rõ ràng quan điểm của Đảng về vấn đề tôn giáo trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Từ quan điểm “tôn giáo là vấn đề còn tồn tại lâu dài” đến Nghị quyết 25, Đảng đã khẳng định rõ hơn “tôn giáo đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội”. Luận điểm này, một mặt, cụ thể hóa quan điểm “tồn tại lâu dài” của tôn giáo, nhưng phát triển và làm rõ hơn mối quan hệ giữa tôn giáo với dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở nước ta; mặt khác, khắc phục được tư tưởng chủ quan, duy ý chí, rằng tôn giáo sẽ nhanh chóng lụi tàn trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Thừa nhận sự tồn tại của tôn giáo trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta cũng khẳng định những điểm tương đồng giữa lý tưởng của tôn giáo và chủ nghĩa xã hội. Nghị quyết 25 chỉ rõ: “Mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh là điểm tương đồng để gắn bó đồng bào các tôn giáo với mục tiêu chung”. Đây là luận điểm mới, có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, là sự vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về việc khai thác, phát huy những giá trị tốt đẹp trong văn hóa, đạo đức của các tôn giáo với mục tiêu xây dựng xã hội mới ở nước ta. Quan điểm này ngăn chặn và làm thất bại những thủ đoạn tuyên truyền xuyên tạc của các thế lực thù địch về chủ nghĩa cộng sản vô thần chống tôn giáo, vi phạm nhân quyền, dân chủ, đồng thời phát huy mặt tích cực của các tôn giáo, tạo cơ sở cho sự đồng thuận xã hội. Hai là, tôn giáo, tín ngưỡng là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân. Quan điểm này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong đổi mới tư duy lý luận của Đảng về vấn đề tôn giáo. Nếu như trước đây, tôn giáo thường chỉ được tiếp cận hạn chế từ góc độ tư tưởng triết học và chính trị, với định nghĩa mang tính kinh điển “tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”; tín ngưỡng thường được gắn liền với hủ tục, mê tín dị đoan…, thì giờ đây, tôn giáo tín ngưỡng đã được nhìn nhận là một phần của lịch sử dân tộc, văn hóa và đạo đức và hơn thế, là thực thể xã hội có khả năng cố kết cộng đồng và ổn định trật tự, an toàn xã hội… Quan điểm mới này đặt nền móng cho sự quản lý của các cấp chính quyền và đoàn thể chính trị xã hội, thể hiện sự quan tâm và bảo đảm những lợi ích thiết thân của đồng bào các tôn giáo trong việc thỏa mãn nhu cầu đời sống tín ngưỡng lành mạnh, chính đáng của họ, tương tự như việc bảo đảm các quyền khác của con người như ăn, mặc, cư trú, nhân quyền, dân chủ… Ba là, thừa nhận và khuyến khích phát huy những giá trị đạo đức, văn hóa, truyền thống tốt đẹp của tôn giáo trong công cuộc xây dựng xã hội mới. Luận điểm này là sự kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng trong cách mạng dân tộc, dân chủ, nhưng được bổ sung, phát triển làm sâu sắc hơn trong thời kỳ Đổi mới. Tôn giáo trong quá trình tồn tại và phát triển luôn bộc lộ hai mặt tích cực và tiêu cực. Trước đây, do yêu cầu của cách mạng cần phải tập trung cho nhiệm vụ đấu tranh giải phóng dân tộc trong điều kiện các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng nên chúng ta thường nhấn mạnh đến mặt tiêu cực, hạn chế của tôn giáo, như tư tưởng yếm thế, ru ngủ con người. Theo quan điểm đổi mới của Đảng, bên cạnh mặt hạn chế cần khắc phục, phải trân trọng và phát huy những giá trị tích cực của tôn giáo, trong đó có mặt tích cực về đạo đức, văn hóa tôn giáo. Tôn giáo có chức năng điều chỉnh hành vi xã hội của con người, hướng con người đến chân, thiện, mỹ. Tín đồ các tôn giáo với niềm tin vào đấng tối cao và cuộc sống vĩnh hằng sau khi chết, lo sợ bị trừng phạt hoặc bị “quả báo” nếu phạm tội hoặc làm điều ác nên thường có hành vi đạo đức hướng thiện. Giáo lý giáo luật và những lời răn dạy của tôn giáo đã tạo ra những quy phạm đạo đức hướng con người làm các việc thiện lành, tránh điều ác, tu nhân tích đức để được giải thoát (Phật giáo), được lên thiên đàng (Kitô giáo, Hồi giáo). Các tôn giáo không chỉ “thiêng hóa” các quy phạm đạo đức mà còn tạo ra dư luận xã hội để điều chỉnh hành vi của tín đồ hướng đến cái thiện, bài trừ cái ác. Như vậy, đạo đức tôn giáo góp phần điều chỉnh hành vi xã hội của con người. Thực tế cho thấy, ở những nơi tôn giáo ổn định, có đông tín đồ thì các tệ nạn xã hội ít hơn, trật tự ổn định và lối sống đạo đức nền nếp hơn. Bên cạnh những hạn chế, tôn giáo tín ngưỡng chứa đựng nhiều yếu tố hợp lý bởi tính nhân văn, hướng thiện của nó, những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tôn giáo, tín ngưỡng có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới. Quan điểm nêu trên của Đảng khơi dậy, động viên tín đồ, chức sắc các tôn giáo phát huy những giá trị tốt đẹp, mặt tích cực, điểm tương đồng của tôn giáo với chủ nghĩa xã hội, phát huy tinh thần yêu nước của đồng bào các tôn giáo. Bốn là, giữ gìn và phát huy những giá trị tích cực của truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh những người có công với Tổ quốc và nhân dân. Quan điểm này hoàn toàn mới, có tính sáng tạo trong tư duy lý luận của Đảng ta về vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo. Lần đầu tiên nội hàm của tín ngưỡng được đề cập tới một cách chính thức trong văn kiện của Đảng. Trong tâm thức của người Việt Nam, thờ cúng tổ tiên, tôn vinh những người có công với dân, với nước không chỉ là một loại hình tín ngưỡng mà còn là đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc. Việc Đảng ta thừa nhận những giá trị tốt đẹp của truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh những người có công với Tổ quốc và nhân dân có ý nghĩa hết sức quan trọng, góp phần định hướng cho các tôn giáo, tín ngưỡng đồng hành, gắn bó với dân tộc, và việc phát huy những giá trị tích cực của truyền thống thờ cúng tổ tiên, đồng thời cũng là nhân tố quan trọng đáp ứng nhu cầu đời sống tinh thần, tâm linh, tâm lý của người dân. Bên cạnh việc phát huy những giá trị tích cực của truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh những người có công với dân với nước, Đảng ta cũng chỉ rõ phải thượng tôn pháp luật, nghiêm cấm sự phân biệt đối xử với công dân vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo; nghiêm cấm lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động trái pháp luật và chính sách của Nhà nước, kích động chia rẽ nhân dân, chia rẽ dân tộc, gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia. Những quan điểm này mang tính biện chứng sâu sắc trong tư duy lý luận của Đảng trong việc giải quyết mối quan hệ giữa xây và chống (xây dựng khối đoàn kết toàn dân, chống phân biệt đối xử, chống âm mưu chia rẽ dân tộc, kích động gây rối); giữa giữ gìn, phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp với đấu tranh loại trừ các tệ nạn mê tín, hủ tục nhằm bảo đảm cho môi trường sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo lành mạnh. Thực tiễn cho thấy, sự đổi mới tư duy của Đảng về tôn giáo, tín ngưỡng đã tạo nền tảng cho việc tạo lập các chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tạo điều kiện thuận lợi cho sinh hoạt tôn giáo tín ngưỡng của đồng bào có đạo và tính hiệu quả của quản lý nhà nước trong lĩnh vực này. Các luật, nghị định về tín ngưỡng tôn giáo mới được ban hành trong năm 2024, 2024 là những bước tiến lớn trong việc luật hóa vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề bất cập chưa được giải quyết, đòi hỏi việc xây dựng chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo cần tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện bởi các cấp, các ngành trong thời gian tới./. Nguyễn Nguyên Hồng Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Quan Điểm Của Đảng Ta Về Vấn Đề Tôn Giáo

Thứ ba – 10/12/2024 16:28

Cùng với vấn đề dân tộc, tôn giáo cũng là lĩnh vực rất phức tạp, nhạy cảm trong bối cảnh quốc tế và khu vực hiện nay. Sau ngày đất nước ta được độc lập thống nhất, các thế lực thù địch thường lợi dụng tôn giáo vì mục đích chính trị để làm nảy sinh mâu thuẫn, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nhằm chống phá sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Hơn nữa, để đảm bảo nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo của một bộ phận nhân dân, việc quan tâm thực hiện có hiệu quả công tác tôn giáo là một đòi hỏi thường xuyên đặt ra đối với Đảng, Nhà nước ta trong quá trình lãnh đạo, điều hành đất nước, đặc biệt là trong công cuộc đổi mới hiện nay.

Chủ tịch Hồ Chí Minh trong quá trình xây dựng khối đoàn kết dân tộc, tôn giáo, rất coi trọng và đề cao yếu tố văn hóa trong quan hệ ứng xử với mình, với người, với việc; đặc biệt đối với đồng bào Lương – Giáo. Vì vậy, đã giúp Người xây dựng thành công khối đoàn kết dân tộc, tôn giáo góp phần vào sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc; đồng thời làm cho quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân trở thành hiện thực sinh động trong đời sống xã hội. Trong giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước việc nghiên cứu, vận dụng văn hóa ứng xử Hồ Chí Minh với đồng bào tôn giáo, tạo sự đồng thuận giữa Nhà nước và tôn giáo, đưa tôn giáo đồng hành cùng dân tộc.

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng việc xây dựng khối đoàn kết tôn giáo. Đây là cơ sở để xây dựng thành công khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nhưng muốn xây dựng thành công khối đoàn kết tôn giáo và đưa tôn giáo đồng hành cùng dân tộc, cần phải có phương thức liên kết lâu dài, bền vững vừa có lý, vừa có tình. Hồ Chí Minh đã chủ động sử dụng yếu tố văn hóa để giao lưu, đối thoại đối với đồng bào tôn giáo và để giải quyết các mâu thuẫn phát sinh trong tôn giáo, nhằm tìm kiếm điểm tương đồng, loại bỏ những khác biệt về thế giới quan, hệ tư tưởng…

Hơn ba thập kỷ vừa qua, cùng với những thành quả to lớn, có ý nghĩa lịch sử của sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, chúng ta không thể không kể đến những thành quả đạt được trên lĩnh vực công tác tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta. Để có được thành quả trên lĩnh vực quan trọng này, Đảng ta đã trải qua một quá trình đổi mới nhận thức tương đối lâu dài, đồng thời Nhà nước cũng đã không ngừng củng cố và hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật về tôn giáo.

Trong thời kỳ đổi mới đất nước, để phát huy sức mạnh toàn dân, phấn đấu vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”, Bộ Chính trị đã yêu cầu các cấp chính quyền, đoàn thể động viên đồng bào các tôn giáo nhiệt tình tham gia sự nghiệp đổi mới, làm tốt việc đạo cũng như nghĩa vụ công dân, thực hiện đầy đủ các chính sách của Đảng và Nhà nước về tôn giáo.

Tại Đại hội XII của Đảng, ngoài những điểm kế thừa, bổ sung, phát triển các quan điểm của các đại hội trước, Đảng ta cũng đưa ra một số quan điểm, đánh giá, nhận xét mới đối với tín ngưỡng, tôn giáo và công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo.

Quan điểm tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong Văn kiện Đại hội XII của Đảng. Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một chính sách nhất quán của Đảng ta kể từ khi thành lập đến nay, là một nội dung cốt lõi trong quan điểm, chính sách của Đảng về tín ngưỡng, tôn giáo. Trong các giai đoạn cách mạng, quan điểm, nhận thức của Đảng về tín ngưỡng, tôn giáo luôn có sự bổ sung, phát triển cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh, thực tiễn cách mạng Việt Nam, cũng như thực tiễn xây dựng và phát triển đất nước. Điều 24 Hiến pháp 2013 ghi rõ: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo”. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được nhìn nhận là quyền tự nhiên của con người – tức đã là con người, ai cũng được thụ hưởng, đó là quyền bẩm sinh của con người, con người sinh ra đã có quyền đó. Một điểm nữa để khẳng định rõ hơn chính sách tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là việc có nhiều hơn những người theo tôn giáo được kết nạp Đảng. Văn kiện Đại hội XII chỉ rõ: “Số đảng viên mới kết nạp là đoàn viên thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, nữ, trí thức, học sinh, sinh viên, dân tộc thiểu số, người theo tôn giáo, người lao động trong các thành phần kinh tế và chủ doanh nghiệp tư nhân tăng hơn so với khóa trước”. Đây là một điểm mới so với các văn kiện đại hội Đảng trước đây khi chúng ta khẳng định chính sách kết nạp Đảng đối với những người theo tôn giáo.

 Quan điểm phát huy giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo. Quan điểm này đã được đề cập đến trong các văn kiện Đảng các kỳ đại hội trước đây, xuất phát từ luận điểm quan trọng trong Nghị quyết 24- NQ/TW của Bộ Chính trị ban hành ngày 16/10/1990 về tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới: “Đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với xã hội mới”. Văn kiện Đại hội XII nhấn mạnh: “Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo. Quan tâm và tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận, theo quy định của pháp luật, đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước”. Không chỉ yêu cầu phát huy giá trị tôn giáo, Văn kiện Đại hội XII còn nêu ra yêu cầu phát huy văn hóa tôn giáo: Phát huy văn hóa các dân tộc thiểu số, văn hóa tôn giáo, xây dựng thiết chế văn hóa…”. Quan điểm phát huy giá trị tôn giáo trong Văn kiện Đại hội XII của Đảng xuất phát từ thực tế các tôn giáo đã và đang tham gia đóng góp tích cực trong các hoạt động giáo dục, y tế, từ thiện xã hội, cứu trợ xã hội, v.v… Quan điểm về phát huy giá trị tôn giáo cũng cho thấy, Đảng chấp nhận những giá trị tốt đẹp của tôn giáo tham gia vào hệ giá trị xã hội, góp phần làm phong phú hệ giá trị xã hội, qua đó cần tiếp tục nghiên cứu các cách thức phát huy, cơ chế phát huy giá trị của các tôn giáo, biến giá trị của các tôn giáo thành nguồn lực xã hội, phục vụ sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước.

 Quan điểm về hoàn thiện chính sách, pháp luật về tôn giáo. Đảng ta nhấn mạnh tại Đại hội XII “Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo,… Quan tâm và tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận, theo quy định của pháp luật, đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước”. Quan điểm “tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo” đề ra trong Văn kiện Đại hội XII của Đảng là yêu cầu tiếp tục thể chế hóa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng về tín ngưỡng, tôn giáo ngày càng đầy đủ hơn. Mặt khác, yêu cầu tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo nhằm hướng đến việc tiếp tục hoàn thiện, đồng bộ hóa với hệ thống chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước nói chung, đồng thời phù hợp với luật pháp quốc tế.

Như vậy, từ Nghị quyết 24 (1990) đến Văn kiện Đại hội XII là một quá trình không ngừng nỗ lực tự đổi mới nhận thức của Đảng ta về vấn đề tôn giáo. Hiện nay, nước ta đang bước vào giai đoạn đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá để thực hiện mục tiêu sớm đưa Việt Nam trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Điều đó đòi hỏi chúng ta phải huy động được sức mạnh tổng hợp của mọi tầng lớp nhân dân, trong đó đồng bào có đạo là một bộ phận không thể thiếu. Quá trình đổi mới nhận thức của Đảng về vấn đề tôn giáo đã và đang đi đúng hướng, phản ánh một cách khoa học, khách quan quy luật vận động và phát triển của tôn giáo; đồng thời, thể hiện sự vận dụng, phát triển sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề tôn giáo trong điều kiện lịch sử – cụ thể của đất nước hiện nay.

Quan Điểm, Chính Sách Của Đảng Và Nhà Nước Việt Nam Về Tôn Giáo

Nghiên cứ u Tôn giáo. Số 10 – 2024

128

̣ U SÁCH GIỚI THIÊ

QUAN ĐIỂM, CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VIỆT NAM VỀ TÔN GIÁO Tác giả: chúng tôi Nguyễn Hồng Dương Nxb. Khoa hội Xã hội, Hà Nội, 2024, khổ 16 x 24cm

Nghiên cứ u Tôn giáo. Số 10 – 2024

129

Chương 2: Quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt nam về tôn giáo từ năm 1954 đến năm 1975 Tác giả đã trình bày bối cảnh lịch sử giai đoạn này như việc thực hiện các đường lối chiến lược ở hai miền Bắc – Nam của Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc và đánh đuổi đế quốc Mỹ và bè lũ tai sai giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước. Tác giả đã cho thấy bối cảnh chính trị chung trong nước và quốc tế tác động đến chủ trương, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam; tình hình kinh tế, chính trị – xã hội, tôn giáo Miền Bắc những năm đầu giải phóng và tình hình tôn giáo Miền Nam những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Qua phần trình bày của tác giả chúng ta thấy rõ rằng: nếu như trước năm 1954, nhiệm vụ chủ yếu của Đảng là tập hợp quần chúng trong đó có quần chúng tôn giáo trong một mặt trận để tiến hành cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc thì đến giai đoạn này, do Đảng đã trở thành một chính đảng cầm quyền nên một mặt Đảng Cộng sản Việt Nam phải có quan điểm, đường lối đúng đắn để tập hợp được đông đảo quần chúng tín đồ tham gia xây dựng Miền Bắc Xã hội chủ nghĩa, đấu tranh giải phóng Miền Nam thống nhất nước nhà. Nhưng mặt khác, quan trọng hơn là làm thế nào để quan điểm, đường lối đúng đắn đó phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam mà không bị sức ép từ phía mô hình quản lý tôn giáo của một quốc gia nào trong hệ thống Xã hội chủ nghĩa. Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định một mô hình quản lý tôn giáo thông qua Hiến pháp và pháp luật với một nguyên tắc bất di bất dịch là Hiến pháp và pháp luật phải đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân và tôn trọng quyền tự do ấy; đồng thời còn phải thể chế hàng loạt điều khoản, trong đó có điều khoản chế tài để bảo đảm việc thực hiện pháp luật được nghiêm túc và có hiệu quả. Trong chương này, tác giả trình bày những nguyên tắc chung về quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam về tôn giáo. Đó là: Nguyên tắc Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý đối với tôn giáo; Nguyên tắc tôn trọng tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của nhân dân, nghiêm cấm mọi sự xâm phạm quyền tự do này; Nguyên tắc đoàn kết tôn giáo, đoàn kết lương giáo; Nguyên tắc quan tâm, tạo điều kiện cho các tôn giáo hoạt động bình thường theo pháp luật; Nguyên tắc chống lợi dụng tôn giáo vào hoạt động phá hoại an ninh trật tự, mê tín dị đoan. Do đặc thù lịch sử giai đoạn này đất nước chia cắt thành hai miền Nam, Bắc nên Đảng và Nhà nước Việt Nam cũng có quan điểm, chính sách đối với tôn giáo ở Miền Nam. Tác giả cũng

130

Nghiên cứ u Tôn giáo. Số 10 – 2024

đã trình bày về chủ trương, chính sách của Trung ương Đảng, Trung ương Cục Miền Nam đối với vấn đề tôn giáo. Chương 3: Quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về tôn giáo từ năm 1975 đến năm 1990 Bối cảnh lịch sử của giai đoạn này là: Miền Nam đã giải phóng, đất nước thống nhất, cả nước bước vào giai đoạn xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa. Trong bối cảnh Miền Nam vừa giải phóng, nhiều tôn giáo có những biến động lớn thời gian đầu sau giải phóng như Công giáo, Tin Lành và một số tôn giáo khác. Thời gian đầu sau giải phóng, ở Miền Nam nổi lên nhiều hoạt động chống đối cách mạng của một số chức sắc tôn giáo làm cho tình hình chính trị ở Nam Bộ trở nên phức tạp. Những vấn đề này đã có tác động không nhỏ đến chủ trương, chính sách đối với tôn giáo của Đảng thời kỳ này. Trong bối cảnh như vậy, chủ trương, chính sách của Đảng đối với tôn giáo đã có những thay đổi phù hợp với tình hình thực tế. Điều này được thể hiện qua các kỳ Đại hội của Đảng và các văn bản khác của Đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam cũng đã thể hiện rõ quan điểm,chính sách đối với từng tôn giáo cụ thể. Nội dung này được tác giả trình bày chi tiết trong nội dung chương này. Chương 4: Quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về tôn giáo từ năm 1990 đến nay Trong chương này tác giả đã cho thấy tình hình tôn giáo thế giới và Việt Nam thập niên cuối thế kỷ XX và thập niên đầu thế kỷ XXI; Những đặc điểm về chính trị – xã hội, tôn giáo ở Việt Nam từ những năm đầu sau Đổi Mới đến nay. Đặc biệt, tác giả đã cho thấy nghị quyết số 24-NQ/Tw là một trong những bước ngoặt trong đổi mới quan điểm, chính sách đối với tôn giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Tiếp theo đó là các Chỉ thị 37-CT/Tw và Nghị quyết 25-NQ/TW. Quan điểm, đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam còn được thể hiện qua Cương lĩnh và Báo cáo Chính trị các kỳ đại hội của Đảng và các văn bản khác mang tính đặc thù đối với một số tôn giáo như Tin Lành (Chỉ thị 01/2005/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về một số công tác đối với đạo Tin Lành ngày 4/2/2005…); Islam giáo trong dân tộc Chăm (Thông báo số 119- TB/Tw ngày 30/9/2003 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Thông báo ý kiến Ban Bí thư về chủ trương công tác đối với Hồi giáo trong tình hình mới…); Phật giáo Nam tông Khmer (Chỉ thị số 68-CT/Tw về công tác ở

Nghiên cứ u Tôn giáo. Số 10 – 2024

131

vùng đồng bào dân tộc Khmer, ngày 18/4/1991 của Ban Bí thư Trung ương Đảng), v.v.. Có thể thấy, thời kỳ này đổi mới công tác tôn giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam thể hiện cơ bản trên hai bình diện: thứ nhất là quan điểm nhìn nhận đánh giá về bản chất, vai trò cũng như sự tồn vong của tôn giáo; thứ hai là đổi mới về chính sách cụ thể đối với tôn giáo mà nổi bật là việc xem xét, công nhận các giáo hội và các hệ phái tôn giáo, nếu có đường hướng hành đạo gắn bó với dân tộc, có tôn chỉ mục đích, điều lệ phù hợp với luật pháp Nhà nước, có tổ chức thích hợp và có bộ máy nhân sự đảm bảo tốt về hai mặt đạo, đời. Chương 5: Tôn giáo thời kỳ đổi mới ở nước ta và những vấn đề đặt ra Chương này cho thấy tôn giáo thời kỳ đổi mới ở nước ta với những nét nổi trội trong đời sống tôn giáo như thờ cúng Hùng Vương, thờ cúng và tôn vinh những người có công với làng, nước và thờ tổ tiên (gọi tắt là thờ Tổ). Năm 2014, ở Việt Nam đã có 13 tôn giáo và 40 tổ chức tôn giáo được công nhận, tuy nhiên, vẫn còn một số tôn giáo và hàng chục tổ chức tôn giáo chưa được công nhận dẫn đến hiện tượng không gian tôn giáo trở nên đa dạng và phức tạp. Nhiều vùng, miền trước đây, không gian chủ yếu là của một tôn giáo thì nay tiếp tục bị phân tách. Hiện tượng tôn giáo mới không chỉ gia tăng về số lượng mà còn phức tạp về hoạt động. Trong chương này, tác giả dành nhiều tâm huyết cho việc trình bày những ảnh hưởng của tôn giáo đối với đời sống xã hội trong thời kỳ mới với các nội dung như sau: Tôn giáo là một nguồn lực để phát triển xã hội; Tín ngưỡng, tôn giáo vẫn giữ vai trò trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc; Các thế lực phản động tiếp tục sử dụng tôn giáo như một vũ khí lợi hại thực hiện âm mưu diễn biến hòa bình. Tác giả cũng phân tích cho những vấn đề đặt ra trong việc tiếp tục đổi mới, hoàn thiện chủ trương, chính sách của Đảng về công tác tôn giáo dưới góc độ lý luận và những chủ trương cụ thể. Có thể thấy, qua 258 trang sách, tác giả đã cung cấp cho người đọc một cách tổng quát và khá toàn diện về quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam đối với tôn giáo từ năm 1930 đến nay. Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc!

Danh Mục Văn Bản Chỉ Đạo Và Văn Bản Qppl Về Tín Ngưỡng, Tôn Giáo

I. CHỈ THỊ, NGHỊ QUYẾT CỦA ĐẢNG

 

25-NQ/TW

12/3/2003

Nghị quyết Hội nghị lần thứ Bảy Ban Chấp hành Trung ương Ðảng khóa IX về  công tác tôn giáo

Còn hiệu lực

II. VĂN BẢN DO QUỐC HỘI, CHÍNH PHỦ BAN HÀNH

  •  

    Không số

    28/11/2013

    Hiến pháp năm 2013 (trích)

    Còn hiệu lực

  •  

    02/2024/QH14

    18/11/2024

    Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2024

    Còn hiệu lực

  •  

    162/2024/NĐ-CP

    30/12/2024

    Nghị định 162/2024/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo.

    Còn hiệu lực

  •  

    110/2024/NĐ-CP

    29/8/2024

    Nghị định Quy định về quản lý và tổ chức lễ hội

    Còn hiệu lực

  •  

    04/2014/TTLT-BVHTTDL-BNV

    30/5/2014

    Thông tư liên tịch của Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch và Bộ Nội vụ về việc hướng dẫn việc thực hiện nếp sống văn minh tại các cơ sở tín ngưỡng, cơ sở tôn giáo.

    Còn hiệu lực

  •  

    23/2014/TT-BTNMT

    19/05/2014

    Thông tư 23/2014/TT-BTNMT quy định về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (do Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành)

    Còn hiệu lực

    Đã được bổ sung một số quy định theo Thông tư số 02/2024/TT-BTNMT ngày 27/01/2024

    IV. CÁC VĂN BẢN LUẬT CÓ LIÊN QUAN

  •  

    45/2013/QH13

    29/11/2013

    Luật Đất đai 2013 (trích)

    Còn hiệu lực

    Đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 35/2024/QH14

  •  

    21/2024/QH14

    24/11/2024

    Luật Quy hoạch 2024 (trích)

    Còn hiệu lực

  •  

    30/2009/QH

    12

    17/06/2009

    Luật Quy hoạch đô thị 2009 (trích)

    Còn hiệu lực

    Đã được sửa đổi, bổ sung bằng 02 văn bản: Luật số 35/2024/QH14 ngày 20/11/2024 và Luật số 61/2024/QH14 ngày 17/6/2024 (hiệu lực từ ngày 01/01/2024)

  •  

    35/2024/QH14

    20/11/2024

    Còn hiệu lực

  •  

    39/2024/QH14

    13/06/2024

    Luật Đầu tư công 2024 (trích)

    Còn hiệu lực

  •  

    50/2014/QH13

    18/06/2014

    Luật Xây dựng 2014 (trích)

    Còn hiệu lực

    Đã được sửa đổi, bổ sung bằng 02 văn bản: Luật số 35/2024/QH14 ngày 20/11/2024 và Luật số 62/2024/QH14 ngày 17/6/2024 (hiệu lực từ ngày 01/01/2024)

  •  

    62/2024/QH14

    17/6/2024

    Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xây dựng (2024)

    Chưa có hiệu lực

    Hiệu lực từ 01/01/2024

  •  

    32/2009/QH12

    18/06/2009

    Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa 2001 (Luật Di sản văn hóa số 28/2001/QH10 ngày 29/6/2001)

    Còn hiệu lực

  •  

    22/2024/QH14

    08/6/2024

    Luật Quốc phòng 2024 (trích)

    Còn hiệu lực

  •  

    43/2024/QH14

    14/06/2024

    Luật Giáo dục 2024 (trích)

    Còn hiệu lực

  •  

    09/2024/QH14

    19/06/2024

    Luật Du lịch 2024 (trích)

    Còn hiệu lực

  •  

    97/2024/QH13

    25/11/2024

    Luật phí và lệ phí 2024 (trích)

    Còn hiệu lực

    V. CÁC VĂN BẢN KHÁC CÓ LIÊN QUAN

  •  

    166/2024/NĐ-CP

    25/12/2024

    Nghị định quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch, dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh

    Còn hiệu lực

  •  

    198/QĐ-BNV

    31/01/2024

    Quyết định 198/QĐ-BNV năm 2024 về việc Bộ trưởng Bộ Nội vụ ủy quyền cho Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ trong việc thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

    Còn hiệu lực