Văn Bản Cục An Toàn Thực Phẩm / Top 6 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Bac.edu.vn

Văn Bản An Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm

Mẫu Phiếu Khảo Sát Xã Hội Học Về ý Thức An Toàn Thực Phẩm Của Sinh Viên Trên Địa Bàn Hà Nội, Luận án Về Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm Thức ăn Đường Phố, Hướng Dẫn Thực Hành Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm, Khảo Sát ý Thức An Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm, Bản Cam Kết Đảm Bảo Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm, Bản Cam Kết Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm, Bản Cam Kết Về Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm, Bản Cam Kết Bảo Đảm Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm, Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm , Văn Bản An Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm, Mẫu Hồ Sơ An Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm, Văn Bản Chỉ Đạo Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm, Bep An Tap The Dam Bao Ve Sinh An Toan Thuc Phảm, Cẩm Nang An Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm, Công Văn An Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm, Phương án Đảm Bảo Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm, Luận án Về An Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm, Kế Hoạch An Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm, Kế Hoạch Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm, Thủ Tục Xin Giấy An Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm, Mẫu Đơn Đăng Ký Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm, Luận Văn An Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm, Giấy Cam Kết Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm, Xử Phạt Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm, Vệ Sinh Môi Trường An Toàn Thực Phẩm, Thủ Tục Đăng Ký Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm, Phương án Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm, Thủ Tục Cấp Giấy An Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm, Thủ Tục Đăng Ký An Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm, Tạp Chí Kia Học Về Vệ Sinh An Toan Thực Phẩm Đường Phố, Mẫu Tổng Kết Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm Tại Y Tế Xã, Luật Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm, Thông Tư An Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm, Báo Khoa Học Về Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm Đường Phố, Biên Bản Kiểm Tra An Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm, Giấy ủy Quyền An Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm, Câu Hỏi Trắc Nghiệm Thi Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm, Bài Tham Luận Về An Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm, Mẫu Biên Bản Kiểm Tra An Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm, Kế Hoạch Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm Năm 2017, Thủ Tục Xin Giấy Phép An Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm, Bai Tham Luan Ve Sinh An Toan Thuc Pham, Van Ban Huong Dan Phuong An Dam Bao Ve Sinh An Toan Thuc Pham, Bài Thi Trắc Nghiệm Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm, Bài Tham Luận Về Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm, Mẫu Báo Cáo Tổng Kết Cuối Năm An Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm, Mẫu Chứng Nhận Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm, Biểu Mẫu Đăng Ký Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm, Nghị Định An Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm, Tiêu Chuẩn Đánh Giá Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm, Mẫu Giấy Chứng Nhận An Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm, Nghiên Cứu Về An Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm Đường Phố Tỉng Đâk Lắk, Bài Thuyết Trình Về An Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm Đường Phố, Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm Trong Doanh Nghiệp, Hướng Dẫn Thi Hành Luật Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm, Thủ Tục Cấp Giấy Chứng Nhận An Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm, Mẫu Giấy Chứng Nhận Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm, Biên Bản Kiểm Tra Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm Trong Trường Học, Van Ban Huong Dan Phuong An Dam Bao Ve Sinh An Toan Thuc Pham Trong Truong Hoc, Luận Văn Điều Kiện Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm Và Hàm Lượng Histamin Trong Cá Nục Tại Các Cơ Sở Kinh D, Luận Văn Điều Kiện Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm Và Hàm Lượng Histamin Trong Cá Nục Tại Các Cơ Sở Kinh D, Danh Mục Hàng Hoá Nhập Khẩu Phải Kiểm Tra Về Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm Theo Mã Số Hs, Kiến Thức Thái Độ Thực Hành An Toàn Thực Phẩm, Đơn Đề Nghị Xác Nhận Kiến Thức Về An Toàn Thực Phẩm, Giấy Xác Nhận Kiến Thức Về An Toàn Thực Phẩm, Mẫu Phiếu Khảo Sát Xã Hội Học Về ý Thức An Toàn Thực Phẩm, Bài Kiểm Tra Kiến Thức Về An Toàn Thực Phẩm, Báo Cáo Thực Hành Vi Sinh Thực Phẩm, Hóa Sinh Học Thực Phẩm, Báo Khoa Học Về Vệ Sinh Thực Phẩm Dsuwofng Phố, An Toàn Thực Phẩm Khi Mua Sắm , Thủ Tục An Toàn Thực Phẩm, Bản Cam Kết Về An Toàn Thực Phẩm, Báo Cáo Sơ Kết An Toàn Thực Phẩm, Đề án An Toàn Thực Phẩm, Đồ án An Toàn Thực Phẩm, Văn Bản An Toàn Thực Phẩm, Đề Tài An Toàn Thực Phẩm, Báo Cáo An Toàn Thực Phẩm, Mẫu Bản Cam Kết Về An Toàn Thực Phẩm, Chỉ Thị Về An Toàn Thực Phẩm, Dàn ý An Toàn Thực Phẩm, Chỉ Thị An Toàn Thực Phẩm, Dàn Bài An Toàn Thực Phẩm, Mẫu Báo Cáo An Toàn Thực Phẩm, Bản Cam Kết An Toàn Thực Phẩm, Báo Cáo Thực Hành Công Nghệ Sinh Phẩm, Kế Hoạch An Toàn Thực Phẩm, Báo Cáo Kết Quả Kiểm Tra An Toàn Thực Phẩm, Mẫu Hợp Đồng An Toàn Thực Phẩm, Công Văn An Toàn Thực Phẩm, Quy Trình An Toàn Thực Phẩm, Thủ Tục Xin Giấy An Toàn Thực Phẩm, An Toàn Thực Phẩm Đường Phố, Biên Bản An Toàn Thực Phẩm, Mẫu Phiếu An Toàn Thực Phẩm, Luận Văn An Toàn Thực Phẩm, Bộ Luật An Toàn Thực Phẩm, Luật An Toàn Thực Phẩm, Bộ Tiêu Chí An Toàn Thực Phẩm,

Mẫu Phiếu Khảo Sát Xã Hội Học Về ý Thức An Toàn Thực Phẩm Của Sinh Viên Trên Địa Bàn Hà Nội, Luận án Về Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm Thức ăn Đường Phố, Hướng Dẫn Thực Hành Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm, Khảo Sát ý Thức An Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm, Bản Cam Kết Đảm Bảo Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm, Bản Cam Kết Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm, Bản Cam Kết Về Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm, Bản Cam Kết Bảo Đảm Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm, Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm , Văn Bản An Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm, Mẫu Hồ Sơ An Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm, Văn Bản Chỉ Đạo Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm, Bep An Tap The Dam Bao Ve Sinh An Toan Thuc Phảm, Cẩm Nang An Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm, Công Văn An Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm, Phương án Đảm Bảo Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm, Luận án Về An Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm, Kế Hoạch An Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm, Kế Hoạch Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm, Thủ Tục Xin Giấy An Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm, Mẫu Đơn Đăng Ký Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm, Luận Văn An Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm, Giấy Cam Kết Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm, Xử Phạt Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm, Vệ Sinh Môi Trường An Toàn Thực Phẩm, Thủ Tục Đăng Ký Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm, Phương án Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm, Thủ Tục Cấp Giấy An Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm, Thủ Tục Đăng Ký An Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm, Tạp Chí Kia Học Về Vệ Sinh An Toan Thực Phẩm Đường Phố, Mẫu Tổng Kết Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm Tại Y Tế Xã, Luật Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm, Thông Tư An Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm, Báo Khoa Học Về Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm Đường Phố, Biên Bản Kiểm Tra An Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm, Giấy ủy Quyền An Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm, Câu Hỏi Trắc Nghiệm Thi Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm, Bài Tham Luận Về An Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm, Mẫu Biên Bản Kiểm Tra An Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm, Kế Hoạch Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm Năm 2017, Thủ Tục Xin Giấy Phép An Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm, Bai Tham Luan Ve Sinh An Toan Thuc Pham, Van Ban Huong Dan Phuong An Dam Bao Ve Sinh An Toan Thuc Pham, Bài Thi Trắc Nghiệm Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm, Bài Tham Luận Về Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm, Mẫu Báo Cáo Tổng Kết Cuối Năm An Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm, Mẫu Chứng Nhận Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm, Biểu Mẫu Đăng Ký Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm, Nghị Định An Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm, Tiêu Chuẩn Đánh Giá Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm,

Tòa Tuyên Hủy Quyết Định Xử Phạt Của Cục An Toàn Thực Phẩm

Buộc tiêu hủy sản phẩm khi chưa chứng minh được tác hại

Theo tìm hiểu của PV, cho rằng bị xử phạt và buộc tiêu hủy 2 lô sản phẩm bảo vệ sức khỏe không đúng quy định, Công ty Cổ phần Dược phẩm Linh Đạt (xã Dị Sử, huyện Mỹ Hào, Hưng Yên) đã khởi kiện Cục An toàn thực phẩm (ATTP).

Theo nội dung vụ án, thực hiện Quyết định của Cục trưởng Cục ATTP (Bộ Y tế), ngày 2/8/2018, Đoàn kiểm tra về ATTP đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm chức năng/thực phẩm bảo vệ sức khỏe (BVSK) tại Công ty Linh Đạt. Tại đây, Đoàn đã lấy 10 mẫu sản phẩm BVSK để kiểm nghiệm.

Sau đó, Cục ATTP cho rằng 2 sản phẩm BVSK mà Công ty Linh Đạt đang phân phối là Rasmuseld hoạt huyết dưỡng não (số lô 360318) và Kezakold (số lô 1440317), không phù hợp chỉ tiêu đã công bố. Ngày 25/1/2019, Cục ATTP đã lập biên bản vi phạm hành chính đối với Công ty Linh Đạt về lỗi “bán sản phẩm, hàng hóa” có chất lượng không phù hợp với tiêu chuẩn công bố, áp dụng (tổng giá trị hàng hóa vi phạm là gần 192 triệu đồng).

Tiếp đó, ngày 31/1, ông Đỗ Hữu Tuấn, Phó Cục trưởng Cục ATTP đã ký Quyết định số 13/QĐ-XPVPHC xử phạt Công ty Linh Đạt hơn 287 triệu đồng. Ngoài ra, còn buộc doanh nghiệp thu hồi và tiêu hủy lô sản phẩm BVSK Rasmuseld hoạt huyết dưỡng não và Kezakold (theo quy định tại khoản 5 Điều 20 Nghị định 119/2017 quy định xử phạt trong lĩnh vực tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng sản phẩm, hàng hóa).

Cho rằng quyết định trên là không đúng quy định và thiếu cơ sở pháp lý, Công ty Linh Đạt đã khởi kiện Cục trưởng Cục ATTP tại TAND tỉnh Hưng Yên, đề nghị hủy toàn bộ quyết định xử phạt. Linh Đạt khẳng định, việc Cục ATTP yêu cầu tiêu hủy sản phẩm trong khi chưa chứng minh được việc “gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi, cây trồng và môi trường” là sai quy định, gây thiệt hại cho doanh nghiệp.

Sản phẩm mà Linh Đạt phân phối bị Cục ATTP yêu cầu “cất kho” trong khi lô hàng chỉ còn hạn sử dụng trong 7 tháng nữa

Xử phạt sai thẩm quyền, thiếu căn cứ

Tại phiên tòa hành chính sơ thẩm vừa diễn ra, ông Đỗ Hữu Tuấn, Phó Cục trưởng Cục ATTP (đại diện cho người bị kiện) vẫn không chứng minh được sản phẩm nói trên “gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi, cây trồng và môi trường” như thế nào. Chính vì vậy, đại diện VKSND tỉnh Hưng Yên đề nghị HĐXX tuyên hủy một phần quyết định xử phạt (phần khắc phục hậu quả).

Tuy nhiên, sau khi nghị án, HĐXX đã tuyên hủy toàn bộ Quyết định xử phạt hành chính số 13/QĐ-XPVPHC của Cục ATTP vì cho rằng Quyết định này sai cả về hình thức, thẩm quyền, lẫn căn cứ xử phạt.

Theo đó, Quyết định số 13/QĐ-XPVPHC căn cứ vào Biên bản vi phạm hành chính đối với Công ty Linh Đạt nhưng việc lập biên bản này là không đúng đối tượng (không phải là người đại diện hợp pháp), gây ảnh hưởng đến quyền lợi của doanh nghiệp.

Về thẩm quyền, Quyết định xử phạt số 13/QĐ-XPVPHC đã căn cứ Quyết định số 1034/QĐ-ATTP ngày 7/12/2017 (có nội dung Cục trưởng ủy quyền cho Cục phó Đỗ Hữu Tuấn ký các quyết định xử phạt). Tuy nhiên, việc ủy quyền theo Quyết định này chỉ có thời hạn 1 năm, tức là việc ủy quyền kết thúc vào ngày 7/12/2018. Vì vậy, việc ông Đỗ Hữu Tuấn ký quyết định xử phạt Công ty Linh Đạt vào ngày 31/1/2019 là không đúng thẩm quyền.

Đánh giá về nội dung Quyết định xử phạt, HĐXX nhận định, theo Phiếu kết quả phân tích phục vụ cho việc đăng ký sản phẩm (năm 2015), đơn vị kiểm nghiệm dùng phương pháp thử TCVN 6121:2010 để tính hàm lượng canxi gloconate. Tuy nhiên, theo phiếu kiểm nghiệm ngày 29/8/2018, đơn vị kiểm nghiệm lại tính hàm lượng canxi gloconate theo phương pháp thử là H.HD.QT.176. Như vậy, hai phương pháp thử này là khác nhau nên không đủ cơ sở để kết luận về phần tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa. Tại Tòa, chính ông Tuấn cũng thừa nhận việc kiểm nghiệm vào năm 2015 là có sai sót.

Phiếu kiểm nghiệm của Viện Kiểm nghiệm An toàn vệ sinh thực phẩm Quốc gia thể hiện việc lấy mẫu kiểm nghiệm diễn ra vào 7/8/2018, nhưng biên bản cho việc lấy mẫu từ Công ty Linh Đạt lại diễn ra vào ngày 2/8/2018. Chính vì vậy, HĐXX nghi vấn “vậy, mẫu này có đúng với mẫu sản phẩm lấy ngày 2/8 khi Đoàn kiểm tra tới kiểm tra tại Công ty Linh Đạt hay không?”.

Về biện pháp khắc phục hậu quả “buộc tiêu hủy”, HĐXX nhận định, Cục ATTP chưa đưa ra được căn cứ chứng minh sản phẩm gây hại cho con người, môi trường, cũng chưa chứng minh được sản phẩm đã vượt quá hàm lượng đã công bố. Trong khi đó, theo quy định của Bộ Y tế thì còn nhiều hình thức khắc phục hậu quả khác (như: ghi lại nhãn.v.v…).

Từ những nhận định trên, HĐXX cho rằng Quyết định xử phạt số 13/QĐ-XPHC của Cục ATTP đã vi phạm về thẩm quyền, thủ tục và thiếu căn cứ hoặc căn cứ không đúng nên đã tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Linh Đạt, tuyên hủy toàn bộ Quyết định xử phạt số 13/QĐ-XPHC của Cục ATTP.

Luật An Toàn Thực Phẩm 2010 Và Các Văn Bản Hướng Dẫn

LUẬT AN TOÀN THỰC PHẨM 2010

Ngày 17 tháng 6 năm 2010, tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII đã thông qua Luật An toàn thực phẩm. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2011.

I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT AN TOÀN THỰC PHẨM 1. Thực trạng công tác bảo đảm an toàn thực phẩm hiện nay

Trong những năm qua, công tác bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP) đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận:

– Nhận thức của người dân về VSATTP đã được nâng lên rõ rệt (tỷ lệ nhận thức của người sản xuất tăng từ 47,8% năm 2005 lên 55,7% năm 2008, của người kinh doanh tăng từ 38,6% năm 2005 lên 49,4% năm 2008, của người tiêu dùng tăng từ 38,3% năm 2005 lên 48,6% năm 2008).

– Số lượng các cơ sở bảo đảm điều kiện VSATTP trong cả nước ngày càng tăng (từ 1.106 cơ sở năm 2006 đã tăng lên 17.592 cơ sở năm 2008).

– Tình hình ngộ độc thực phẩm, số vụ ngộ độc thực phẩm có chiều hướng giảm (số người mắc ngộ độc thực phẩm năm 2005 giảm 43,34% và số chết cũng giảm 28,17 % so với năm 1994).

– Công tác thanh tra, kiểm tra đã từng bước được đẩy mạnh (trong 5 năm, từ năm 2004- 2008, đã tiến hành được 1.494.411 lượt thanh tra, kiểm tra các cơ sở trên toàn quốc, trung bình mỗi năm tiến hành được 298.882,2 lượt).

– Công tác kiểm nghiệm ngày càng được chú trọng, dựa trên điều kiện cơ sở vật chất và con người sẵn có, hệ thống kiểm nghiệm đang được tích cực xây dựng từ Trung ương đến địa phương, gồm: Viện Kiểm nghiệm VSATTP quốc gia, các Trung tâm Kiểm nghiệm ATVSTP khu vực, các Labo thuộc Trung tâm y tế dự phòng của 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

– Các hoạt động liên ngành được thiết lập qua việc thành lập Ban Chỉ đạo liên ngành về VSATTP do Bộ trưởng Bộ Y tế (nay là Phó Thủ tướng Chính phủ) làm Trưởng ban với sự tham gia của các thành viên là đại diện các bộ, ngành phụ trách lĩnh vực trong chuỗi quản lý ATTP nên công tác quản lý ATTP đã đạt được những kết quả nhất định.

Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác bảo đảm an toàn thực phẩm vẫn còn một số yếu kém sau đây:

– Tình hình ngộ độc thực phẩm tuy có giảm so với trước khi Pháp lệnh VSATTP năm 2003 được ban hành nhưng diễn biến vẫn còn khá phức tạp (ngộ độc thực phẩm xảy ra do nhiều nguyên nhân, trong đó, do vi sinh vật là 7,8%, do hóa chất là 0,5%, do độc tố tự nhiên là 25,4 % và do các nguyên nhân không xác định được là 66,3%; số người mắc tập trung vào các vụ ngộ độc bếp ăn tập thể, thức ăn đường phố, đám cưới, đám giỗ, số người chết tập trung trong các vụ ngộ độc tại các bếp ăn gia đình).

– Công tác giáo dục, truyền thông về ATTP đã được đẩy mạnh, nhận thức của người dân đã được nâng lên nhưng công tác này vẫn chưa được thực hiện thường xuyên, chỉ tập trung vào những tháng cao điểm trong năm; nội dung tuyên truyền chưa phong phú; trách nhiệm của một số địa phương, cơ quan, đơn vị trong tuyên truyền chưa cao nên nhận thức của người dân về VSATTP vẫn chưa cao.

– Hoạt động liên ngành tuy đã được thiết lập, nhưng do các thành viên đều là lãnh đạo cấp Bộ, ngành, lại hoạt động kiêm nhiệm nên hiệu quả hoạt động chưa cao, việc chỉ đạo chưa sát sao, sự phối hợp giữa các Bộ, ngành chưa được chặt chẽ và thường xuyên.

– Hệ thống kiểm nghiệm, trang thiết bị kiểm nghiệm tuy đã được tăng cường nhưng hiện nay các cơ sở kiểm nghiệm vẫn còn thiếu các trang thiết bị hiện đại, phân tích nhanh, có độ chính xác cao, năng lực cán bộ kiểm nghiệm còn hạn chế nên ảnh hưởng đến kết quả kiểm nghiệm thực phẩm.

– Đầu tư cho công tác quản lý ATTP cũng còn rất thấp. Kinh phí đầu tư cho công tác quản lý ATTP giai đoạn 5 năm (từ 2004-2008) là 329 tỷ đồng, tính bình quân đầu người của cả nước chỉ đạt 780 đồng/người/năm – chỉ bằng 1/19 mức đầu tư của Thái Lan và bằng 1/136 so với đầu tư cho công tác VSATTP của một cơ quan quản lý thực phẩm và thuốc (FDA) của Mỹ.

2. Thực trạng pháp luật về an toàn thực phẩm

Qua đánh giá 6 năm thực hiện Pháp lệnh VSATTP năm 2003 cho thấy, Pháp lệnh này đã thật sự là một công cụ quan trọng để Nhà nước quản lý công tác VSATTP. Tuy nhiên, Pháp lệnh VSATTP vẫn còn một số bất cập sau:

– Cùng một vấn đề nhưng quá nhiều văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh (134 văn bản của các ngành, các cấp) nên có sự chồng chéo, mâu thuẫn, trùng lặp, có vấn đề nảy sinh nhưng chưa có văn bản quy định.

– Các khái niệm như an toàn thực phẩm, chất lượng thực phẩm, vệ sinh an toàn thực phẩm vẫn còn chưa rõ nên đã gây khó khăn trong việc phân định chức năng quản lý giữa các bộ, ngành.

– Các quy định về vấn đề thực phẩm chức năng, thực phẩm biến đổi gen, thực phẩm được bảo quản bằng phương pháp chiếu xạ vẫn còn mang tính nguyên tắc nên khi vận dụng trên thực tế còn gặp một số khó khăn, đặc biệt là đối với thực phẩm chức năng.

– Các quy định về hệ thống thanh tra chuyên ngành về VSATTP hiện mới được nêu tại Nghị định số 79/2008/NĐ-CP ngày 18/7/2008 của Chính phủ mà chưa được luật hoá nên hiệu lực pháp lý chưa cao. Mặt khác, các quy định trong Nghị định về hệ thống thanh tra chuyên ngành ATTP cũng chưa đồng nhất với pháp luật về thanh tra hiện hành.

– Các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về ATTP hiện còn thiếu rất nhiều, đặc biệt là đối với những thực phẩm truyền thống (các loại mắm, nem chua, tương…) và một số tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật được ban hành cũng đã lạc hậu nhưng chưa được sửa đổi nên rất khó khăn trong công tác quản lý ATTP.

– Hiện nay, phương thức quản lý đối với hàng hóa, trong đó có thực phẩm đã được điều chỉnh theo Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa năm 2007 và Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật năm 2006 nên một số quy định của Pháp lệnh Vệ sinh an toàn thực phẩm không còn phù hợp, cần phải được sửa đổi cho phù hợp.

– Việc quản lý nguy cơ, ngăn chặn và khắc phục sự cố về ATTP, truy nguyên nguồn gốc thực phẩm…chưa được pháp luật quy định nên cần phải bổ sung để tạo cơ sở pháp lý trong việc quản lý, bảo đảm ATTP.

Bên cạnh các tồn tại, bất cập của Pháp lệnh Vệ sinh an toàn thực phẩm nêu trên, theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, sau 6 năm thực hiện Pháp lệnh Vệ sinh an toàn thực phẩm cần thiết phải được nghiên cứu sâu sắc để sửa đổi, bổ sung và nâng lên thành Luật An toàn toàn thực phẩm.

3. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về an toàn thực phẩm

An toàn thực phẩm là một trong những vấn đề mà Đảng, Nhà nước Việt Nam từ lâu đã đặc biệt quan tâm và coi đây là một vấn đề có ý nghĩa lớn về kinh tế – xã hội, về an toàn xã hội, sức khoẻ cộng động, về bảo vệ môi trường và cũng là vấn đề có ảnh hưởng lớn đến tiến trình hội nhập của Việt Nam. Do vậy, Đảng và Nhà nước ta thường xuyên chỉ đạo và đưa ra các giải pháp nhằm không ngừng nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm, bảo vệ sức khoẻ nhân dân. Nghị quyết số 46-NQ/TW ngày 25 tháng 02 năm 2005 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân trong tình hình mới, Kết luận số 43-KL/TW của Bộ Chính trị về 03 năm thực hiện Nghị quyết số 46-NQ-TW, Nghị quyết số 34/2009/NQ-QH12 ngày 19 tháng 6 năm 2009 của Quốc hội về đẩy mạnh thực hiện chính sách pháp luật về quản lý chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm là những văn bản quan trọng, tiêu biểu của Đảng và Nhà nước để chỉ đạo, đưa ra những biện pháp quan trọng nhằm bảo đảm thực hiện có hiệu quả công tác an toàn thực phẩm trong toàn xã hội.

Đánh giá đúng đắn về vai trò quan trọng của công tác bảo đảm ATTP đối với sức khoẻ nhân dân, một trong những yếu tố quan trọng góp phần nâng cao tầm vóc và thể chất của con người Việt Nam, góp phần tích cực vào sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân (BV, CS & NCSKND), Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, chỉ đạo và đầu tư các nguồn lực cho lĩnh vực này. Tuy nhiên, công tác bảo đảm ATTP vẫn còn nhiều yếu kém, trong đó có ” công tác thông tin, giáo dục, truyền thông thay đổi hành vi sức khoẻ đã có đổi mới bước đầu, song chưa đáp ứng yêu cầu, đặc biệt trong lĩnh vực y tế dự phòng, an toàn thực phẩm“[1] . Nguyên nhân chính của các yếu kém đó là do “Quản lý nhà nước trong lĩnh vực y tế còn nhiều bất cập, một số chính sách về y tế không còn phù hợp nhưng chậm được sửa đổi hoặc bổ sung. Một bộ phận nhân dân chưa hình thành được ý thức và thói quen tự bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ. Vệ sinh môi trường, an toàn thực phẩm chưa được kiểm soát chặt chẽ“[2] . Từ nhận định trên, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra nhiệm vụ và giải pháp để phát triển sự nghiệp BV, CS & NCSKND nói chung và lĩnh vực ATTP nói riêng, một trong những nhiệm vụ đó là ” Triển khai mạnh mẽ các biện pháp kiểm soát vệ sinh, an toàn thực phẩm”[3] và ” Tăng cường quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm”[4] .

Như vậy, Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định rõ sự cần thiết phải tăng cường quản lý, kiểm soát chặt chẽ, có hiệu quả hơn về ATTP và từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật về ATTP mà trước mắt là “Sớm trình Quốc hội xem xét, ban hành Luật An toàn thực phẩm”[5] để thay thế Pháp lệnh VSATTP hiện đã không còn phù hợp với thực tiễn.

4. Yêu cầu hội nhập quốc tế trong quản lý ATTP

Bên cạnh đó, trong điều kiện hội nhập, cần thiết phải có cơ chế pháp lý về việc thừa nhận tiêu chuẩn lẫn nhau giữa Việt Nam và các quốc gia trong khu vực, cũng như thế giới, đặc biệt là việc áp dụng các hệ thống quản lý tiên tiến trong quản lý an toàn thực phẩm.

Như vậy, các yêu cầu trên cho thấy, Việt Nam cần phải nội luật hóa các quy định của WTO, WHO, FAO, CODEX…về ATTP để có cơ sở pháp lý thực hiện tại Việt Nam.

II. QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO VIỆC XÂY DỰNG LUẬT AN TOÀN THỰC PHẨM

1. Thể chế hoá quan điểm của Đảng về phát triển sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân nói chung và trong lĩnh vực ATTP nói riêng.

2. Tổng kết kinh nghiệm, kế thừa có chọn lọc các quy định hiện hành của pháp luật về ATTP.

3. Nâng cao trách nhiệm của tất cả các cấp, các ngành, mọi tổ chức, cá nhân trong công tác bảo đảm ATTP, trong đó ngành y tế giữ vai trò đầu mối, phối hợp liên ngành và huy động sự tham gia của cộng đồng.

4. Đổi mới phương thức quản lý đối với sản phẩm thực phẩm, chuỗi sản xuất, chế biến, tiêu dùng thực phẩm phù hợp với pháp luật quốc tế về ATTP và đáp ứng yêu cầu hội nhập.

5. Bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất và đồng bộ của hệ thống pháp luật, tính khả thi trong thực tế và bảo đảm yếu tố về bình đẳng giới.

III. BỐ CỤC VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT

Luật gồm 11 chương và 72 điều, gồm các nội dung cơ bản sau:

Nhằm làm rõ khái niệm, từ đó giúp người đọc có cách hiểu chung thống nhất về các quy phạm được quy định trong Luật, các thuật ngữ quan trọng được sử dụng nhiều lần đã được giải thích trên cơ sở cập nhật các thuật ngữ mới theo quy định của Codex và Quốc tế; đưa ra nguyên tắc quản lý an toàn thực phẩm xuyên suốt chuỗi thực phẩm từ trang trại đến bàn ăn và dựa trên phân tích nguy cơ. Đối với xử phạt vi phạm hành chính thì ngoài việc áp dụng mức phạt theo hành vi vi phạm còn áp dụng theo giá trị thực phẩm trong trường hợp mức quy định xử phạt hành vi còn thấp hơn giá trị của thực phẩm vi phạm.

Chương này quy định về quyền và nghĩa vụ đối với an toàn thực phẩm của 3 nhóm đối tượng chính, đó là: tổ chức, cá nhân sản xuất thực phẩm; tổ chức, cá nhân kinh doanh thực phẩm và người tiêu dùng thực phẩm.

Để quản lý đối với sản phẩm, dù là sản phẩm ở dạng nào cũng phải bảo đảm các điều kiện chung nhất. Chính vì vậy, để tránh quy định trùng lắp trong Luật, Điều 10 đã đưa ra một số điều kiện mà sản phẩm phải đáp ứng nhằm bảo đảm an toàn cho sản phẩm.

Ngoài các điều kiện chung ở Điều 10, đối với các nhóm thực phẩm cụ thể, đặc thù như: thực phẩm tươi sống, thực phẩm đã qua chế biến; thực phẩm tăng cường vi chất dinh dưỡng; thực phẩm chức năng; thực phẩm biến đổi gen; thực phẩm đã qua chiếu xạ; phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến; bao gói, chứa đựng thực phẩm cần phải bảo đảm thêm một số điều kiện riêng khác nữa.

Tương tự như Chương III, đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh thực phẩm cũng có những điều kiện chung, ngoài ra còn có thêm những điều kiện riêng đối với từng sản phẩm và từng quá trình như: sản xuất, kinh doanh thực phẩm tươi sống, điều kiện trong sơ chế, chế biến, kinh doanh thực phẩm đã qua chế biến, điều kiện trong kinh doanh dịch vụ ăn uống. Bên cạnh đó, do thức ăn đường phố là một loại hình kinh doanh đặc biệt và hiện là đối tượng gây ngộ độc thực phẩm cao nhất, chính vì vậy Chương IV đưa ra một mục riêng quy định về điều kiện bảo đảm an toàn trong kinh doanh thức ăn đường phố.

Một điểm khác biệt của Chương này so với Pháp lệnh Vệ sinh an toàn thực phẩm năm 2003 là quy định riêng đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm nhỏ lẻ và giao Bộ chuyên ngành quy định điều kiện cho từng loại hình cho phù hợp và khả thi.

Để kiểm soát chặt chẽ đối với thực phẩm nhập khẩu, bao gồm cả phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến và bao bì, vật liệu chứa đựng thực phẩm, Chương này đưa ra các điều kiện đối với các đối tượng này, đặc biệt là đối với thực phẩm lần đầu nhập khẩu vào Việt Nam mà Việt Nam hiện chưa có quy chuẩn kỹ thuật tương ứng.

Đối với thực phẩm xuất khẩu, mặc dù đã có rào cản chặt chẽ từ nước nhập khẩu, nhưng để bảo đảm giữ gìn uy tín cho quốc gia trên thị trường các nước, Luật vẫn đưa ra các quy định về điều kiện an toàn đối với thực phẩm xuất khẩu cũng như những yêu cầu trong trường hợp có yêu cầu từ phía nước nhập khẩu.

Về ghi nhãn thực phẩm, quy định các yêu cầu đối với việc ghi nhãn thực phẩm nói chung và quy định riêng đối với các loại thực phẩm đặc biệt như thực phẩm biến đổi gen, thực phẩm chức năng, thực phẩm đã qua chiếu xạ.

Trước yêu cầu từ thực tiễn công tác kiểm nghiệm và sự khác biệt giữa từ ngữ kiểm nghiệm được sử dụng trong Luật An toàn thực phẩm và các thuật ngữ được sử dụng trong Luật Chất lượng, sản phẩm hàng hóa, Chương này đưa các quy định về yêu cầu đối với cơ sở kiểm nghiệm, kiểm nghiệm phục vụ giải quyết tranh chấp về ATTP và chi phí lấy mẫu và kiểm nghiệm thực phẩm. Theo tinh thần của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa, chỉ những cơ sở kiểm nghiệm được chỉ định mới được tham gia kiểm nghiệm phục vụ quản lý nhà nước.

Về phân tích nguy cơ đối với an toàn thực phẩm, đây là nội dung hoàn toàn mới so với Pháp lệnh năm 2003. Để quản lý tốt về an toàn thực phẩm trong thời kỳ mới và đáp ứng được yêu cầu hội nhập quốc tế, cần phải tiến hành các hoạt động phân tích nguy cơ đối với an toàn thực phẩm bao gồm: đánh giá nguy cơ, quản lý nguy cơ và truyền thông về nguy cơ.

Với khái niệm sự cố về an toàn thực phẩm đã được nêu tại Điều 2 về giải thích từ ngữ, Chương này đưa ra các quy định về các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn và khắc phục sự cố về an toàn thực phẩm, trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện việc phòng ngừa, ngăn chặn sự cố về an toàn thực phẩm.

Truy xuất nguồn gốc thực phẩm, thu hồi và xử lý đối với thực phẩm không bảo đảm an toàn là những hoạt động mà tất các các tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thực hiện khi có yêu cầu và khi tự phát hiện sự cố. Chương này quy định rõ trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm và trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc truy xuất nguồn gốc, thu hồi và xử lý đối với thực phẩm không an toàn.

Công tác truyền thông có vai trò quan trọng đối với việc bảo đảm an toàn thực phẩm nhằm nâng cao nhận thức của người dân để dẫn đến việc thay đổi hành vi. Chính vì vậy Luật đã quy định:

Thông tin, giáo dục, truyền thông về an toàn thực phẩm nhằm nâng cao nhận thức về an toàn thực phẩm, thay đổi hành vi, phong tục, tập quán sản xuất, kinh doanh, sinh hoạt, ăn uống lạc hậu, gây mất an toàn thực phẩm, góp phần bảo vệ tính mạng, sức khỏe của con người; đạo đức kinh doanh, ý thức trách nhiệm của người sản xuất, kinh doanh với sức khỏe, tính mạng của người tiêu dùng.

Việc cung cấp thông tin, giáo dục, truyền thông về an toàn thực phẩm phải bảo đảm các yêu cầu sau đây: chính xác, kịp thời, rõ ràng, đơn giản, thiết thực; phù hợp với truyền thống, văn hoá, bản sắc dân tộc, tôn giáo, đạo đức xã hội, tín ngưỡng và phong tục tập quán; phù hợp với từng loại đối tượng được tuyên truyền.

Để giải quyết chồng chéo và giảm bớt gánh nặng cho các Bộ trong quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm, Luật đã phân công trách nhiệm quản lý nhà nước theo nguyên tắc từ A đến Z theo các nhóm thực phẩm/ngành hàng cho 3 Bộ: Y tế, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Công thương. Đồng thời quy định cụ thể hơn trách nhiệm quản lý nhà nước về ATTP cho UBND các cấp. Bộ Y tế chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm, Bộ Y tế có trách nhiệm thanh tra, kiểm tra tất cả các khâu trong quá trình sản xuất, kinh doanh thực phẩm khi cần thiết.

Luật An toàn thực phẩm đã được Quốc hội thông qua ngày 17/6/2010 là một sự kiện quan trọng thể hiện được quan điểm của Đảng và Nhà nước ta, tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho công tác bảo đảm ATTP trong giai đoạn tới, góp phần tích cực vào việc thực hiện thành công sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân.

IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN 1. Ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành

Để hướng dẫn, triển khai thực hiện Luật An toàn thực phẩm năm 2010 có hiệu quả, cần xây dựng, ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành sau:

1.1. Nghị định quy định phân công trách nhiệm quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm.

1.2. Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật An toàn thực phẩm.

1.3. Nghị định quy định về tổ chức và hoạt động của thanh tra an toàn thực phẩm.

1.4. Nghị định quy định về xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm.

1.5. Rà soát, sửa đổi, bổ sung, trình cơ quan có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các văn bản quy phạm pháp luật về an toàn thực phẩm để điều chỉnh toàn diện, đồng bộ và thống nhất các vấn đề về quản lý an toàn thực phẩm.

1.6. Xây dựng và ban hành theo thẩm quyền các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, tiêu chuẩn kỹ thuật về an toàn thực phẩm theo đúng lộ trình yêu cầu của Tổ chức Thương mại thế giới.

1.7. Xây dựng, ban hành chiến lược, chương trình, kế hoạch, đề án bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm:

a) Trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định phê duyệt chiến lược quốc gia bảo đảm an toàn thực phẩm giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2020.

b) Trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia vệ sinh an toàn thực phẩm giai đoạn 2011 – 2015.

c) Trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định phê duyệt Đề án Tăng cường năng lực Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

d) Trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định phê duyệt Đề án tăng cường năng lực quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm nông lâm thủy sản và muối từ Trung ương đến địa phương.

đ) Trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định phê duyệt Đề án xây dựng hệ thống cảnh báo nhanh và phân tích nguy cơ về an toàn thực phẩm.

e) Trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định phê duyệt Đề án phát triển vùng sản xuất nông lâm thủy sản tập trung bảo đảm an toàn thực phẩm (khuyến khích hình thức trang trại, an toàn dịch bệnh, an toàn thực phẩm, thân thiện môi trường, gắn với phát triển thị trường hàng hóa nông sản an toàn).

g) Trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định phê duyệt Đề án phòng chống thực phẩm giả, thực phẩm có nguồn gốc nhập lậu, gian dối thương mại, trong kinh doanh, lưu thông thực phẩm.

h) Trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định phê duyệt Đề án triển khai áp dụng mô hình điểm về thức ăn đường phố tại tất cả các quận, thị xã của Hà Nội giai đoạn 2011 – 2015.

i) Trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định phê duyệt Đề án xây dựng mô hình điểm và triển khai thực hiện phương án quản lý theo chuỗi cung cấp thực phẩm an toàn tại thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2011- 2015.

2. Tổ chức tuyên truyền, phổ biến pháp luật về an toàn thực phẩm

Bên cạnh công tác xây dựng, ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Luật An toàn thực phẩm, cần quan tâm thực hiện tốt công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm, cụ thể là:

2.1. Bộ Y tế phối hợp với các Bộ, ngành, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên của Mặt trận chỉ đạo, hướng dẫn các địa phương và tổ chức tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về quản lý an toàn thực phẩm một cách thường xuyên với các hình thức đa dạng, phù hợp với từng đối tượng, từng vùng miền; nâng cao ý thức của người tiêu dùng thực phẩm, đạo đức kinh doanh và trách nhiệm của người sản xuất, kinh doanh thực phẩm đối với sức khỏe cộng đồng.

2.2. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong lĩnh vực chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm và tuyên truyền, phổ biến pháp luật về vệ sinh, an toàn thực phẩm.

Sách Luật An Toàn Thực Phẩm Và Các Văn Bản Hướng Dẫn Thi Hành

Ngày 02/02/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định 15/2018/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật An toàn thực phẩm. Theo Nghị định này, tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm được tự công bố đối với thực phẩm đã qua chế biến, bao gói sẵn, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm, dụng cụ chứa đựng thực phẩm, vật liệu bao gói tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm. Sản phẩm, nguyên liệu sản xuất, nhập khẩu chỉ dùng để sản xuất, gia công hàng xuất khẩu hoặc phục vụ cho việc sản xuất nội bộ của tổ chức, cá nhân không tiêu thụ tại thị trường trong nước được miễn thực hiện thủ tục tự công bố sản phẩm,…

Nhằm giúp bạn đọc kịp thời nắm bắt những quy định quan trọng nêu trên, Sách pháp luật liên kết Nhà xuất bản Lao động phát hành cuốn sách nói trên có độ dày 400 trang

Nội dung cuốn sách gồm các phần chính sau đây:

Phần thứ nhất: Luật An toàn thực phẩm và các quy định mới về quản lý an toàn thực phẩm

Phần thứ hai: Cách phát hiện thực phẩm an toàn và thực phẩm không an toàn

Phần thứ tư: Quản lý nhà nước về kiểm tra, giám sát an toàn thực phẩm

Phần thứ năm: Quy định về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm và phương thức quản lý đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh

Phần thứ sáu: Quy trình thanh tra, kiểm tra về an toàn thực phẩm

Phần thứ bảy: Quy định xử phạt vi phạm hành chính và hướng dẫn chi tiết thi hành Luật An toàn thực phẩm

Để giúp các đơn vị hành chính, sự nghiệp, các cơ quan quản lý và đông đảo bạn đọc thuận tiện trong việc áp dụng tìm hiểu triển khai thực hiện , Ngoài ra cuốn còn hiệu lực, có thể vận dụng để bạn bạn đọc tham khảo và áp dụng trong công việc, sách còn in các văn bản pháp luật về Thực phẩm là tài liệu thực sự cần thiết đối với lãnh đạo và cán bộ, công chức và người lao động của các cơ quan, ban ngành, đoàn thể. Hy vọng cuốn sách này rất hữu ích cho các bạn có nhu cầu sử dụng. Sách có độ dày 400 trang,giá phát hành 350,000đ/1 cuốn. Nộp lưu chiểu quý II / 2018.