Văn Bản Điện Tử Ký Số / Top 3 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Bac.edu.vn

Hiệu Quả Của Văn Bản Điện Tử, Chữ Ký Số

Đến nay, 100% bộ, ngành, địa phương kết nối, liên thông và gửi nhận văn bản điện tử với trục liên thông văn bản quốc gia. Bước đầu để tích hợp, chia sẻ dữ liệu trở nên đơn giản hơn. Tiếp theo là áp dụng chữ ký điện tử, giúp ký giấy tờ không còn phải trực tiếp, tiết kiệm 1.200 tỷ đồng/năm từ công việc này.

Mang lại nhiều tiện ích khi áp dụng công nghệ xử lý giấy tờ

Đúng là như thế, theo Cục trưởng cục kiểm soát thủ tục hành chính, ông Ngô Hải Phan cho hay: “chỉ riêng giai đoạn từ 12/3 đến 27/5/2019 đã có 36.327 văn bản gửi và 105.325 văn bản nhận “đi qua” trục liên thông văn bản quốc gia”. Điều này cho thấy khối lượng văn bản gửi đi rất nhiều, nếu áp dụng phương pháp truyền thống gửi nhận trực tiếp sẽ tiếp tục tốn kém thời gian và tiền bạc.

Đối với việc triển khai chữ ký số trong gửi, nhận văn bản điện tử, Ban Cơ yếu Chính phủ đã cung cấp trên 150.000 chứng thư số cho các bộ, ngành, địa phương; cấp 96/154 (62%) chữ ký số cho lãnh đạo các bộ, ngành, cơ quan trung ương và 118/262 chữ ký số cho lãnh đạo các địa phương. Đánh giá sơ bộ cho thấy, việc gửi, nhận văn bản điện tử mang lại rất nhiều tiện ích. Việc kết nối gửi, nhận văn bản qua trục liên thông văn bản quốc gia rất thuận lợi, giảm lượng phát hành văn bản giấy, là bước cải cách lớn, giúp cơ quan nhà nước giải quyết nhanh chóng, hiệu quả công việc…

Chữ ký số cần được đẩy mạnh hơn

Song song với việc phát triển hệ thống văn bản số, thì chữ ký số càng được đề cao. Tuy nhiên, tỷ lệ gửi văn bản có tích hợp chữ ký số còn thấp, nhất là Bộ Tư pháp, Thanh tra Chính phủ, các tỉnh Lai Châu, Vĩnh Phúc, Quảng Bình. Lý do được đưa ra là để bảo đảm tính toàn vẹn của văn bản điện tử và quy định ban hành và phát hành văn bản, văn bản điện tử phát hành phải có tối thiểu 6 chữ ký số.

Văn bản có phụ lục, số lượng chữ ký sẽ rất lớn, điều này làm tăng đáng kể dung lượng đường truyền và thời gian xác thực chữ ký số. Tuy nhiên, trên cơ sở nền tảng số, tiến tới cải thiện dần những điểm bất cập mà chữ ký số còn mắc phải. Cùng với đó là việc tổ chức các lớp đào tạo, tập huấn để nâng cao nhận thực, năng lực cán bộ trong việc triển khai và áp dụng chữ ký số. Hơn hết hệ thống cơ sở hạ tầng, công nghệ thông tin của các cơ sở cung cấp chữ ký số cần được hoàn thiện để đảm bảo tính bảo mật, an toàn của chữ ký điện tử.

Đặc biệt, sắp tới khi việc sử dụng hóa đơn điện tử thay thế hoàn toàn hóa đơn giấy, chữ ký số càng cho thấy được vai trò của mình trong vòng quay công nghệ. Văn bản điện tử, chữ ký số sẽ là cách thức mới, mặc dù còn nhiều khó khăn và bất cập, tuy nhiên đây sẽ là căn cứ để hoàn thiện hơn hệ thống từ đó khi đi vào áp dụng triệt để sẽ giảm bớt vấn đề phát sinh.

Tập Huấn Văn Bản Điện Tử Có Xác Thực Chữ Ký Số

Thực hiện Chỉ thị số 01/CT-BNTMT ngày 09/ 8/2018 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc sử dụng văn bản điện tử có xác thực chữ ký số trên Hệ thống quản lý văn bản và hồ sơ công việc, kể từ ngày 06/9/2018, Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ chính thức thực hiện sử dụng hoàn toàn văn bản điện tử hành chính có xác thực chữ ký số trên Hệ thống quản lý văn bản và hồ sơ điện tử của Bộ.

Phát biểu tại Hội nghị tập huấn, ông Lê Phú Hà, Cục trưởng Cục Công nghệ thông tin và Dữ liệu tài nguyên môi trường cho biết, mục đích của việc tập huấn lần này là nhằm giúp các đơn vị thuộc Bộ sử dụng chữ ký số một cách thành thạo, hiệu quả; góp phần nâng cao chất lượng công việc và tạo thuận lợi cho công tác chỉ đạo điều hành của từng đơn vị nói riêng và Bộ, ngành Tài nguyên và Môi trường nói chung.

“Đây cũng là bước cụ thể hóa việc triển khai thực hiện Quyết định số 28/QĐ-TTg ngày 12/7/2018 của Thủ tướng Chính phủ quy định việc gửi, nhận văn bản điện tử thông qua kết nối, liên thông giữa các hệ thống quản lý văn bản và điều hành giữa các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước; cũng như thực hiện chỉ đạo của Bộ trưởng Trần Hồng Hà tại Chỉ thị số 01/CT-BTNMT” – Ông Lê Phú Hà cho biết.

Bên cạnh việc phổ biến các kiến thức, vị trí, vai trò của chữ ký số; Cục Công nghệ thông tin và Dữ liệu tài nguyên môi trường cũng đã hướng dẫn các cán bộ, công chức trong Bộ cài đặt, sử dụng phần mềm chữ ký số trên thiết bị di động thông minh; hướng dẫn quy trình xử lý Phiếu trình giải quyết công việc; đồng thời trao đổi, giải đáp các thắc mắc trong quá trình thực hành sử dụng phần mềm chữ ký số.

Khó Khăn Trong Triển Khai Ký Số Trên Văn Bản Điện Tử

(Thanhuytphcm.vn) – Chiều 29/5, tại Trụ sở Chính phủ, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng chủ trì cuộc họp triển khai Quyết định số 28/2018/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về gửi, nhận văn bản điện tử và phân cấp chữ ký số.

Bộ trưởng Mai Tiến Dũng cho biết, ngày 12/3, Thủ tướng đã khai trương Trục liên thông văn bản quốc gia, được các bộ, địa phương hưởng ứng tốt, dư luận xã hội đánh giá cao những cải cách của Chính phủ. Trục liên thông văn bản quốc gia là cơ sở bước đầu để tích hợp các nền tảng, kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan nhà nước, tiến tới triển khai dịch vụ công toàn quốc.

Báo cáo của Cục Kiểm soát thủ tục hành chính (Văn phòng Chính phủ) cho thấy, đến nay, 100% bộ, ngành, cơ quan, địa phương đã kết nối, liên thông và gửi, nhận văn bản điện tử với Trục liên thông văn bản quốc gia. Từ ngày 12/3 đến ngày 27/5, đã có trên 36.300 văn bản gửi và 105.300 văn bản nhận trên Trục liên thông văn bản quốc gia, trong đó có khoảng 7.900 văn bản điện tử gửi đến Văn phòng Chính phủ và có trên 5.800 văn bản là có chữ ký số.

Vấn đề đảm bảo an toàn, an ninh thông tin văn bản gửi, nhận trên Trục liên thông văn bản quốc gia được Văn phòng Chính phủ đặc biệt quan tâm, Trung tâm tin học đã phối hợp với Cục An toàn thông tin, Bộ Thông tin và Truyền thông thường xuyên rà soát, đánh giá an toàn bảo mật đối với Trục liên thông văn bản quốc gia, đảm bảo an ninh, an toàn tối đa cho hệ thống.

Hiện nay Ban Cơ yếu Chính phủ đã cung cấp trên 150.000 chứng thư số cho các bộ, ngành, địa phương; trong đó, đã cấp chứng thư số tổ chức cho 17/30 bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và cho 49/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Đã cấp 96/154 chữ ký số cho lãnh đạo các bộ, ngành, cơ quan Trung ương và 118/262 chữ ký số cho lãnh đạo UBND các tỉnh, thành phố. Theo thống kê, 84/95 bộ, ngành, địa phương đã tích hợp chữ ký số chuyên dùng Chính phủ.

Tuy nhiên, các bộ, ngành, địa phương còn gặp nhiều khó khăn trong triển khai tích hợp chữ ký số chuyên dùng trên hệ thống quản lý văn bản và điều hành để gửi, nhận văn bản điện tử. Trong quá trình triển khai gửi, nhận văn bản điện tử trên Trục liên thông văn bản quốc gia còn phát sinh một số lỗi như: Không gửi/nhận được văn bản; văn bản gửi không đến được nơi nhận; nhiều văn bản gửi qua Trục liên thông không tuân thủ thời gian gửi/nhận… Thời gian cấp đổi chữ ký số chuyên dùng tại các bộ, ngành, địa phương chậm, dẫn tới nhiều vấn đề phát sinh khi cán bộ thay đổi vị trí việc làm, thay đổi chức vụ, gây khó khăn cho các bộ, ngành, địa phương khi triển khai ký số trên văn bản điện tử.

Tại cuộc họp, Bộ trưởng Mai Tiến Dũng cho biết, mục tiêu là đến tháng 11/2019 khai trương cổng dịch vụ công quốc gia, một số dịch vụ sẽ đưa vào áp dụng ngay. Bộ trưởng đề nghị Bộ Thông tin và Truyền thông sớm công bố khung kiến trúc Chính phủ điện tử, tạo quy chuẩn để các nhà cung cấp phần mềm bám vào đó. Các địa phương chủ động tạo ra một phần mềm có thể kết nối với nhau.

Quy Định Mới Về Sử Dụng Chữ Ký Số Cho Văn Bản Điện Tử

Cụ thể, Thông tư 41 quy định rõ, việc sử dụng CKS cho văn bản điện tử phải tuân thủ các nguyên tắc: CKS phải gắn kèm văn bản điện tử sau khi ký số; Văn bản điện tử được ký số phải đảm bảo tính xác thực, tính toàn vẹn xuyên suốt quá trình trao đổi, xử lý và lưu trữ văn bản điện tử được ký số.

Về quản lý khóa bí mật cá nhân và khóa bí mật con dấu, Bộ TTTT quy định, người có thẩm quyền ký số có trách nhiệm bảo quản an toàn khóa bí mật cá nhân. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giao cho nhân viên văn thư quản lý, sử dụng khóa bí mật con dấu theo quy định. Thiết bị lưu khóa bí mật con dấu phải được cất giữ an toàn tại trụ sở cơ quan, tổ chức.

Cũng theo Thông tư 41, việc ký số trên văn bản điện tử trong CQNN được thực hiện thông qua phần mềm ký số; việc ký số vào văn bản điện tử thành công hoặc không thành công phải được thông báo thông qua phần mềm.

Trường hợp quy định người có thẩm quyền ký số trên văn bản điện tử, thông qua phần mềm ký số, người có thẩm quyền sử dụng khóa bí mật cá nhân để thực hiện việc ký số vào văn bản điện tử. Còn với trường hợp quy định cơ quan, tổ chức ký số trên văn bản điện tử, thông qua phần mềm ký số, văn thư được giao sử dụng khóa bí mật con dấu của cơ quan, tổ chức để thực hiện việc ký số vào văn bản điện tử.

Hiển thị thông tin về CKS của người có thẩm quyền và CKS của cơ quan, tổ chức trên văn bản điện tử thực hiện theo quy định của Bộ Nội vụ. Thông tin về người có thẩm quyền ký số, cơ quan, tổ chức ký số phải được quản lý trong cơ sở dữ liệu đi kèm phần mềm ký số. Nội dung thông tin quản lý quy định tại khoản 4, Điều 1, Nghị định 106 ngày 23/11/2011 của Chính phủ.

Cùng với đó, Thông tư 41 của Bộ TTTT cũng quy định cụ thể về việc kiểm tra CKS trên văn bản điện tử; kiểm tra hiệu lực của chứng thư số; thông tin lưu trữ kèm theo văn bản điện tử ký số; hủy bỏ thông tin lưu trữ kèm theo văn bản điện tử ký số cũng như các yêu cầu kỹ thuật và chắc năng đối với phần mềm ký số, phần mềm kiểm tra CKS.

Cơ quan, tổ chức sử dụng CKS cho văn bản điện tử có trách nhiệm ứng dụng phần mềm ký số, phần mềm kiểm tra CKS quy định tại các Điều 11 và 12 Thông tư này; Triển khai kết nối mạng theo quy định tại Khoản 3 Điều 8 Nghị định số 64/2007/NĐ-CP ngày 10/4/2007 của Chính phủ đảm bảo an toàn, bảo mật và tính sẵn sàng cao; Tổ chức quản lý các sản phẩm phần mềm (theo phiên bản) có chức năng ký số, kiểm tra CKS, lưu trữ thông tin kèm theo văn bản điện tử ký số tương ứng với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về CKS mà phần mềm hỗ trợ nhằm đảm bảo tính sẵn sàng, tương thích và an toàn bảo mật trong quá trình sử dụng văn bản điện tử ký số đã lưu trữ.

Bên cạnh việc quy định rõ trách nhiệm của tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực CKS; cơ quan, tổ chức sử dụng CKS cho văn bản điện tử và trách nhiệm người đứng đầu cơ quan, tổ chức sử dụng CKS, Thông tư 41 cũng yêu cầu, chậm nhất sau 12 tháng kể từ ngày Thông tư 41 có hiệu lực thi hành, các cơ quan, tổ chức đang sử dụng các phần mềm có chức năng ký số, kiểm tra CKS chưa đáp ứng yêu cầu kỹ thuật và chức năng quy định tại Thông tư, phải thực hiện nâng cấp, bổ sung phần mềm ký số, phần mềm kiểm tra CKS để đáp ứng quy định.