Văn Bản Điều Hành Giá Xăng Dầu / Top 7 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Bac.edu.vn

Bất Ổn Điều Hành Giá Xăng Dầu

Cơ chế điều hành quá nhiều mục tiêu: Ổn định giá, ổn địnhthị trường, bảo đảm nguồn thu nên các chính sách ban hành thiếu tính khả thi.

Quyết định này một lần nữa cho thấy cơ chế điều hành giáxăng dầu đang có những bất ổn.

Chỉ sau gần 3 tháng Nghị định 84 có hiệu lực (ngày15-12-2009), liên bộ Tài chính – Công Thương đã có văn bản yêu cầu doanhnghiệp không được tăng giá xăng để kiềm chế lạm phát.

Để bù đắp một phần cho khoản lỗ có thể phát sinh do khôngđược tăng giá, Bộ Tài chính cho xả quỹ bình ổn đối với mặt hàng xăng vàdầu.

Sự can thiệp này khiến dư luận đặt câu hỏi về sự nhất quántrong Nghị định 84 về kinh doanh xăng dầu theo giá thị trường.

Người dân mệt mỏi với sự bất ổn của giá xăng dầu (Ảnh: Tấn Thạnh)

Lý giải điều này, Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Cẩm Túkhẳng định theo Nghị định 84, doanh nghiệp có một phần quyền quyết địnhgiá xăng dầu. Nói Nhà nước trao quyền quyết định giá xăng dầu cho doanhnghiệp là hoàn toàn chưa chính xác. Khi giá thị trường có thể tác độngtới các chỉ tiêu kinh tế-xã hội, Chính phủ có quyền điều tiết việc tăng,giảm giá của doanh nghiệp.

TS Nguyễn Minh Phong, Viện Nghiên cứu Kinh tế Xã hội Hà Nội,cho rằng giá xăng dầu đang thực hiện theo quy chế thị trường ngược.

Lẽ ra, phải tự do hóa về thị trường cung cấp, cho phép đượcnhập khẩu và buôn bán tự do mới tiến đến cho doanh nghiệp tự định giábán lẻ. Nhưng đến nay, thị trường cung cấp xăng dầu vẫn chỉ là các doanhnghiệp Nhà nước hoặc công ty cổ phần lớn do Nhà nước chỉ định nhập khẩunên vẫn là độc quyền Nhà nước về phân phối xăng dầu, nhất là bán buôn.

Chưa có thị trường đúng nghĩa về xăng dầu, nếu cho doanhnghiệp tự định giá hoàn toàn thì vô hình trung sẽ gây hại cho nền kinhtế và chỉ lợi cho doanh nghiệp chiếm thị phần chi phối.

Nhà nước can thiệp quá sâu

Chính cách thực hiện thị trường ngược khiến Nhà nước đôi khican thiệp quá sâu vào hoạt động của doanh nghiệp.

Ông Vương Đình Dũng, Phó Tổng Giám đốc Tổng Công ty Xăng dầuVN (Petrolimex), cho biết cơ chế thị trường theo Nghị định 84 chỉ đượcvận hành trong khoảng hơn một tháng (tháng 1 và tháng 2), còn lại từ đầunăm đến nay, giá xăng dầu gần như do Nhà nước điều hành hoàn toàn.

Có nhiều cơ quan chỉ đạo giá xăng nhưng hậu quả cuối cùng dodoanh nghiệp hứng chịu. Mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạmphát là cần thiết nhưng đã là doanh nghiệp phải kinh doanh có lợi nhuận.

Ông Dũng nhận xét đã có sự lạm dụng biện pháp hành chínhtrong cơ chế điều hành giá xăng dầu và điều hành theo áp lực dư luận.

Lẽ ra trước sự tăng, giảm giá của doanh nghiệp, nếu đốichiếu với các quy định pháp luật hiện hành thấy có vi phạm thì phạt bằngchế tài chứ không phải liên tiếp can thiệp bằng các biện pháp hành chính.

Cùng quan điểm này, ông Vương Đình Dung, Tổng Giám đốc TổngCông ty Xăng dầu Quân đội, cho rằng sai lầm lớn nhất trong cơ chế điềuhành giá xăng dầu là đặt ra quá nhiều mục tiêu một lúc: Ổn định giá, ổnđịnh thị trường và bảo đảm nguồn thu. Do đó, các chính sách ban hành rađều không có tính khả thi.

Không thực hiện đầy đủ các văn bản

Có 3 văn bản mang tính quyết định đối với việc hình thành cơ chế điều hành giá xăng dầu theo thị trường. Đó là Quyết định 187/2003/QĐ-TTg cho phép doanh nghiệp đầu mối nhập khẩu được quyền tự quyết định giá trong phạm vi ± 10% giá định hướng do Bộ Tài chính quyết định đối với giá xăng và ± 5% đối với giá dầu. Nghị định 55/2007/NĐ-CP cho phép doanh nghiệp được tự quyết định giá bán và Nhà nước chấm dứt bù lỗ.

Cuối năm 2009, Chính phủ tiếp tục ra Nghị định 84 với chủ trương thị trường hóa xăng dầu ở mức cao nhất, có sự định hướng của Nhà nước. Doanh nghiệp được quyền tự quyết tăng giá ở mức dưới 7%. Tuy nhiên, cả 3 văn bản nói trên đều không được thực hiện đầy đủ.

Theo Phương AnhNgười lao động

Gửi bài viết

Chủ đề:

Điều Kiện Kinh Doanh Xăng Dầu

1. Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật.

2. Có cầu cảng chuyên dụng nằm trong hệ thống cảng quốc tế của Việt Nam, bảo đảm tiếp nhận được tàu chở xăng dầu hoặc phương tiện vận tải xăng dầu khác có trọng tải tối thiểu 7.000 tấn, thuộc sở hữu doanh nghiệp hoặc đồng sở hữu hoặc thuê sử dụng từ 05 năm trở lên.

3. Có kho tiếp nhận xăng dầu nhập khẩu dung tích tối thiểu 15.000 m3 để trực tiếp nhận xăng dầu từ tàu chở xăng dầu và phương tiện vận tải xăng dầu chuyên dụng khác, thuộc sở hữu doanh nghiệp hoặc đồng sở hữu hoặc thuê sử dụng của thương nhân kinh doanh dịch vụ xăng dầu từ 05 năm trở lên.

Sau 03 năm kể từ ngày được cấp Giấy phép kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu xăng dầu, phải sở hữu hoặc đồng sở hữu với số vốn góp tối thiểu 51% đối với hệ thống kho, đủ đáp ứng tối thiểu 1/3 nhu cầu dự trữ của thương nhân quy định tại Khoản 1 Điều 31 Nghị định này.

4. Có phương tiện vận tải xăng dầu nội địa thuộc sở hữu doanh nghiệp hoặc đồng sở hữu hoặc thuê sử dụng của thương nhân kinh doanh dịch vụ xăng dầu từ 05 năm trở lên.

Sau 02 năm kể từ ngày được cấp Giấy phép kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu xăng dầu, phải sở hữu hoặc đồng sở hữu với số vốn góp tối thiểu 51% đối với các phương tiện vận tải xăng dầu nội địa có tổng sức chứa tối thiểu là 3.000 m3.

5. Có hệ thống phân phối xăng dầu: Tối thiểu 10 cửa hàng bán lẻ thuộc sở hữu hoặc sở hữu và đồng sở hữu của doanh nghiệp, tối thiểu 40 tổng đại lý hoặc đại lý bán lẻ xăng dầu thuộc hệ thống phân phối của thương nhân.

Mỗi năm, kể từ khi được cấp Giấy phép kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu xăng dầu, phải sở hữu hoặc sở hữu và đồng sở hữu tối thiểu 04 cửa hàng bán lẻ xăng dầu, cho đến khi đạt tối thiểu 100 cửa hàng bán lẻ xăng dầu thuộc hệ thống phân phối của thương nhân.

6. Phù hợp với quy hoạch thương nhân kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu xăng dầu.

7. Thương nhân kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu nhiên liệu bay không bắt buộc phải có hệ thống phân phối quy định tại Khoản 5 Điều này nhưng phải có phương tiện tra nạp nhiên liệu bay thuộc sở hữu hoặc đồng sở hữu của thương nhân.

1. Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật, trong Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh xăng dầu.

2. Có cơ sở sản xuất xăng dầu theo đúng quy hoạch đã được phê duyệt và được cấp có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đầu tư.

3. Có phòng thử nghiệm thuộc sở hữu, đủ năng lực để kiểm tra, thử nghiệm các chỉ tiêu chất lượng xăng dầu theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia tương ứng.

Điều 12. Pha chế xăng dầu

1. Chỉ thương nhân đầu mối được pha chế xăng dầu; pha chế xăng dầu được thực hiện tại nơi sản xuất, xưởng pha chế hoặc kho xăng dầu phục vụ cho nhu cầu xăng dầu nội địa của thương nhân đầu mối.

Thương nhân thuộc các thành phần kinh tế được pha chế xăng dầu trong kho ngoại quan xăng dầu.

2. Trong thời hạn 01 năm kể từ ngày được cấp Giấy phép kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu xăng dầu, thương nhân kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu xăng dầu thực hiện pha chế các sản phẩm xăng dầu phải có phòng thử nghiệm đủ năng lực để kiểm tra chất lượng xăng dầu theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia.

3. Thương nhân đầu mối thực hiện pha chế xăng dầu phải đăng ký cơ sở pha chế theo hướng dẫn của Bộ Khoa học và Công nghệ.

1. Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật, trong Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh xăng dầu.

2. Có kho, bể dung tích tối thiểu 2.000 m3, thuộc sở hữu doanh nghiệp hoặc đồng sở hữu hoặc thuê sử dụng của thương nhân kinh doanh dịch vụ xăng dầu từ 05 năm trở lên.

3. Có phương tiện vận tải xăng dầu thuộc sở hữu doanh nghiệp hoặc đồng sở hữu hoặc thuê sử dụng của thương nhân kinh doanh dịch vụ xăng dầu từ 05 năm trở lên.

4. Có phòng thử nghiệm thuộc sở hữu doanh nghiệp hoặc đồng sở hữu hoặc có hợp đồng dịch vụ thuê cơ quan nhà nước có phòng thử nghiệm đủ năng lực kiểm tra, thử nghiệm các chỉ tiêu chất lượng xăng dầu phù hợp quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, tiêu chuẩn công bố áp dụng.

5. Có hệ thống phân phối xăng dầu trên địa bàn từ 02 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trở lên, bao gồm tối thiểu 05 cửa hàng bán lẻ thuộc sở hữu doanh nghiệp hoặc sở hữu và đồng sở hữu, tối thiểu 10 cửa hàng thuộc các đại lý bán lẻ xăng dầu được cấp Giấy chứng nhận cửa hàng đủ điều kiện bán lẻ xăng dầu theo quy định tại Điều 25 Nghị định này.

6. Cán bộ quản lý, nhân viên trực tiếp kinh doanh phải được đào tạo, huấn luyện và có chứng chỉ đào tạo, huấn luyện nghiệp vụ về phòng cháy, chữa cháy và bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật hiện hành.

1. Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật, trong Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh xăng dầu.

2. Có kho, bể xăng dầu dung tích tối thiểu 2.000 m3, thuộc sở hữu doanh nghiệp hoặc đồng sở hữu hoặc thuê sử dụng của thương nhân kinh doanh dịch vụ xăng dầu từ 05 năm trở lên.

3. Có phương tiện vận tải xăng dầu thuộc sở hữu doanh nghiệp hoặc đồng sở hữu hoặc thuê sử dụng của thương nhân kinh doanh dịch vụ xăng dầu từ 05 năm trở lên.

4. Có hệ thống phân phối xăng dầu, bao gồm tối thiểu 05 cửa hàng bán lẻ thuộc sở hữu doanh nghiệp hoặc sở hữu và đồng sở hữu, tối thiểu 10 cửa hàng thuộc các đại lý bán lẻ xăng dầu được cấp Giấy chứng nhận cửa hàng đủ điều kiện bán lẻ xăng dầu theo quy định tại Điều 25 Nghị định này.

Hệ thống phân phối của tổng đại lý phải nằm trong hệ thống phân phối của một thương nhân đầu mối và chịu sự kiểm soát của thương nhân đó.

5. Cán bộ quản lý, nhân viên trực tiếp kinh doanh phải được đào tạo, huấn luyện và có chứng chỉ đào tạo, huấn luyện nghiệp vụ về phòng cháy, chữa cháy và bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật hiện hành.

1. Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật, trong Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh xăng dầu.

2. Có cửa hàng bán lẻ xăng dầu thuộc sở hữu doanh nghiệp hoặc sở hữu và đồng sở hữu được cấp Giấy chứng nhận cửa hàng đủ điều kiện bán lẻ xăng dầu theo quy định tại Điều 25 Nghị định này.

3. Cán bộ quản lý, nhân viên trực tiếp kinh doanh phải được đào tạo, huấn luyện và có chứng chỉ đào tạo, huấn luyện nghiệp vụ về phòng cháy, chữa cháy và bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật hiện hành.

1. Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật, trong Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh xăng dầu.

2. Có cửa hàng bán lẻ xăng dầu thuộc sở hữu doanh nghiệp hoặc sở hữu và đồng sở hữu được cấp Giấy chứng nhận cửa hàng đủ điều kiện bán lẻ xăng dầu theo quy định tại Điều 25 Nghị định này.

3. Cán bộ quản lý, nhân viên trực tiếp kinh doanh phải được đào tạo, huấn luyện và có chứng chỉ đào tạo, huấn luyện nghiệp vụ về phòng cháy, chữa cháy và bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật hiện hành.

1. Địa điểm phải phù hợp với quy hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

2. Thuộc sở hữu, đồng sở hữu của thương nhân là đại lý hoặc tổng đại lý hoặc thương nhân nhận quyền bán lẻ xăng dầu hoặc thương nhân phân phối xăng dầu hoặc thương nhân kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu xăng dầu hoặc thương nhân sản xuất xăng dầu có hệ thống phân phối theo quy định tại Nghị định này (thương nhân đề nghị cấp phải đứng tên tại Giấy chứng nhận cửa hàng đủ điều kiện bán lẻ xăng dầu).

3. Được thiết kế, xây dựng và có trang thiết bị theo đúng các quy định hiện hành về quy chuẩn, tiêu chuẩn cửa hàng bán lẻ xăng dầu, an toàn phòng cháy, chữa cháy, bảo vệ môi trường của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.

4. Cán bộ quản lý, nhân viên trực tiếp kinh doanh phải được đào tạo, huấn luyện và có chứng chỉ đào tạo, huấn luyện nghiệp vụ về phòng cháy, chữa cháy và bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật hiện hành.

Điều 27. Điều kiện kinh doanh dịch vụ cho thuê cảng, kho tiếp nhận xăng dầu

1. Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật, trong Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh xăng dầu.

2. Có cầu cảng chuyên dụng nằm trong hệ thống cảng biển, cảng thủy nội địa, có kho chứa thuộc sở hữu doanh nghiệp hoặc đồng sở hữu, được xây dựng theo các tiêu chuẩn quy định.

3. Cán bộ quản lý, nhân viên trực tiếp kinh doanh phải được đào tạo, huấn luyện và có chứng chỉ đào tạo, huấn luyện nghiệp vụ về phòng cháy, chữa cháy và bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật hiện hành.

Điều 28. Điều kiện kinh doanh dịch vụ vận tải xăng dầu

1. Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật, trong Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh xăng dầu.

2. Có phương tiện vận tải xăng dầu chuyên dụng thuộc sở hữu doanh nghiệp hoặc đồng sở hữu; bảo đảm các yêu cầu và quy định về vận chuyển xăng dầu, được cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, cho phép lưu hành theo quy định của pháp luật.

3. Cán bộ quản lý, nhân viên trực tiếp sử dụng phương tiện vận tải phải được đào tạo, huấn luyện và có chứng chỉ đào tạo, huấn luyện nghiệp vụ về phòng cháy, chữa cháy và bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật hiện hành.

Đề Xuất Cách Tính Giá Xăng Dầu Mới, 1 Tháng Điều Chỉnh 3 Lần

Dự thảo Nghị định 83 sửa đổi về kinh doanh xăng dầu mới nhất đề xuất thời gian điều hành giá xăng dầu vào các ngày mùng 1, ngày 11 và ngày 21 hàng tháng.

Rút ngắn khoảng cách thời gian điều hành

Tại dự thảo Nghị định 83 sửa đổi về kinh doanh xăng dầu mới nhất đang được Bộ Công Thương trình Chính phủ, cơ quan soạn thảo đã đưa ra 2 phương án thời gian điều hành giá xăng dầu.

Đề xuất cách tính mới với giá xăng dầu, thời gian điều chỉnh 3 lần/tháng

Phương án 1: Dự thảo đề xuất thời gian điều hành giá xăng dầu vào ngày mùng 1, ngày 11 và ngày 21 hàng tháng.

Đối với các kỳ điều hành trùng vào ngày nghỉ, ngày nghỉ lễ theo quy định của nhà nước, thời gian điều hành được lùi sang ngày làm việc tiếp theo sau kỳ nghỉ.

Đối với kỳ điều hành trùng vào dịp Tết nguyên đán, thời gian điều hành được lùi sang kỳ điều hành tiếp sau (khoảng cách 2 kỳ tính giá).

Trường hợp giá cơ sở các mặt hàng xăng dầu tăng cao bất thường so với giá cơ sở kỳ liền kề trước đó, ảnh hưởng lớn đến kinh tế, xã hội, Bộ Công Thương có trách nhiệm báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét quyết định thời gian điều hành giá cụ thể cho kỳ điều hành đó.

Phương án 2: Thời gian giữa hai lần điều chỉnh giá xăng dầu liên tiếp là 15 ngày như hiện tại.

Dự thảo cũng nêu rõ các trường hợp các yếu tố cấu thành biến động làm cho giá cơ sở tăng cần báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

Đề xuất thay cách tính giá cơ sở với xăng dầu

Cũng theo dự thảo này, công thức tính giá cơ sở xăng dầu có sự thay đổi. Theo đó, giá cơ sở xăng dầu gồm cả giá nhập khẩu và sản xuất trong nước.Cụ thể, công thức tính giá cơ sở theo đề xuất sẽ bao gồm: Giá xăng dầu từ nguồn nhập khẩu X tỷ trọng (%) sản lượng xăng dầu từ nguồn nhập khẩu cộng + Giá xăng dầu từ nguồn sản xuất trong nước nhân với X tỷ trọng (%) sản lượng xăng dầu từ nguồn trong nước.

Giá xăng dầu từ nguồn nhập khẩu bao gồm các yếu tố và được xác định bằng giá xăng dầu thế giới + chi phí đưa xăng dầu từ nước ngoài về cảng Việt Nam + Chi phí kinh doanh định mức + Mức trích lập Quỹ Bình ổn giá xăng dầu + Lợi nhuận định mức + Các khoản chi phí về thuế, phí và các khoản trích nộp khác theo quy định của pháp luật hiện hành.Với giá xăng dầu từ nguồn sản xuất trong nước, dự thảo đưa ra 2 phương án.

Phương án 1: Giá xăng dầu từ nguồn sản xuất trong nước bao gồm các yếu tố và được xác định bằng giá xăng dầu thế giới cộng + hoặc trừ – Premium (nếu có) + Chi phí đưa xăng dầu từ các nhà máy lọc dầu trong nước về đến cảng (nếu có) + Chi phí kinh doanh định mức + Mức trích lập Quỹ bình ổn giá xăng dầu + Lợi nhuận định mức + Các khoản chi phí về thuế, phí và các khoản trích nộp khác theo quy định của pháp luật hiện hành.

Trong đó, Premium để tính giá xăng dầu từ nguồn sản xuất trong nước (nếu có) là yếu tố điều chỉnh giá trong hợp đồng mua bán xăng dầu giữa thương nhân đầu mối và thương nhân sản xuất xăng dầu; được xác định theo phương pháp bình quân gia quyền theo sản lượng.

Premium đưa vào tính giá xăng từ nguồn trong nước tối đa không cao hơn giá thế giới bình quân trong công thức tính giá xăng từ nguồn trong nước nhân với (x) thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt thấp nhất đối với mặt hàng xăng theo cam kết quốc tế (trường hợp thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi thấp nhất đối với xăng lớn hơn 0%).

Phương án 2: Giá xăng dầu từ nguồn sản xuất trong nước bao gồm các yếu tố và được xác định bằng giá bán xăng dầu bình quân của các nhà máy lọc dầu trong nước, doanh nghiệp được giao quyền bao tiêu toàn bộ sản phẩm xăng dầu của nhà máy bán cho thương nhân, đầu mối kinh doanh xăng dầu, chi phí định mức tối đa đưa xăng dầu từ các nhà máy lọc dầu trong nước về đến cảng Việt Nam (nếu có), chi phí kinh doanh định mức tối đa, mức trích lập Quỹ bình ổn giá xăng dầu, lợi nhuận định mức, các khoản chi phí về thuế, phí và các khoản trích nộp khác theo quy định của pháp luật hiện hành.

Theo Dân trí https://dantri.com.vn/kinh-doanh/de-xuat-cach-tinh-gia-xang-dau-moi-1-thang-dieu-chinh-3-lan-20200922090830547.htm#dt_source=Cate_KinhDoanh&dt_campaign=Cover&dt_medium=1

Ban Hành Nghị Định Về Kinh Doanh Xăng Dầu

Chính phủ vừa ban hành Nghị định về kinh doanh xăng dầu, trong đó quy định về giá bán xăng dầu.

Cụ thể, giá bán xăng dầu được thực hiện theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước.

Thương nhân đầu mối được quyết định giá bán buôn. Thương nhân đầu mối và thương nhân phân phối xăng dầu được điều chỉnh giá bán lẻ xăng dầu theo nguyên tắc, trình tự quy định. Thương nhân đầu mối có trách nhiệm tham gia bình ổn giá theo quy định của pháp luật hiện hành và được nhà nước bù đắp lại những chi phí hợp lý khi tham gia bình ổn giá.

Thời gian giữa hai lần điều chỉnh giá xăng dầu liên tiếp tối thiểu là 15 ngày đối với trường hợp tăng giá, tối đa là 15 ngày đối với trường hợp giảm giá.

Không hạn chế mức giảm, số lần giảm giá

Nghị định nêu rõ, khi các yếu tố cấu thành biến động làm cho giá cơ sở giảm so với giá cơ sở liền kề trước đó, trong thời hạn tối đa 15 ngày, thương nhân đầu mối phải giảm giá bán lẻ tối thiểu tương ứng giá cơ sở tại thời điểm thương nhân điều chỉnh giá; đồng thời gửi văn bản kê khai giá, quyết định điều chỉnh giá đến cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền (liên Bộ Công Thương – Tài chính) và chịu trách nhiệm trước pháp luật về mức giá được điều chỉnh; không hạn chế mức giảm, khoảng thời gian giữa 2 lần giảm và số lần giảm giá.

Điều chỉnh tăng giá bán lẻ xăng dầu

Nghị định cũng quy định về điều chỉnh tăng giá bán lẻ xăng dầu. Cụ thể, trường hợp các yếu tố cấu thành biến động làm cho giá cơ sở tăng trong phạm vi 3% so với giá cơ sở liền kề trước đó, thương nhân đầu mối được tăng giá bán lẻ tương ứng giá cơ sở tại thời điểm thương nhân điều chỉnh giá; đồng thời gửi văn bản kê khai giá, quyết định điều chỉnh giá đến cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền (liên Bộ Công Thương – Tài chính) và chịu trách nhiệm trước pháp luật về mức giá được điều chỉnh.

Trường hợp các yếu tố cấu thành làm cho giá cơ sở tăng vượt 3% đến 7% so với giá cơ sở liền kề trước đó, thương nhân đầu mối gửi văn bản kê khai giá, dự kiến mức điều chỉnh giá tới cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền (liên Bộ Công Thương – Tài chính).

Trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ khi nhận được văn bản kê khai giá, dự kiến mức điều chỉnh giá của thương nhân đầu mối, cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền có văn bản trả lời thương nhân đầu mối về việc điều chỉnh mức giá, sử dụng Quỹ bình ổn giá (nếu có).

Quá thời hạn 3 ngày làm việc, nếu cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền không có văn bản trả lời, thương nhân đầu mối được quyền điều chỉnh giá bán lẻ tối đa tương ứng với mức giá cơ sở tại thời điểm điều chỉnh nhưng không được vượt quá 7% so với giá cơ sở liền kề trước đó.

Trường hợp các yếu tố cầu thành biến động làm cho giá cơ sở tăng trên 7% so với giá cơ sở liền kề trước đó hoặc việc tăng giá ảnh hưởng đến phát triển kinh tế – xã hội và đời sống nhân dân, liên Bộ Công Thương – Tài chính báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, cho ý kiến về biện pháp điều hành cụ thể.

Công khai giá xăng dầu

Nghị định nêu rõ, Bộ Công Thương có trách nhiệm công bố trên trang thông tin điện tử của mình về: Giá thế giới, giá cơ sở, giá bán lẻ xăng dầu hiện hành; thời điểm sử dụng, số trích lập, số sử dụng và số dư Quỹ bình ổn giá xăng dầu hàng quý, các biện pháp điều hành khác.

Bộ Tài chính có trách nhiệm giám sát việc điều hành giá xăng dầu; giám sát việc trích lập, mức sử dụng Quỹ bình ổn giá của thương nhân đầu mối.

Thương nhân đầu mối có trách nhiệm công bố trên trang thông tin điện tử của thương nhân hoặc trên phương tiện thông tin đại chúng về giá bán lẻ hiện hành; số trích lập, số sử dụng và số dư Quỹ bình ổn giá xăng dầu hàng tháng và trước mỗi lần điều chỉnh giá bán xăng dầu trong nước; điều chỉnh mức trích, mức sử dụng Quỹ bình ổn giá; công bố báo cáo tài chính trong năm tài chính khi đã được kiểm toán.