Làm Văn Hay: Tóm Tắt Văn Bản Trong Lòng Mẹ

Cảm Nhận Về Đoạn Trích Trong Lòng Mẹ

Nêu Suy Nghĩ Về Tình Mẫu Tử Trong Đoạn Trích Trong Lòng Mẹ Của Nguyên Hồng, Ngữ Văn 8

Cảm Nhận Đoạn Trích Trong Lòng Mẹ

Bài Văn Nêu Suy Nghĩ Về Tình Mẫu Tử Trong Đoạn Trích Trong Lòng Mẹ Của

Đề: Cảm Nhận Của Em Về Số Phận Của Người Nông Dân Qua Các Văn Bản ‘trong Lòng Mẹ’, ‘tức Nước Vỡ Bờ’, ‘lão Hạc’

Các bài tóm tắt văn bản Trong lòng mẹ

Bản tóm tắt văn bản “Trong lòng mẹ” 1:

Tác phẩm “Trong lòng mẹ” của tác giả Nguyên Hồng kể về chú bé Hồng. Bé Hồng là một đứa trẻ bất hạnh, là đứa con của một cuộc hôn nhân không hạnh phúc. Bé Hồng trưởng thành trong một ngồi nhà đầy lạnh lẽo và không có tình người.

Sau khi cha qua đời, mẹ bé Hồng đã bỏ nhà ra đi. Bé Hồng ở lại, sống trong sự hắt hủi, ghẻ lạnh của người thân xung quanh. Đặc biệt, cô bé Hồng là người luôn đối xử tàn nhẫn và dối trá với bé. Cô luôn tiêm nhiễm vào đầu đứa trẻ những điều sai trái về mẹ bé Hồng. Nhưng, với Hồng, bé vẫn luôn yêu thương và nhớ mong mẹ. Cuối cùng, khi mẹ bé Hồng quay lại, Hồng đã được mẹ yêu thương, căm sóc và vỗ về trong lòng mình.

Bản tóm tắt văn bản “Trong lòng mẹ” 2:

“Trong lòng mẹ” của Nguyên Hồng đã kể về cuộc đời của bé Hồng. Từ nhỏ, Hồng phải sống xa cha mẹ và chịu sự ruồng bỏ của họ hàng. Sau khi cha qua đời, mẹ Hồng đã bỏ quê mà đi mong kiếm cái ăn. Từ đó, Hồng luôn phải sống trong sự lạnh lẽo, cay nghiệt của gia đình họ hàng. Đặc biệt, người cô bé Hồng là người phụ nữ cay nghiệt, độc ác và luôn nói xấu về mẹ bé Hồng. Có một lần, cô bé Hồng gọi bé lại hỏi có muốn vào Thanh Hóa thăm mẹ không, bé Hồng đã muốn trả lời là có. Nhưng vì người cô này vốn rất xảo quyệt nên bé đành im lặng. Bé hiểu rõ, người cô này chỉ muốn bé căm hận và ghét mẹ mình.

Nhưng, dù người cô nói xấu thế nào, bé Hồng vẫn luôn yêu thương mẹ của mình. Bé Hồng thầm căm ghét những hủ tục khiến mẹ bé phải khổ. Đến ngày giỗ cha bé Hồng, mẹ bé trở về. Mẹ con gặp nhau, bé Hồng nằm trọn trong vòng tay mẹ, và không thèm để ý đến những lời nói trước kia của bà cô.

Bản tóm tắt văn bản “Trong lòng mẹ” 3:

Sau khi cha mất, mẹ bé Hồng bỏ nhà ra đi. Sống xa cha mẹ từ nhỏ, bé Hồng đã phải chịu mọi sử ghẻ lạnh, cay nghiệt từ họ hàng. Đặc biệt, bé có một người cô rất tàn nhẫn và luôn muốn tiêm nhiễm những điều xấu về mẹ cho bé. Một lần, ả ta gọi bé đến và hỏi có muốn vào Thanh Hóa thăm mẹ và “em bé” không. Tiếp theo, ả ta lại khiến bé đau lòng khi nói một cách cay nghiệt về cuộc sống khó khăn của mẹ bé. Ả ta bằng mọi cách muốn tiêm vào đầu bé Hồng những ý nghĩ sai trái về mẹ.

Tuy nhiên, Hồng vẫn một lòng yêu thương mẹ. Đồng thời, bé Hồng rất căm hận những hủ tục thời xưa đã khiến mẹ bé phải chịu nhiều đau khổ. Đến ngày giỗ thầy, mẹ bé Hồng trở về. Tan trường, bé về, thấy bóng dáng một người phụ nữ ngồi trên xe kéo rất giống mẹ, liền đuổi theo và gọi. Bé chạy theo kịp và phát hiện ra đúng là mẹ. Hồng liền ôm chầm lấy mẹ. Mọi sự nhớ nhung và niềm yêu thương của mẹ đã khiến Hồng òa khóc. Trong vòng tay ấm áp của mẹ. Hồng đã quên hết mọi việc trước kia, cả những lời nói cay độc của bà cô.

Bản tóm tắt văn bản “Trong lòng mẹ” 4:

Tác phẩm “Trong lòng mẹ” của nhà văn Nguyên Hồng kể về chú bé Hồng bất hạnh. Cha mất sớm vì nghiện ngập, rượu chè, mẹ bỏ nhà đi tha hương cầu thưc. Hồng từ nhỏ đã phải sống trong sự cay nghiệt, ghẻ lạnh của họ hàng, đặc biệt là cô bé Hồng. Người cô độc ác luôn buồn những lời cay độc, tàn nhẫn với bé. Ả ta tìm đủ mọi cách để nói xấu mẹ bé Hồng, và muốn bé Hồng trở nên căm ghét mẹ của mình. Một lần, ả ta đã cố gắng làm đau bé bằng cách hỏi bé có muốn vào Thanh Hóa thăm mẹ và “em bé” không. Sau đó, ả lại tiếp tục đả kích bé bằng cách kể về cuộc sống túng quẫn, nghèo khổ của mẹ bé.

Tuy nhiên, với tấm lòng yêu thương mẹ mình, bé Hồng vẫn luôn tin tưởng và mong đợi mẹ. Một lần, tan trường, Hồng bỗng thấy có một dáng phụ nữ ngồi xe kéo giống mẹ. Bé Hồng đã chạy theo xe và gọi theo. Đuổi kịp và nhận ra đó là mẹ, Hồng òa khóc. Nằm trong vòng tay ấm áp và tràn đầy yêu thương của mẹ, bé Hồng hạnh phúc và quên hết thảy những lời nói độc ác của bà cô.

Bản tóm tắt văn bản “Trong lòng mẹ” 5:

Hồng là một chú bé mồ côi cha, mẹ vì nghèo đói và tìm hạnh phúc mới nên phải rời quê tha hương cầu thực. Hồng sống cùng với bà cô độc ác chuyên soi mói và nói xấu mẹ của Hồng.

Bà cô mở lời kêu chú vào Thanh Hoá chơi với mẹ, nói mẹ mình đang có em bé, rách rưới nghèo đói, Hồng nghe thấy nhưng không đáp lại. Cậuthương mẹ, căm ghét hủ tục lạc hậu đẩy mẹ phải rời xa cậu và khiến mẹ phải tha phương cầu thực nơi xứ người.

Một hôm, trên đường đi học về, Hồng từ xa nhìn thấy một người phụ nữ đang ngồi trên xe kéo giống mẹ. Hồng vội chạy theo ngay và gọi to. Hồng đuổi kịp xe kéo và cậu nhận ra người mẹ mình. Hồng nhớ thương mẹ và òa khóc, cậu sà vào lòng mẹ. Cậu cảm nhận ra được vẻ đẹp, yêu thương và tấm lòng của người mẹ. Cậu như quên đi mọi lời cay nghiệt của bà cô.

Em Hãy Tóm Tắt Văn Bản Trong Lòng Mẹ

Dàn Ý Phân Tích Đoạn Trích

Giới Thiệu Về Nhà Văn Nguyên Hồng Và Văn Bản Trong Lòng Mẹ

Thuyết Minh Về Văn Bản Trong Lòng Mẹ

Dàn Ý Thuyết Minh Về Văn Bản Trong Lòng Mẹ

Nghị Quyết Của Quốc Hội Là Văn Bản Luật Hay Văn Bản Dưới Luật?

“văn Bản Dưới Luật” Là Gì? Nghĩa Của Từ Văn Bản Dưới Luật Trong Tiếng Việt. Từ Điển Việt

Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Dưới Luật: Những Khiếm Khuyết Thường Gặp :: Đoàn Luật Sư Tp. Hồ Chí Minh

Luật Trẻ Em 2022, Luật Số 102/2016/qh13 2022

Quyền Trẻ Em Là Gì? Quyền Trẻ Em Theo Pháp Luật Việt Nam

Luật Trẻ Em: 9 Điểm Đáng Chú Ý Nhất

Theo quy định của pháp luật, Quốc hội có thẩm quyền ban hành các loại văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) là Hiến pháp, luật và nghị quyết. Nếu Hiến pháp là văn bản thể hiện quyền lập hiến, luật là văn bản thể hiện quyền lập pháp của Quốc hội, thì nghị quyết không được xác định rõ là văn bản luật hay văn bản dưới luật. Hơn nữa, có những nghị quyết của Quốc hội dùng để quy định chế độ làm việc của Quốc hội hoặc dùng để phê chuẩn điều ước quốc tế 1, song cũng có nghị quyết dùng để bổ sung, sửa đổi Hiến pháp 2. Thực tế này, cùng với những quy định thiếu chi tiết của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 (Luật BHVBQPPL) có thể dẫn đến những cách hiểu khác nhau trong giới nghiên cứu pháp luật và cả trong thực tiễn áp dụng pháp luật.

1. Quan niệm về lập hiến, lập pháp và lập quy

Theo nghĩa đơn giản nhất, lập hiến là “làm Hiến pháp”, lập pháp là “làm luật”, còn lập quy là ban hành văn bản dưới luật, nhằm thi hành Hiến pháp và luật. Ở nước ta, quyền lập quy được xác định theo hướng loại trừ 3 vì ngoài những vấn đề cơ bản thuộc quyền lập pháp, việc cụ thể hóa những nội dung từ quyền lập pháp hoặc những nội dung còn lại đều thuộc quyền lập quy. Vì vậy, quyền lập quy phải tuân thủ quyền lập pháp và các nội dung lập quy không được trái, không được tự ý thu hẹp hay mở rộng quyền lập pháp. Tuy nhiên, quyền lập quy có thể được giao về cho UBND cấp tỉnh trong những trường hợp thuộc quyền tự chủ của địa phương 4. Vì lẽ đó, các nhà nghiên cứu thường ít khi dùng khái niệm “quyền lập quy” để chỉ hoạt động ban hành văn bản dưới luật của cơ quan nhà nước khác ở trung ương, ngoại trừ việc dùng cho cơ quan hành chính nhà nước là Chính phủ. Thay vào đó, ta có thể dùng khái niệm “thẩm quyền ban hành văn bản dưới luật”. Theo quy định của pháp luật, Quốc hội Việt Nam là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp 5. Đây là thẩm quyền đặc thù của Quốc hội mà các cơ quan khác như Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao… không có. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là Quốc hội bị giới hạn ở quyền ban hành văn bản dưới luật bởi ngoài thẩm quyền lập hiến và lập pháp, Quốc hội còn rất nhiều nhiệm vụ, quyền hạn khác được quy định từ Khoản 2 đến Khoản 14 Điều 84 Hiến pháp năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2001. Vì vậy, có thể nói, trong hoạt động ban hành VBQPPL, Quốc hội Việt Nam có ba tư cách: Quốc hội lập hiến, Quốc hội lập pháp và Quốc hội ban hành văn bản dưới luật.

Về nội dung, Hiến pháp, luật và nghị quyết sử dụng để điều chỉnh các mối quan hệ có tính chất, phạm vi khác nhau, cụ thể:

Bộ luật, luật của Quốc hội quy định các vấn đề cơ bản thuộc lĩnh vực kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, tài chính, tiền tệ, ngân sách, thuế, dân tộc, tôn giáo, văn hoá, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ, môi trường, đối ngoại, tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, chế độ công vụ, cán bộ, công chức, quyền và nghĩa vụ của công dân. Nói cách khác, bộ luật, luật dùng để điều chỉnh các quan hệ xã hội cơ bản thuộc các lĩnh vực về đối nội và đối ngoại của quốc gia. Bộ luật, luật có tính chất cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp theo những ngành luật hoặc các lĩnh vực pháp luật chuyên biệt, ví dụ: Bộ luật Hình sự, Bộ luật Dân sự, Luật Hôn nhân và gia đình… Trong khoa học pháp lý, bộ luật và luật đều được gọi là đạo luật; sự khác nhau giữa bộ luật và luật thường không nhiều. Tuy nhiên, bộ luật thường điều chỉnh các nhóm quan hệ xã hội rộng lớn và có tính bao quát; bộ luật là “xương sống” của một ngành luật. Ngoài ra, các bộ luật lớn còn chứa đựng những nguyên tắc chi phối các ngành luật lân cận. Ví dụ: các quy định của Bộ luật Dân sự có thể được viện dẫn trong khi giải quyết các quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình, quan hệ pháp luật thương mại…

Trong khi đó, văn bản luật có phạm vi điều chỉnh không rộng lắm. Một văn bản luật không nhất thiết tạo ra một ngành luật vì một ngành luật có thể sử dụng nhiều văn bản luật làm cơ sở. Ví dụ: Luật Tố tụng hành chính năm 2010 là nguồn cơ bản của ngành luật tố tụng hành chính; nhưng Luật Luật sư không tạo ra ngành luật riêng.

Nghị quyết của Quốc hội được sử dụng để điều chỉnh các nhóm quan hệ xã hội có tầm quan trọng quốc gia và trong nhiều trường hợp mang tính nhất thời, cụ thể. Có thể tạm chia nghị quyết theo các nhóm sau: thứ nhất , nghị quyết được ban hành để quyết định nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội; dự toán ngân sách nhà nước và phân bổ ngân sách trung ương; điều chỉnh ngân sách nhà nước; phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước; thứ hai , nghị quyết dùng để ổn định chế độ công tác của Quốc hội và các cơ quan trực thuộc Quốc hội, ví dụ: quy định chế độ làm việc của Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội; thứ ba , nghị quyết dùng để phê chuẩn các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia; thứ tư , nghị quyết còn dùng để quyết định các vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Quốc hội.

Như vậy, nghị quyết của Quốc hội được sử dụng để giải quyết những vấn đề xác định cụ thể trong Luật BHVBQPPL và những vấn đề khác mà Quốc hội xét thấy cần thiết.

3. Những quan điểm khác nhau trong khoa học luật về nghị quyết

Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về giá trị, thứ bậc pháp lý đối với văn bản nghị quyết của Quốc hội, như:

3.1. Nghị quyết là văn bản có giá trị pháp lý tương tự như luật

Quan điểm thứ nhất cho rằng, nghị quyết của Quốc hội là văn bản “có giá trị tương đương với luật” 6. Quan điểm này lý giải được hai trường hợp ban hành nghị quyết:

Nghị quyết còn dùng để quyết định các vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Quốc hội. Trên thực tế, Quốc hội đã dùng Nghị quyết số 51/2001/QH10 để sửa đổi, bổ sungmột số điều của Hiến pháp năm 1992. Điều này dựa trên cơ sở pháp lý rằng, VBQPPL chỉ được sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ bằng VBQPPL của chính cơ quan nhà nước đã ban hành văn bản đó (Điều 9 Luật BHVBQPPL năm 1996; Khoản 1 Điều 9 Luật BHVBQPPL).

Tuy nhiên, nếu cho rằng nghị quyết là văn bản có giá trị pháp lý tương tự như luật, thì vẫn còn có những điều chưa thỏa đáng, bởi lẽ:

Thứ nhất , một cách gián tiếp, cách hiểu trên đã đồng nhất giá trị văn bản và cơ quan ban hành. Nếu Hiến pháp là một đạo luật và nghị quyết là một văn bản “có giá trị tương đương như luật” thì chứng tỏ thẩm quyền ban hành ba loại văn bản của Quốc hội cơ bản giống nhau. Điều này, thật ra không hợp lý vì Quốc hội có nhiều tư cách: Quốc hội lập hiến, Quốc hội lập pháp và Quốc hội ban hành văn bản dưới luật. Khi ban hành một đạo luật, Quốc hội lập pháp nhất thiết phải tuân thủ Hiến pháp của Quốc hội lập hiến đã được thông qua trước đó.

Thứ hai , việc xem nghị quyết là văn bản tương đương như luật có thể gây ra một số khó khăn trong quá trình áp dụng pháp luật vì không xác định được thứ bậc pháp lý giữa luật và nghị quyết. Theo định hướng xây dựng cơ chế bảo hiến, nếu có trường hợp nghị quyết trái với một đạo luật thì sẽ giải quyết như thế nào?

Thứ ba , nhìn chung, phạm vi điều chỉnh của nghị quyết của Quốc hội trong đa số các trường hợp là các nhóm quan hệ xã hội tuy quan trọng nhưng không thực sự cơ bản và bao trùm như luật. Hơn nữa, trong quá trình nghiên cứu các văn bản hiện hành, chúng tôi chưa tìm thấy văn bản nào khẳng định giá trị pháp lý của nghị quyết của Quốc hội tương đương với luật, mặc dù có một số quan hệ điều chỉnh “mang tính luật” 8.

3.2. Nghị quyết là văn bản dưới luật

Quan điểm thứ hai cho rằng nghị quyết là văn bản dưới luật 9. Điều này được thể hiện rõ qua các trường hợp ban hành nghị quyết trên thực tế.

Tính dưới luật của nghị quyết thể hiện trong các nội dung mà nó điều chỉnh. Trong khi đó, văn bản luật là văn bản mang tính chủ đạo nhằm điều chỉnh các nhóm quan hệ xã hội có tính chất cơ bản và nền tảng để tổ chức nên bộ máy nhà nước và tất cả các lĩnh vực hoạt động của Nhà nước. Về nội dung, luật chứa đựng các quy phạm “gốc”, tức là những quan hệ cơ bản như chế độ chính trị, chế độ kinh tế, quan hệ giữa nhà nước với công dân… Vì vậy, tất cả các văn bản dưới luật đòi hỏi phải phù hợp với văn bản luật.

Thứ ba , về hình thức, trình tự, thủ tục thông qua, nghị quyết thể hiện tính dưới luật. Văn bản luật có trình tự ban hành hết sức chặt chẽ, như phải lập chương trình xây dựng luật (Điều 22- Điều 29 Luật BHVBQPPL); trong khi đó, nghị quyết không đòi hỏi phải có giai đoạn này.

Trong khoa học pháp lý, chỉ có VBQPPL có giá trị pháp lý bằng hoặc cao hơn VBQPPL trước mới có thể sửa đổi, bổ sung văn bản trước đó. Theo cách suy luận như vậy, nghị quyết có giá trị pháp lý “bằng hoặc cao hơn Hiến pháp”. Điều này rõ ràng là trái với tất cả các cơ sở hiến định và pháp định hiện hành. Rõ ràng, không thể xem nghị quyết là hình thức văn bản có giá trị “cao hơn Hiến pháp” vì nó vi phạm tính tối cao của Hiến pháp; cũng không thể xem nghị quyết có giá trị “bằng Hiến pháp” vì như vậy là đồng nghĩa với việc xem nghị quyết có giá trị “cao hơn luật”.

Ở Việt Nam, khi nói đến văn bản pháp luật, ta thường liên tưởng đến VBQPPL. Song, văn bản pháp luật ở nước ta có ba dạng là VBQPPL, văn bản chủ đạo và văn bản cá biệt 10 và nghị quyết của Quốc hội có thể được thể hiện ở một trong ba hình thức này.

Nghị quyết là văn bản chủ đạo

Nghị quyết là văn bản cá biệt

Trong một số trường hợp khác, nhằm thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn được giao, Quốc hội cũng ban hành nghị quyết để giải quyết các vụ việc cụ thể, được áp dụng một lần, như: nghị quyết về việc điều chỉnh địa giới thành phố Hà Nội; nghị quyết về việc bãi nhiệm các chức danh trong các cơ quan của Quốc hội, tư cách đại biểu Quốc hội…

Do chưa thừa nhận tiền lệ pháp, văn bản cá biệt ở nước ta không thể là nguồn của luật. Riêng VBQPPL là nguồn cơ bản, trực tiếp, còn văn bản chủ đạo mang tính chất định hướng có thể xem là nguồn gián tiếp của luật. Mặt khác, nếu tên gọi, trình tự, hình thức ban hành VBQPPL được Luật BHVBQPPL quy định, có ghi nhận giá trị pháp lý từ cao đến thấp, thì văn bản chủ đạo là sản phẩm của khoa học pháp lý. Ở nước ta chưa có Luật Ban hành văn bản chủ đạo nên việc xác định chính xác các vấn đề có tính nguyên tắc như tên gọi, trình tự, thủ tục và hình thức ban hành là một việc làm không thể. Mặt khác, việc ban hành văn bản cá biệt tản mát trong các văn bản của từng chuyên ngành (xử phạt vi phạm hành chính, bản án…) mà chưa được pháp điển hóa về tên gọi, hình thức và trình tự, thủ tục.

Điều này, một lần nữa cho thấy sự khác nhau cơ bản giữa các đạo luật (bao gồm luật, Hiến pháp) và nghị quyết. Hiến pháp và luật luôn thể hiện dưới hình thức VBQPPL, còn nghị quyết có thể được thể hiện dưới cả hình thức VBQPPL, văn bản chủ đạo và đôi khi là văn bản cá biệt.

4. Giải pháp đề xuất

Trên cơ sở những phân tích nêu trên, chúng tôi đề xuất:

Thứ hai , xem xét lại Khoản 1 Điều 9 Luật BHVBQPPL. Theo đó, quy định rõ trong trường hợp chủ thể ban hành VBQPPL cần bổ sung, thay thế, hủy bỏ hoặc bãi bỏ VBQPPL thì phải thỏa mãn điều kiện: văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế,… phải là văn bản cùng hình thức hoặc văn bản sau phải có giá trị pháp lý cao hơn văn bản trước. Khi đó, Quốc hội có thể dùng Hiến pháp để phủ quyết một đạo luật, dùng luật để phủ quyết một nghị quyết mà không làm ngược lại. Sở dĩ như vậy, vì Quốc hội lập pháp phải tuân thủ Quốc hội lập hiến và Quốc hội ban hành văn bản dưới luật phải tuân thủ Quốc hội lập pháp.

Ngoài ra, cũng nên xem xét lại tính thống nhất giữa Điều 1 và Điều 2 Luật BHVBQPPL bởi trong định nghĩa ở Điều 1 không có “cá nhân” mà chỉ có “tập thể”: “VBQPPL là văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành”; tuy nhiên, Điều 2 lại quy định thẩm quyền ban hành VBQPPL của các “cá nhân có thẩm quyền” như: Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng…

Thứ tư, nếu xem nghị quyết là văn bản luật thì nên quy định rõ tính pháp lý này và tiên liệu cách thức giải quyết nếu có trường hợp mâu thuẫn với các đạo luật khác; song, nếu cho rằng tùy trường hợp mà nghị quyết có thể là văn bản luật hay dưới luật thì cũng nên quy định cụ thể về nội dung, hình thức cho phù hợp. Còn nếu xem nghị quyết là văn bản dưới luật, có thể dùng để thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội mà không cần dùng đến luật, thì cũng cần xác định trường hợp nào nghị quyết là VBQPPL; phân biệt với trường hợp nghị quyết là văn bản chủ đạo hoặc văn bản cá biệt. Sự khác biệt này phải được thể hiện thông qua hình thức của nghị quyết và cách thức ký công bố, ban hành. Đây cũng là một trong những yêu cầu có tính nguyên tắc khi xây dựng cơ chế bảo hiến ở nước ta trong tương lai, bởi cơ quan bảo hiến sẽ không thể xem xét tính hợp hiến, hợp pháp của một quy phạm pháp luật do Quốc hội ban hành nếu quy phạm pháp luật đó không được xác định thang bậc pháp lý theo từng loại văn bản.

TS. Phan Trung Hiền – Phó trưởng Khoa Luật, Đại học Cần Thơ

Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 203 9/2011 ngày 20/09/2011.

(1) Xem Khoản 3 Điều 11 Luật BHVBQPPL.

(2) Xem Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25-12-2001 của Quốc hội về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992.

(3) GS,TS. Phạm Hồng Thái; PGS,TS. Đinh Văn Mậu: Lý luận nhà nước và pháp luật, chúng tôi thông vận tải, Hà Nội, 2009, tr. 325.

(4) GS,TS. Phạm Hồng Thái; PGS,TS. Đinh Văn Mậu: Lý luận nhà nước và pháp luật, chúng tôi thông vận tải, Hà Nội, 2009, tr. 326.

(5) Điều 83; Khoản 1 Điều 84 Hiến pháp năm 1992.

(6) Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật, Nxb. Tư pháp, H, 2007, tr. 360.

(7) Ví dụ: Khoản 3 Điều 3 Luật Doanh nghiệp năm 2005.

(8) “Mang tính luật”, “có tính luật” là khái niệm dùng để chỉ các văn bản có hình thức ban hành dưới luật, nhưng nội dung lại điều chỉnh quan hệ xã hội mang tính luật. Theo Luật BHVBQPPL, đó chính là văn bản mang tên Pháp lệnh (Khoản 1 Điều 12) và Nghị định (Khoản 4 Điều 14).

(9) PGS,TS. Nguyễn Cửu Việt (chủ biên), Giáo trình lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2004, tr. 305.

(10) Văn bản pháp luật ở nước ta bao gồm ba loại văn bản sau:

– VBQPPL: là văn bản chứa đựng quy tắc xử sự chung do cơ quan nhà nước, cán bộ nhà nước có thẩm quyền ban hành theo trình tự nhất định, dưới hình thức xác định trong luật, được áp dụng nhiều lần và được đảm bảo thực hiện bởi Nhà nước.

– Văn bản chủ đạo: là văn bản pháp luật do cơ quan nhà nước, cán bộ nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm đề ra những chủ trương, phương hướng, nhiệm vụ lớn có tính chiến lược, quyết định những vấn đề của quốc gia hoặc địa phương. Các văn bản này tuy không chứa đựng các quy phạm pháp luật, nhưng nó tạo cơ sở cho các cơ quan nhà nước ban hành các VBQPPL và thường được trình bày dưới dạng chương mục.

– Văn bản cá biệt: đây là loại văn bản nhằm giải quyết các vụ việc cụ thể, được áp dụng một lần căn cứ trên VBQPPL. Đây là các quyết định công bố một văn bản, tặng thưởng các danh hiệu nhà nước, công nhận quốc tịch, quyết định trong ổn định công tác (tuyển dụng, bổ nhiệm, nâng lương…), bản án, quyết định xử phạt vi phạm hành chính…

(11) Theo định hướng của Đảng ta: “Tòa án nhân dân tối cao có nhiệm vụ tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, phát triển án lệ…” (Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trịvề Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2022).

Thông Luật Và Dân Luật Khác Nhau Như Thế Nào?

Dự Luật Tiếng Anh Là Gì

Pháp Luật Và Đặc Thù Của Pháp Luật Pp Bg1 Ppt

Visa Đặc Định Là Gì? 10 Vấn Đề Quan Trọng Phải Biết Về Visa Tokutei Ginou Nhật Bản!

Daca Là Gì? Tại Sao Trump Muốn Hủy Bỏ Daca?

Dịch Thuật Văn Bản Khoa Học Kỹ Thuật Hay

Dịch Thuật Văn Bản Khoa Học Kỹ Thuật Nhanh Nhất

Dịch Thuật Văn Bản Khoa Học Kỹ Thuật Chuyên Ngành

Top 6 Việc Làm Part Time Tiếng Trung Dễ Kiếm Tiền Nhất Hiện Nay

Dịch Thuật Văn Bản Hành Chính Pháp Luật

Dịch Vụ Dịch Thuật Tài Liệu Chuyên Ngành Pháp Luật, Tòa Án

Published on

1. Dịch thuật văn bản khoa học kỹ thuật hay – Dịch tài liệu hoá chất – hóa học tốt giá rẻDịch thuật văn bản khoa học kỹ thuật hay – Dịch tài liệu hoá chất – hóa học tốt giá rẻDịch Vụ Dịch Thuật Tài Liệu Anh-Việt , Việt Anh http://idichthuat.com/Chính xác – Nhanh – Giá rẻ nhấtPhải chăng bạn đang cần?Bạn cần dịch một số tài liệu chuyên ngành, hợp đồng, chứng từ từ tiếng Việt sangtiếng Anh một cách chính xác để gửi cho đối tác nước ngoài?Bạn cần bản dịch của một bài báo, một cuốn sách, một bộ tiêu chuẩn, hay bất kỳtài liệu nào khác để phục vụ cho việc kinh doanh, học tập?Nhóm dịch thuật chuyên nghiệp: http://idichthuat.com/

2. Dịch thuật văn bản khoa học kỹ thuật hay – Dịch tài liệu hoá chất – hóa học tốt giá rẻTuy nhiên bạn lo lắng!Giá dịch vụ dịch thuật hiện tại quá cao!Tôi cần dịch nhanh và chắc chắn thời gian hoàn thành.Tài liệu chuyên ngành mà giao cho người khác dịch liệu có trọn ý?Dịch thuật văn bản khoa học kỹ thuật hay – Dịch tài liệu hoá chất – hóa học tốt giá rẻ http://idichthuat.com/ ra đời để giải quyết các vấnđề trên của bạnDịch vụ dịch thuật các loại tài liệu, văn bản, sáchbáo, tạp chí, đề án, báo cáo, luận văn… từ tiếng Anhsang tiếng Việt (và ngược lại) một cách chuyênnghiệp nhấtChuẩn dịch thuật viên tại idichthuat.com:Nhóm dịch thuật chuyên nghiệp: http://idichthuat.com/

4. Dịch thuật văn bản khoa học kỹ thuật hay – Dịch tài liệu hoá chất – hóa học tốt giá rẻMức giá dịch tài liệu duy nhất và tốt nhấtGiá thị trường: 50.000 VNĐ/trang (300 từ/trang)Giá tại chúng tôi 35.000 VNĐ/trang (400 từ/trang)+ Giá trên chưa bao gồm VAT (10%) nếu quý khách lấy hóa đơn.Quy trình đơn giản, nhanh chóng:Bước 1: Gửi yêu cầu: Khách hàng gửi file cần dịch (qua email) kèm theo yêu cầuvề thời gian hoàn thành.Bước 2: Đặt cọc:+ Đối với các loại tài liệu có độ khó cao và số lượng nhiều, khách hàng cần đặt cọc50% phí dịch vụ, chúng tôi sẽ tiền hành thực hiện và gửi kết quả thành từng phầncho khách hàng qua email. Khách hàng thanh toán phần chi phí còn lại trước khi nhậnphần kết quả cuối cùng.+ Có thể chia nhỏ gói công việc và thanh toán trước theo từng gói, tùy theo thỏathuận.+ Đối với các loại tài liệu ngắn, nhỏ (chi phí dưới 100,000đ), khách hàng cần thanhtoán trước 100% giá trị dịch vụ.Bước 3: Nhận bản dịch: Khách hàng kiểm tra bản dịch đã hoàn chỉnh và trongvòng 30 ngày, chúng tôi sẽ hỗ trợ miễn phí về các yêu cầu chỉnh sửa củabản dịch.Dịch thuật văn bản khoa học kỹ thuật hay – Dịch tài liệu hoá chất – hóa học tốt giá rẻNhóm dịch thuật chuyên nghiệp: http://idichthuat.com/

Dịch Thuật Chuyên Ngành Toán Học

Phần Mềm Dịch Tiếng Anh Chuyên Ngành Kế Toán

Dịch Tiếng Anh Chuyên Ngành Kế Toán

Nghĩa Của Từ Dịch Tài Liệu Kỹ Thuật

Những Phương Pháp Dịch Văn Bản Kỹ Thuật Cơ Bản

Những Bài Văn Mẫu Tóm Tắt Văn Bản Làng Hay Nhất

Hương Làng (Bài Đọc Hiểu Tiếng Việt Lớp 5

Đề Thi Thử Thpt Quốc Gia Môn Ngữ Văn Năm 2022 Trường Thpt Yên Lạc, Vĩnh Phúc (Lần 5)

Đọc Hiểu Văn Bản Cha Tôi

Tổng Hợp Kiến Thức Đọc Hiểu Văn Bản Môn Ngữ Văn Đầy Đủ Nhất

Đọc Hiểu Văn Bản Cha Tôi, Gợi Dẫn 1. Đặng Huy Trứ (1825

Tóm tắt văn bản Làng mẫu số 1

Truyện Làng thể hiện tình yêu quê hương, đất nước, một lòng đi theo cách mạng

Truyện ngắn Làng là một trong những tác phẩm tiêu biểu của nhà văn Kim Lân, nhân vật chính của truyện là ông Hai. Ông Hai là một người con của làng chợ Dầu, cũng như những người nông dân yêu nước khác ông đi theo cách mạng, làng chợ Dầu của ông cũng yêu cách mạng, đấu tranh cho cuộc kháng chiến rất oanh liệt. Ông Hai rất tự hào về cái làng Dần của mình, không kể được tình yêu của ông dành cho ngôi làng nghèo mà đượm tịnh đượm nghĩa như vậy. Do hoàn cảnh bắt buộc phải tàn cư không thể ở lại làng cùng anh em mà chiến đấu, ông Hai buồn lắm. Không còn cách nào khác ông tự tặc lưỡi “thôi thì đi tản cư cũng là kháng chiến”. Sống ở nơi tản cư bó buộc cả về vật chất lẫn tinh thần, ngoài những lúc làm việc cứ ngơi ra là ông Hai nghĩ về Làng, ông nhớ Làng da diết, ông thường sang nhà bác Thứ hàng xóm uống nước rồi thao thao kể lại những chuyện hồi ở làng, chuyện đánh giặc, bắt Tây với vẻ tự hào lắm. Một hôm ông Hai lân la ra phòng thông tin để nghe tin tức, trên đường về ông lão gặp một nhóm tản cư từ dưới lên. Thấy dân tản cư ông lại xấn tới hỏi han chuyện làng quán, bất ngờ ông hay tin làng chợ Dầu của ông theo Tây làm Việt gian. Tin làng chợ Dầu làm Việt gian theo Tây chẳng khác nào như một tin dữ ập đến, “cổ họng ông lão nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân”, “tưởng như không thở được”. Ông cúi gằm mặt xuống đi về, về đến nhà ông lão bằm vật xuống giường như mất hết sức lực, trong đầu ông không thể tưởng tượng được có một ngày làng chợ Dầu làm Việt gian, ông nhẩm đếm lại một lượt những người trong làng, toàn những người yêu nước, họ đã ở lại để chiến đấu không thể theo Tây được, nhưng ai hơi đâu mà bịa chuyện. Bao nhiêu suy nghĩ nhảy múa trong đầu, giằng xe nhau. Từ sau khi nghe tin đó, ông không dám ra khỏi nhà, ông nghe ngóng mọi người bàn tán, ông xấu hổ không dám nhìn ai, ông sợ mọi người biết chuyện làng chợ Dầu của ông theo Tây thì thật không còn đất mà sóng. Khi mụ chủ nhà bóng gió đòi đuổi cả nhà ông đi thì chủ tịch xã đích thân đi cải chính, làng Dầu của ông không theo Tây. Đây là chuyện vui như bắt được vàng, ông lão đi khoe khắp nơi, đến cái nhà của ông bị Tây đốt nhẵn nhụi mà ông cũng xem đó như thể chuyện vui nhất đời.

Tóm tắt văn bản Làng mẫu 2

Ông Hai là một người con của làng Dầu, cũng như bao nhiêu người con khác ông rất yêu quê hương, yêu làng xóm của mình. Kháng chiến chống Pháp theo chủ trương của chính phủ động viên mọi người đi sơ tản, gia đình ông cũng thuộc diện ra đi. Thật tâm trong lòng ông không hề muốn đi một chút nào, ông muốn ở lại cùng những người anh em của mình chiến đấu để giữ làng, giữ nước. Thế nhưng nhìn vợ con cám cảnh ở nơi tản cư không có người nương tựa ông đành dứt áo ra đi, âu “đi tản cử cũng là kháng chiến” nghĩ vậy lòng ông nhẹ nhõm thanh thản đi một chút. Đến nơi tản cư như đi tù, ông luôn khó chịu, bực bội với tất cả mọi thứ: gian nhà nhỏ tối ẩm thấp, tiếng lầm rầm tính tiền của vợ lão, mụ chủ nhà tham ăn chửi tục, nguyên nhân cho tất cả những bực bội đó là bởi vì ông nhớ nhà, nhớ quê hương. Thân thể ông Hai ở nơi đây nhưng tâm trí ông lại ở lại làng Dầu. Niềm vui nho nhỏ mỗi ngày của ông Hai là sang nhà bác Thứ hàng xóm thao thao kể chuyện về làng ông, những trận đánh Tây cùng với mọi người. Mỗi khi kể về những chuyện trước đó ông lại càng nhớ quê nhiều hơn. Một hôm cũng như các hôm khác ông ra phòng thông tin để nghe tin tức, sở dĩ ông phải giả vờ xem ảnh rồi nghe lỏm người ta đọc báo là bởi vì ông Hai đọc không thạo. Nghe đọc tin tức quân ta thắng liên tiếp nhiều trận khiến lòng ông như nhảy múa, ông ghé ngay quán nước nhấp ngụm trà, hút điếu thuốc lào như tự thưởng cho mình. Trong quán nước bỗng ông nghe được tin của mấy người tản cư từ dưới lên đồn nhau làng Dầu của ông theo Tây làm Việt gian, hỡi ôi tin đó như sét đánh, “tưởng như không thể thở được” “cổ họng nghẹn lại”. Ông bước về nhà nằm vật xuống không thể tin vào những gì mình vừa nghe thấy, liền mấy ngày sau đó ông không bước ra khỏi nhà một bước, vừa xấu hổ, vừa tủi nhục, vừa buồn bã. Đã thế bà chủ nhà nghe tin đồn cũng có ý muốn đuổi nhà ông đi, ông Hai não nề, không có nơi nào chứa chấp người của làng Việt gian hết, ông cũng không thể về quê, về quê để càng đau lòng hơn hay sao. Đang lúc rối rắm thì trưởng thôn Dầu cải chính, đó chỉ là tin đồn thất thiệt, ông Hai vui mừng khôn siết, ông nhảy múa đi khoe khắp nơi cái tin được cải chính đó, ông khoe nhà ông bị đốt sạch sẽ rồi, làng ông bị Tây đánh nhưng vẫn kiên cường.

Nhân vật ông Hai có lòng yêu nước rất sâu sắc

Bài tóm tắt văn bản Làng mẫu 3

Kim Lân là một nhà văn tiêu biểu của văn học Việt Nam, truyện ngắn Làng được ngay giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp năm 1948. Chuẩn bị cho cuộc kháng chiển trường kỳ của dân tộc chính phủ kêu gọi người dân hãy di tản từ vùng tam chiến đến chiến khu. Truyện ngắn “Làng” đề cao tinh thần yêu nước, yêu quê hương. Qua nhân vật chính thể hiện một cách chân thực, cảm động về tinh thần kháng chiến của người dân, dù có ở nơi tản cư cũng một lòng hướng về cuộc kháng chiến. Truyện xoay quanh nhân vật ông Hai, gia đình ông Hai nghe theo chính phủ đi di tản, tuy ông và gia đình ở nơi tản cư nhưng ông vẫn không nguôi ngoai được nỗi nhớ quê nhà, hàng ngày ông momg ngóng tin tức về làng chợ Dầu của ông. Dẫu cuộc sống ở nơi tản cư rất khó khăn nhưng cứ nghe tin chiến thắng của dân ta lại khiến ông vui vẻ, bỗng một hôm ông nghe tin đồn làng chợ Dầu của ông theo Tây, tin tức đó với ông như một cú sốc lớn đên “không thể thở nổi”. Từ sau khi nghe tin đồn đó ông Hai không dám bước chân ra khỏi nhà, ông sợ ánh mắt soi mói dòm ngó của hàng xóm xung quanh, rồi đây mấy đứa con của ông sẽ bị mang danh là người của làng Việt gian. Sự thất vọng, sự xấu hổ cũng không sánh bằng nỗi buồn trong ông. Đang lúc bị chủ nhà đuổi đi vì không chứa dân Việt gian thì tin đồn được cải chính, tin này vui đến mức ruột gan ông như nhảy múa, từ bây giờ ông lại có thể ngẩng cao đầu với mọi người, các con của ông lại được làm người rồi.

Bài tóm tắt văn bản Làng mẫu 4

Ông Hai dù ở nơi tản cư vẫn một lòng hướng về quê hương

Truyện ngắn Làng của nhà văn Kim Lân là câu chuyện kể về một lão nông tên là Hai, ông Hai sinh ra và lớn lên ở làng chợ Dầu, ông luôn tự hào về quê hương của mình có những con người kiên trung, dũng cảm, một lòng đi theo cụ Hồ, đi theo cách mạng. Khi phải từ bỏ quê hương cùng gia đình đi tản cư lòng ông đau như cắt. Ở nơi ở mới nhưng một lòng ông vẫn đau đáu nhớ về làng chợ Dầu. Để vơi bớt nỗi nhớ quê hương hàng ngày ông đều đi sang nhà bác hàng xóm rồi thao thao kể chuyện làng ông với niềm tự hào, ông kể làng chợ Dầu ông đường toàn lát đá xanh, khắp đường làng cuối xóm bùn không dính đến gót chân, rồi làng chợ Dầu của ông có phòng thông tin tuyên truyền rộng nhất vùng, cái chòi phát thanh cao bằng ngọn tre. Bao giờ câu chuyện của ông Hai cũng bắt đầu một cách say sưa, hào hứng khi kể về làng và kết thúc bằng giọng chùng xuống, ánh mắt đượm buồn “lần này đi không biết đến bao giờ mới được quay trở lại”. Cuộc sống ở nơi tản cư không có công việc cộng thêm nỗi nhớ quê khiến ông lão lúc nào cũng bực bội, ông càu gắt vợ con, chuyện gì cũng làm cho ông không vừa mắt, từ chuyện gian nhà thấp, tối bộn bề với những dây quần áo ẩm sì, tiếng mụ chủ nhà reo réo chửi những trưa hè, chuyện đàn gà của mụ vặt hết luống rau ông trồng rồi chuyện vợ ông rì rầm tính toán tiền nong. Khi bực bội chỉ có cách đi ra khỏi ngôi nhà đó mới thấy nhẹ nhõm, một hôm ông đến phòng thông tin để nghe lỏm người ta đọc tin tức trên mấy tờ báo, nghe tin thắng trận của quân ta làm ruột gan ông lão vui đến nhảy múa cả lên, ông náo nức bước ra quán nước ngồi gặp một đám người cũng là dân tản cư dưới xuôi lên, ông lân la hỏi chuyện làng Dầu thì hay tin làng chợ Dầu của ông bây giờ đã theo Tây hết. Chuyện làng Dầu theo Tây làm ông lão xấu hổ tới mức ông đứng dậy giả vờ vươn vai, cười nhạt một tiếng, đánh lảng sang chuyện khác rồi đi về. Mấy ngày hôm sau ông không bước chân ra ngoài nửa bước, ông sợ hàng xóm nhắc đến hai chữ “Việt gian” lúc nào ông cũng nơm nớp tưởng như đang bàn chuyện làng ông. Đã vậy mụ chủ nhà đã đánh tiếng là không muốn cho nhà ông ở nữa vì “có lệnh đuổi hết Việt gian theo Tây không cho ở vùng này nữa” Ông Hai lặng ngồi, đầu óc rồi bời, biết đi đâu bây giờ, ở đâu người ta cũng xua đuổi, mà nếu không xua đuổi thì mình cũng không còn mặt mũi nào mà đi đến đâu được nữa. Ông cũng không thể về làng vì làng đã bỏ cụ Hồ, đã đi theo Tây thì còn về làm gì nữa. Ông lão chẳng biết làm gì chỉ biết trút nỗi lòng mình cho đứa con, cụ Hồ soi xét cho lòng bố con ông, bố con ông không bao giờ dám sai đơn. Đang lúc rồi bời thì tin đồn làng chợ Dầu theo Tây được cải chính, đích thân chủ tích làng lên để cải chính, ông lão vui mừng đi khoe khắp nơi. Tối hôm đó ông lại sang bác Thứ, kể chuyện giặc đến đốt phá làng thế nào, làng Dầu chống cự ra sao, tỉ mỉ như chính ông cũng tham dự trận đánh ấy.

2 Bài Văn Em Hãy Giới Thiệu Về Nhà Văn Kim Lân Và Truyện Ngắn Làng

Giáo Án Ngữ Văn Lớp 9 Chuẩn Nhất, Học Kì 2

Giáo Án Bài Làng (Trích) (Tiết 2)

Giáo Án Ngữ Văn Lớp 9

Giáo Án Bài Làng (Trích) (Tiết 1)

Tóm Tắt Văn Bản Làng Môn Văn Lớp 9 Hay Nhất

Tóm Tắt Truyện Làng Của Kim Lân.ngữ Văn Lớp 9

Tập Đọc Lớp 5: Quang Cảnh Làng Mạc Ngày Mùa

Tập Đọc : Quang Cảnh Làng Mạc Ngày Mùa

Soạn Bài Quang Cảnh Làng Mạc Ngày Mùa, Tập Đọc Trang 10, 11 Sgk Tiếng

Soạn Bài Quang Cảnh Làng Mạc Ngày Mùa Trang 10, 11 Sgk Tiếng Việt 5 Tập 1

Chúng tôi giới thiệu đến các em bài tóm tắt văn bản Làng Ngữ Văn 9, giúp các em khái quát được nội dung tác phẩm. Đồng thời cũng giúp cho việc phân tích truyện ngắn Làng dễ dàng, hiệu quả hơn.

1.1. Bài làm 1: Tóm tắt bài Làng của Kim Lân

1.2. Bài làm 2: Tóm tắt văn bản Làng Kim Lân

Truyện ngắn Làng của Kim Lân viết năm 1948, trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. Truyện kể về ông Hai rất yêu làng, yêu nước. Ông Hai phải đi tản cư nên ông rất nhớ làng và yêu làng, ông thường tự hào và khoe về làng Chợ Dầu giàu đẹp của mình, nhất là tinh thần kháng chiến và chính ông là một công dân tích cực.

Ở nơi tản cư, đang vui với tin chiến thắng của ta, bất chợt ông Hai nghe tin dữ về làng Chợ Dầu Việt gian theo Tây. Ông cụt hứng, đau khổ, xấu hổ. Ông buồn chán và lo sợ suốt mấy ngày chẳng dám đi đâu, càng bế tắc hơn khi mụ chủ nhà đánh tiếng đuổi gia đình ông đi không cho ở nhờ vì là người của làng Việt gian. Ông chỉ biết trút bầu tâm sự cùng đứa con trai bé nhỏ như nói với chính lòng mình: theo kháng chiến, theo Cụ Hồ chứ không theo giặc, còn làng theo giặc thì phải thù làng.

Nhưng đột ngột, nghe được tin cải chính làng Dầu không theo Tây, lòng ông phơi phới trở lại. Ông khoe với mọi người nhà ông bị Tây đốt sạch, làng Dầu bị đốt sạch, đốt nhẵn. Ông lại khoe và tự hào về làng Dầu kháng chiến như chính ông vừa tham gia trận đánh vậy.

1.3. Bài làm 3: Tóm tắt văn bản Làng Ngữ Văn lớp 9

– Ông Hai là người một người nông dân yêu tha thiết yêu làng Chợ Dầu của mình.

– Do yêu cầu của ủy ban kháng chiến, ông Hai phải cùng gia đình tản cư. Xa làng ông nhớ làng da diết.

– Trong những ngày xa quê, ông luôn nhớ đến làng Chợ Dầu và muốn trở về.

– Một hôm, ông nghe tin làng Chợ Dầu của ông làm Việt gian theo Tây. Ông Hai vừa căm uất vừa tủi hổ, chỉ biết tâm sự cùng đứa con thơ.

– Khi cùng đường, ông Hai nhất định không quay về làng vì theo ông “làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây thì phải thù.”

– Sau đó, ông được nghe tin cải chính về làng mình rằng làng chợ Dầu vẫn kiên cường đánh Pháp. Ông hồ hởi khoe với mọi người tin này dù nhà ông bị Tây đốt cháy.

1.4. Bài làm 4: Tóm tắt văn bản Làng của Kim Lân lớp 9

Các em CLICK vào file tải bên dưới để xem full mẫu bài làm 4: Ngữ Văn 9 tóm tắt văn bản làng

Soạn Văn Bản Làng Của Nhà Văn Kim Lân Ngữ Văn 9

Phương Pháp Viết Mở Bài, Kết Bài Hay

Phân Tích Nhân Vật Ông Hai Trong Truyện Ngắn Làng Của Kim Lân

Mở Bài Truyện Ngắn Làng Của Kim Lân, 4 Cách Mở Bài

Tóm Tắt Nội Dung Chính, Lập Dàn Ý Phân Tích, Bố Cục

5 Mẫu Văn Bản Đề Nghị, Xác Nhận Hay

Mẫu Giấy Cam Kết, Đơn Xác Nhận, Văn Bản Thoả Thuận Tài Sản Riêng Chi Tiết Nhất

Văn Bản Xác Nhận Là Chuyên Gia Khi Xin Giấy Phép Lao Động

Soạn Bài Xa Ngắm Thác Núi Lư

Giáo Án Ngữ Văn 6

Văn Bản “xa Ngắm Thác Núi Lư”.

Văn bản đề nghị hoàn thuế; Văn bản đề nghị cấp giấy phép lao động cho người lao động nước ngoài; Mẫu đề nghị ký hợp đồng tập sự; Mẫu đề nghị duyệt chi công tác; Mẫu giấy xác nhận nghề công việc nặng nhọc, độc hại. là 5 mẫu văn bản đề nghị, xác nhận được chúng tôi chọn lọc và gửi tới quý bạn độc giả.

2. Văn bản đề nghị cấp giấy phép lao động cho người lao động nước ngoài

Người nước ngoài đến lao động tại Việt Nam và muốn được cấp giấy phép lao động thì sẽ phải thực hiện văn bản đề nghị cấp giấy phép lao động cho người lao động nước ngoài để xin ý kiến của Ban lãnh đạo doanh nghiệp và gửi lên các cơ quan có thẩm quyền cấp phép lao động, chứng nhận việc lao động của cá nhân đó tại Việt Nam là hợp pháp. Người thực hiện văn bản đề nghị cấp giấy phép lao động cho người lao động nước ngoài phải đủ 18 tuổi trở lên, có sức khỏe phù hợp với yêu cầu của công việc và không có tiền án vi phạm pháp luật, an ninh quốc gia,…

3. Mẫu đề nghị ký hợp đồng tập sự

Mẫu đề nghị ký hợp đồng tập sự thông thường sẽ do một phòng, khoa giới thiệu một cá nhân có thành tích nổi bật để đề nghị đến Ban Giám hiệu và Phòng Quản trị Nhân sự xem xét cho một đối tượng cụ thể nào đó được tiếp tục ký hợp đồng tập sự với trường. Đối với phần đánh giá quá trình đối tượng đó thực hiện những công việc được phân công thì bên giới thiệu phải ghi trong mẫu đề nghị ký hợp đồng tập sự một cách trung thực, rõ ràng, chi tiết nhất để Ban Giám hiệu có thể xem xét và cân nhắc về việc tiếp tục ký hợp đồng với người được giới thiệu.

4. Mẫu đề nghị duyệt chi công tác

Mẫu đề nghị duyệt chi công tác dành cho những cá nhân được cử đi công tác sử dụng để kê khai một số khoản chi cụ thể để Ban lãnh đạo cơ quan có thể nắm bắt và quyết định duyệt chi các khoản đó cho mình. Người làm mẫu đề nghị duyệt chi công tác cần ghi rõ thông tin của người đi công tác, mục đích đi công tác, ghi rõ các nội dung đề nghị, số tiền ứng trước, công tác phí, các khoản phải chi trả trong quá trình đi công tác,…

5. Mẫu giấy xác nhận nghề công việc nặng nhọc, độc hại

Đối với người lao động nặng nhọc, độc hại sẽ được hưởng một thang lương theo đúng quy định chung và được hưởng trợ cấp bảo hiểm hàng tháng, các doanh nghiệp sẽ sử dụng mẫu giấy xác nhận nghề công việc nặng nhọc, độc hại để các nhận người lao động đó thuộc trường hợp này.

Tài Liệu Học Word 2010

Word Bị Lỗi Không Sửa Được, Word Lỗi Không Thêm Nội Dung Mới Được

Cách Mở File Word Bị Khóa Không Chỉnh Sửa Được

File Word Bị Lỗi Không Chỉnh Sửa Được, Nguyên Nhân Và Cách Khắc Phục

Khắc Phục Lỗi Khi Đánh Văn Bản Bị Mất Chữ, Nhảy Chữ Trong Word Và Hơn Thế Nữa

Luận Văn: Quy Trình Ban Hành Văn Bản Hành Chính, Hay

Văn Bản Điện Tử Có Giá Trị Pháp Lý Như Bản Gốc Văn Bản Giấy

Giá Trị Pháp Lý Của Bản Sao Điện Tử, Văn Bản Giấy Được Chuyển Đổi Từ Hồ Sơ, Kết Quả Điện Tử Trong Thực Hiện Tthc

Văn Bản Điện Tử Có Giá Trị Pháp Lý Tương Đương Văn Bản Giấy

Văn Bản Điện Tử Giữa Các Cơ Quan Nhà Nước Có Giá Trị Pháp Lý Tương Đương Văn Bản Giấy

Sử Dụng Chữ Ký Số

Published on

Luận văn thạc sĩ ngành luật: Quy trình ban hành văn bản hành chính tại Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa, cho các bạn tham khảo

1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA NGUYỄN THỊ MINH QUY TRÌNH BAN HÀNH VĂN BẢN HÀNH CHÍNH TẠI ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG HÀ NỘI – 2022

2. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA NGUYỄN THỊ MINH QUY TRÌNH BAN HÀNH VĂN BẢN HÀNH CHÍNH TẠI ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG Chuyên ngành: Quản lý công Mã số: 603404 03 NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: chúng tôi NGUYỄN THỊ THU VÂN HÀ NỘI – 2022

3. LỜI CẢM ƠN Tôi xin đƣợc gửi lời cảm ơn trân trọng và sâu sắc nhất đến cô giáo chúng tôi Nguyễn Thị Thu Vân – ngƣời đã tận tình giúp đỡ, hƣớng dẫn cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài này. Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo công tác tại Học viện Hành chính Quốc Gia đã truyền dạy những kiến thức quí báu, tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập tại Học viện và truyền đạt những kinh nghiệm cho luận văn hoàn thành đƣợc thuận lợi. Đồng thời tôi xin gửi lời cảm ơn Lãnh đạo UBND tỉnh, Văn phòng UBND tỉnh, đồng nghiệp trong cơ quan Văn phòng UBND tỉnh đã tạo điều kiện về mặt thời gian để tôi tham gia và hoàn thành khóa học một cách tốt nhất. Cảm ơn gia đình và bạn bè những ngƣời luôn ở bên và động viên, giúp đỡ tôi những lúc khó khăn. Xin trân trọng cảm ơn! Hà Nội, ngày 15 tháng 9 năm 2022 Nguyễn Thị Minh

4. LỜI CAM ĐOAN Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Tác giả Nguyễn Thị Minh

5. DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ HĐND Hội đồng nhân dân UBND Ủy ban nhân dân VBHC Văn bản hành chính

6. MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN LỜI CẢM ƠN DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT MỤC LỤC MỞ ĐẦU ……………………………………………………………………………………………..1 Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUY TRÌNH BAN HÀNH VĂN BẢN HÀNH CHÍNH …………………………………………………………………………………….7 1.1. Khái quát về văn bản hành chính…………………………………………………… 7 1.1.1. Khái niệm văn bản hành chính………………………………………………….7 1.1.2. Các loại văn bản hành chính ………………………………………………….10 1.1.3. Những yêu cầu về kỹ thuật soạn thảo văn bản hành chính………….16 1.2. Văn bản hành chính trong hoạt động quản lý của UBND cấp tỉnh…… 23 1.2.1. Vai trò của văn bản hành chính trong hoạt động quản lý tại UBND cấp tỉnh…………………………………………………………………………………………23 1.2.2. Thẩm quyền ban hành văn bản hành chính tại UBND cấp tỉnh…..26 1.2.3. Hệ thống văn bản hành chính tại UBND cấp tỉnh……………………..27 1.3. Quy trình ban hành văn bản hành chính……………………………………….. 28 1.3.1. Khái niệm quy trình và quy trình ban hành văn bản hành chính …28 1.3.2. Quy trình chung ban hành văn bản hành chính…………………………29 1.3.3. Sự cần thiết phải xây dựng và tuân thủ quy trình ban hành văn bản hành chính tại UBND cấp tỉnh…………………………………………………………33 1.4 Các yếu tố ảnh hƣởng tới việc đảm bảo thực hiện quy trình ban hành văn bản hành chính ………………………………………………………………………….. 35 1.4.1 Các quy chế, quy định …………………………………………………………….35 1.4.2 Đội ngũ cán bộ, công chức………………………………………………………35

7. 1.4.3 Bộ máy làm việc …………………………………………………………………….36 1.4.4 Thiết bị, cơ sở vật chất ……………………………………………………………37 1.4.5 Ứng dụng công nghệ thông tin…………………………………………………37 1.4.6 Áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn Quốc gia TCVN ISO 9001:2008 …………………………………………………………………….38 Tiểu kết Chƣơng 1………………………………………………………………………………39 Chƣơng 2 THỰC TRẠNG QUY TRÌNH BAN HÀNH VĂN BẢN HÀNH CHÍNH TẠI UBND TỈNH THANH HÓA……………………………………………41 2.1. Khái quát chung về tỉnh Thanh Hóa…………………………………………….. 41 2.1.1. Điều kiện tự nhiên …………………………………………………………………41 2.1.2. Điều kiện kinh tế – xã hội ……………………………………………………….43 2.1.3. Tổ chức bộ máy của UBND tỉnh Thanh Hóa…………………………….49 2.2. Thực trạng xây dựng và tuân thủ quy trình ban hành văn bản hành chính tại UBND tỉnh Thanh Hóa……………………………………………………….. 51 2.2.1. Số lượng văn bản hành chính tại UBND tỉnh Thanh Hóa…………..51 2.2.2. Thực trạng xây dựng quy trình ban hành văn bản hành chính tại UBND tỉnh Thanh Hóa……………………………………………………………………54 2.3. Các lỗi thƣờng gặp trong quá trình ban hành văn bản hành chính……….. 60 2.4. Đánh giá tác động của việc tuân thủ quy trình đến chất lƣợng ban hành văn bản hành chính tại UBND tỉnh Thanh Hóa …………………………………… 61 2.4.1. Về chất lượng ban hành văn bản hành chính tại UBND tỉnh Thanh Hóa ………………………………………………………………………………………………62 2.4.2. Về thể thức văn bản hành chính ban hành tại UBND tỉnh Thanh Hóa..67 2.5. Nhận xét chung…………………………………………………………………………. 71 2.5.1. Về ưu điểm……………………………………………………………………………72 2.5.2. Về một số tồn tại…………………………………………………………………..73 2.5.3. Nguyên nhân của những tồn tại ………………………………………………74

9. DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU Sơ đồ 2.1 Hệ thống văn bản của UBND tỉnh Thanh Hóa…………………………27 Sơ đồ 2.2 Quy trình ban hành văn bản hành chính hiện đang thực hiện tại UBND tỉnh Thanh Hóa………………………………………………………………………….55 Biểu đồ 2.1 Tổng số văn bản hành chính theo các năm của UBND tỉnh Thanh Hóa…………………………………………………………………………………………………….52 Bảng 2.1. Thống kê số lượng ban hành văn bản từ năm 2012 đến 30/6/2016 tại UBND tỉnh Thanh Hóa …………………………………………………………………….53 Bảng 2.2 Tỉ lệ văn bản mắc lỗi các năm từ 2012-30/6/2016………………………62 Bảng 3.3. Các bước hình thành Văn bản hành chính………………………………..86 Bảng 3.4. Các bước hình thành văn bản hành chính…………………………………88

10. 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nƣớc, đồng thời với việc đổi mới về kinh tế thì cải cách hành chính cũng đã và đang đƣợc tiến hành. Để đề ra các đƣờng lối đẩy mạnh công cuộc đổi mới đất nƣớc trong điều hành công việc không thể thiếu đƣợc công tác văn bản, nhất là trong giai đoạn hiện nay, việc xây dựng và ban hành văn bản hành chính càng giữ một vị trí quan trọng, đặc biệt là các cơ quan hành chính nhà nƣớc ở địa phƣơng. Văn bản là phƣơng tiện dùng để ghi lại và truyền đạt thông tin, nó giữ vai trò quan trọng không thể thiếu trong hoạt động đời sống xã hội. Trong hoạt động quản lý nhà nƣớc, văn bản còn đƣợc thể hiện tính quyền lực, trình độ quản lý, tính trang trọng, uy nghiêm của nhà nƣớc, của một quốc gia dân tộc. Các cơ quan từ Trung ƣơng đến địa phƣơng đều sử dụng văn bản nhƣ những phƣơng tiện chủ yếu, là cơ sở pháp lý để điều hành công việc. Văn bản hành chính nhà nƣớc không những là phƣơng tiện chủ yếu, là cơ sở pháp lý mà còn thể hiện mối quan hệ giữa cơ quan nhà nƣớc với nhau, và giữa cơ quan nhà nƣớc với các tổ chức, công dân, thể hiện phƣơng thức, lề lối làm việc của từng cơ quan. Thanh Hóa là tỉnh nằm ở Bắc Trung Bộ, cách thủ đô Hà Nội 154km về phía Nam và cách thành phố Hồ Chí Minh 1.560km về phía Bắc. Phía Nam giáp tỉnh Nghệ An; phía Bắc giáp với 3 tỉnh: Sơn La, Hòa Bình và Ninh Bình; phía Tây giáp với nƣớc CHDCND Lào, với đƣờng biên giới dài 192km; phía Đông là Vịnh Bắc Bộ với chiều dài 102km bờ biển. Diện tích tự nhiên là 11.130km2 ; toàn tỉnh có 27 đơn vị hành chính cấp huyện và tƣơng đƣơng (gồm 1 thành phố, 02 thị xã và 24 huyện) với 637 xã, phƣờng, thị trấn; dân số gần 3,5 triệu ngƣời, đứng thứ 3 cả nƣớc, sau thủ đô Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Với nhiều đặc điểm riêng biệt, Thanh Hóa đƣợc ví nhƣ một “Việt

11. 2 Nam thu nhỏ”. Chính vì đặc điểm đó mà tại UBND tỉnh Thanh Hóa hàng năm có số lƣợng văn bản hành chính đƣợc ban hành rất lớn (năm 2022 là 22.214 văn bản). Tại UBND tỉnh Thanh Hóa cũng đã chú trọng đến công tác ban hành văn bản hành chính, Văn phòng UBND tỉnh Thanh Hóa đã ban hành Quyết định “Ban hành Quy định về lập hồ sơ trình giải quyết công việc, phát hành văn bản, lƣu trữ và tra cứu hồ sơ của Văn phòng UBND tỉnh”. Tuy nhiên, Văn phòng UBND tỉnh Thanh Hóa chƣa xây dựng đƣợc quy trình ban hành văn bản hành chính cụ thể, chi tiết, chính vì vậy, công tác ban hành văn bản hành chính tại Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa vẫn chƣa phát huy hết hiệu lực, hiệu quả. Vẫn tồn tại một số văn bản sai thể thức, lỗi kỹ thuật trình bày, các văn bản hành chính vẫn còn lỗi chính tả, một số quyết định (cá biệt) căn cứ sai Luật chính quyền địa phƣơng, tên loại văn bản không phù hợp với nội dung thông tin mà văn bản chứa đựng, sử dụng các từ viết tắt sai quy định, dùng Công văn của Văn phòng UBND tỉnh để đính chính nội dung của các Quyết định do Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch UBND tỉnh đã ký ban hành nhƣng sai sót về nội dung… Nhằm giải quyết những hạn chế trên đồng thời tìm ra biện pháp nâng cao hiệu quả trong công tác soạn thảo, ban hành và quản lý văn bản hành chính tại Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa, phục vụ tốt cho công tác quản lý nhà nƣớc tại địa phƣơng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong công tác quản lý nhà nƣớc thì việc nghiên cứu quy trình ban hành văn bản hành chính tại UBND tỉnh Thanh Hóa là hết sức cần thiết để cải cách nền hành chính, nâng cao năng lực quản lý nhà nƣớc, nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong cải cách thủ tục hành chính, thu hút nhiều nhà đầu tƣ góp phần xây dựng tỉnh Thanh Hóa phát triển hơn nữa. Đó chính là lý do tôi lựa chọn đề tài: “Quy trình ban hành văn bản hành chính tại Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa”.

13. 4 còn mang tính khái quát cao, chƣa tập trung giải quyết các vấn đề thực tiễn tại các đơn vị. Đặc biệt, chƣa có công trình nào nghiên cứu về quy trình ban hành văn bản hành chính tại Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa. Chính vì vậy, việc nghiên cứu quy trình ban hành văn bản hành chính tại Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa là hết sức cần thiết, đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay khi tỉnh Thanh Hóa đang tiến hành cải cách hành chính cũng nhƣ đang cải cách thủ tục hành chính để thu hút các nhà đầu tƣ về tỉnh. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 3.1 Mục đích của luận văn: Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn để đƣa ra những phƣơng hƣớng và giải pháp hoàn thiện quy trình ban hành văn bản hành chính tại Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa, đáp ứng yêu cầu đổi mới và cải cách hành chính tại tỉnh Thanh Hóa. 3.2 Nhiệm vụ của luận văn: Để đạt đƣợc mục đích trên, luận văn thực hiện một số nhiệm vụ sau: – Hệ thống hóa cơ sở lý luận văn bản quản lý nhà nƣớc và văn bản hành chính nói riêng tại UBND tỉnh Thanh Hóa. – Tìm hiểu, phân tích những cơ sở khoa học và thực tiễn về quy trình ban hành văn bản hành chính. – Phân tích thực trạng quy trình văn bản hành chính tại Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa. Đồng thời, đề xuất một số giải pháp trong quy trình ban hành văn bản hành chính tại UBND tỉnh Thanh Hóa trong thời gian tới. 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 4.1 Đối tượng nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu là quy trình ban hành văn bản hành chính tại Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

17. 8 quản lý nhà nước ban hành theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục, hình thức nhất định và được nhà nước đảm bảo thực thi bằng những biện pháp khác nhau nhằm điều chỉnh các mối quan hệ quản lý nội nhà nước hoặc giữa các cơ quan nhà nước với các tổ chức và công dân”. Ở đây, chúng tôi thống nhất sử dụng thuật ngữ “văn bản quản lý nhà nƣớc” theo quan điểm của Giáo trình Kĩ thuật xây dựng và ban hành văn bản của Học viện Hành chính [15, tr.9]. 1.1.1.3. Khái niệm văn bản quản lý hành chính nhà nước Trên giác độ khoa học hành chính, quản lý hành chính nhà nƣớc đƣợc hiểu là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực pháp luật nhà nƣớc đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con ngƣời nhằm duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật, nhằm thực hiện những chức năng, nhiệm vụ của nhà nƣớc trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Trong hoạt động quản lý hành chính nhà nƣớc, văn bản vừa là công cụ quản lý nhƣng cũng vừa là sản phẩm của hoạt động quản lý. Cơ quan hành chính nhà nƣớc sử dụng văn bản để cụ thể hóa pháp luật, để hƣớng dẫn việc thực hiện pháp luật cũng nhƣ là để áp dụng pháp luật vào giải quyết các nhiệm vụ quản lý hành chính nhà nƣớc. Việc sử dụng văn bản quản lý trong giải

19. 10 Nhƣ vậy, văn bản hành chính là một trong bốn loại văn bản hình thành trong các cơ quan, tổ chức (trong hệ thống cơ quan nhà nước cũng như trong các tổ chức doanh nghiệp, tổ chức xã hội và xã hội – nghề nghiệp). Đây là loại văn bản ghi lại và truyền đạt các quyết định cá biệt và thông tin quản lý để phục vụ hoạt động điều hành các công việc hành chính cụ thể của các cơ quan tổ chức. Văn bản hành chính bao gồm nhóm văn bản cá biệt và văn bản hành chính thông thƣờng. 1.1.2. Các loại văn bản hành chính Căn cứ Nghị định số 110/2004/NĐ – CP ngày 08 tháng 4 năm 2004 của Chính phủ về công tác văn thƣ quy định các hình thức văn bản hành chính gồm 23 loại văn bản. Tuy nhiên, ngày 08 tháng 02 năm 2010 Chính phủ ban hành Nghị định số 09/2010/NĐ – CP về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 110/2004/NĐ – CP đã bổ sung thêm một số loại văn bản hành chính, tổng cộng gồm 32 loại văn bản, cụ thể nhƣ sau: nghị quyết (cá biệt), quyết định (cá biệt), chỉ thị, quy chế, quy định, thông cáo, thông báo, hƣớng dẫn, chƣơng trình, kế hoạch, phƣơng án, đề án, dự án, báo cáo, biên bản, tờ trình, hợp đồng, công văn, công điện, bản ghi nhớ, bản cam kết, bản thoả thuận, giấy chứng nhận, giấy uỷ quyền, giấy mời, giấy giới thiệu, giấy nghỉ phép, giấy đi đƣờng, giấy biên nhận hồ sơ, phiếu gửi, phiếu chuyển, thƣ công. Đến nay, chƣa có quy định nào của Nhà nƣớc giải thích về tính chất nội dung của các hình thức văn bản hành chính nêu trên, dẫn đến trong một số trƣờng hợp khó xác định rõ sự khác nhau giữa một số loại văn bản nhƣ quy chế và quy định; chƣơng trình, kế hoạch, đề án và dự án; công văn và thƣ công; hƣớng dẫn và công văn hƣớng dẫn, biên bản, bản thỏa thuận, bản cam kết và bản ghi nhớ… Trên cơ sở đúc kết mang tính khoa học và qua thực tiễn sử dụng, có thể giải nghĩa các hình thức văn bản này nhƣ sau:

22. 13 Biên bản là văn bản dùng để ghi lại diễn biến sự việc đang xảy ra hoặc tình trạng sự việc vừa xảy ra do những ngƣời có trách nhiệm thực hiện. Biên bản là chứng cứ pháp lý để giải quyết vấn đề, vụ việc nào đó. Tờ trình là văn bản dùng để đề xuất với cấp trên một vấn đề, đề nghị cấp trên phê duyệt. Hợp đồng là văn bản thoả thuận giữa hai hay nhiều bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền lợi, nghĩa vụ của các bên trong một quan hệ nhất định. Công văn là văn bản của cơ quan, tổ chức để giao dịch, trao đổi thông tin, chỉ đạo công việc trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của các chủ thể có thẩm quyền. Thư công là văn bản của cá nhân thủ trƣởng cơ quan hay ngƣời có vị trí chức danh nhất định trong cơ quan, tổ chức dùng để giao dịch việc công, xây dựng và củng cố các mối quan hệ công chúng, với đối tác và khách hàng của cơ quan, tổ chức. Thƣ công giống với công văn là đều là văn bản hành chính không đề tên loại, đều đƣợc đăng ký vào sổ “văn bản đi” và nhằm mục đích liên lạc, trao đổi thông tin. Tuy nhiên thƣ công khác với công văn ở chỗ, mục đích nổi bật nhất của thƣ công là để liên hệ giao dịch với đối tác và khách hàng của cơ quan, tổ chức, tạo dựng và củng cố các mối quan hệ công chúng. Thƣ công nhấn mạnh vai trò, vị trí, uy tín của đích danh cá nhân thủ trƣởng cơ quan hay ngƣời có vị trí chức danh nhất định trong cơ quan, tổ chức. Ngƣời ký văn bản trong thƣ công đều ký trực tiếp, không sử dụng hình thức ký thay, thừa lệnh hay thừa ủy quyền. Việc trình bày các yếu tố thể thức trong thƣ công cũng linh hoạt, không yêu cầu chặt chẽ nhƣ các văn bản hành chính khác. Công điện là văn bản đƣợc chuyển bằng các phƣơng tiện truyền tin nhanh để chỉ đạo hay ra quyết định về những vấn đề khẩn cấp.

24. 15 Giấy mời là một loại giấy tờ hành chính đƣợc dùng thể hiện mong muốn hay yêu cầu một cách lịch sự để các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham dự một hoạt động nào đó. Giấy biên nhận là loại giấy tờ hành chính đƣợc sử dụng để một chủ thể xác nhận về việc đã nhận tài sản, tài liệu, giấy tờ nào đó. Giấy giới thiệu là loại giấy tờ hành chính dùng để cấp cho cán bộ, công chức, nhân viên đi liên hệ công tác hay giao dịch nói chung nhằm thực hiện các nhiệm vụ đƣợc giao hoặc giải quyết các công việc cần thiết của bản thân cán bộ, công chức đó. Giấy nghỉ phép là loại giấy tờ hành chính cấp cho cán bộ, công chức, nhân viên khi đƣợc nghỉ phép, có giá trị thay giấy đi đƣờng trong thời gian nghỉ phép và làm căn cứ thanh toán tiền đi đƣờng theo chế độ. Giấy đi đường là loại giấy tờ hành chính dùng để cấp cho cán bộ, công chức, nhân viên khi đi công tác, có giá trị để tính phụ cấp đi đƣờng. Phiếu gửi là giấy tờ hành chính dùng trong trƣờng hợp chuyển tài liệu, văn bản tới cơ quan cần chuyển đến. Phiếu chuyển là giấy tờ hành chính của một cơ quan gửi kèm theo các văn bản, tài liệu để chuyển đến cơ quan, tổ chức khác để xác nhận về việc đã nhận đƣợc văn bản, tài liệu đó. Trên thực tế, việc lựa chọn hình thức văn bản hành chính tùy thuộc vào mục đích và yêu cầu nội dung thông tin của văn bản. Đối với một số trƣờng hợp, pháp luật quy định chặt chẽ về hình thức văn bản sử dụng, một số trƣờng hợp khác chƣa có văn bản pháp luật quy định cụ thể thì cán bộ soạn thảo văn bản cần lựa chọn hình thức văn bản sao cho đảm bảo tính khoa học, phù hợp với thông lệ chung và sao cho đạt đƣợc hiệu quả truyền đạt thông tin pháp lý và thông tin thực tiễn cao nhất.

25. 16 1.1.3. Những yêu cầu về kỹ thuật soạn thảo văn bản hành chính Trong quá trình soạn thảo văn bản, tác giả văn bản cần nắm vững đƣờng lối chính trị của Đảng để có thể quy phạm hóa chính sách thành pháp luật, văn bản đƣợc ban hành phải phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và phạm vi hoạt động của cơ quan, phải giải quyết đƣợc các vấn đề: văn bản sắp ban hành thuộc thẩm quyền pháp lý của ai và thuộc loại nào? Phạm vi tác động đến đâu? Trật tự pháp lý đƣợc xác định nhƣ thế nào? Văn bản dự định ban hành có gì mâu thuẫn với các văn bản khác của cơ quan hoặc của cơ quan khác? Hơn nữa, tác giả ban hành cần nắm vững nội dung văn bản cần soạn thảo, phƣơng thức giải quyết công việc đƣa ra phải rõ ràng, phù hợp. Nội dung văn bản phải thiết thực, đáp ứng nhu cầu thực tế đặt ra, phù hợp với pháp luật hiện hành, không trái với văn bản của cấp trên, có tính khả thi…Tóm lại, trong quá trình soạn thảo văn bản cần đảm bảo cả về nội dung và thể thức của văn bản. 1.1.3.1. Yêu cầu về nội dung – Văn bản phải có tính mục đích Trƣớc khi ban hành văn bản nhất định, tác giả văn bản cần xác định rõ mục tiêu và giới hạn điều chỉnh của nó, tác giả văn bản phải trả lời đƣợc một số câu hỏi nhƣ: văn bản này ban hành để làm gì? Giải quyết công việc gì? Mức độ giải quyết đến đâu? Kết quả của việc thực hiện văn bản là gì? Tính mục đích của văn bản còn phải thể hiện đƣợc chủ trƣơng, đƣờng lối, chính sách của Đảng đặt ra trong nhiệm vụ thể chế hóa đƣờng lối, chủ trƣơng, chính sách đó. Hơn nữa, nội dung văn bản phải luôn phản ánh đƣợc nguyện vọng chính đáng của các tầng lớp nhân dân, không trái với quy định chung của pháp luật về quyền lợi và nghĩa vụ của công dân. Nhƣ vậy, mục đích ban hành văn bản sẽ quyết định đến việc loại văn bản nào sẽ đƣợc sử dụng, nội dung thể thức và quy trình ban hành nhƣ thế nào.

27. 18 – Văn bản phải đảm bảo tính khả thi Một văn bản khi đƣợc ban hành sẽ không thể đi vào thực tiễn nếu không đảm bảo tính khả thi. Thực tiễn đặt ra yêu cầu cần phải ban hành văn bản và thực tiễn cũng sẽ là thƣớc đo và là nơi kiểm định tính khả thi của văn bản. Muốn đảm bảo tính khả thi, văn bản phải đảm bảo những yêu cầu nhƣ: văn bản phải xuất phát từ nhu cầu thực tiễn quản lý và đáp ứng đƣợc nhu cầu ấy; những yêu cầu đặt ra trong văn bản phải phù hợp với mức độ phát triển kinh tế, xã hội hiện tại của đất nƣớc; yêu cầu hoặc chế tài (nếu có) phải phù hợp với trình độ, năng lực, khả năng của các đối tƣợng thực thi, không đƣợc đề xuất các biện pháp hoặc yêu cầu mang tính chất duy ý chí thuần túy. 1.1.3.2. Yêu cầu về thể thức Về thể thức văn bản quản lý nhà nƣớc hiện nay có ba quy định: Thông tƣ liên tịch số 55/2005/TTLT-BNV-VPCP ngày 26/5/2005 của Bộ Nội vụ và Văn phòng Chính phủ quy định về kỹ thuật trình bày văn bản quản lý nhà nƣớc; Thông tƣ số 01/2011/TT-BNV do Bộ Nội vụ ban hành ngày 19/01/2011, có hiệu lực từ ngày 04/3/2011 quy định về thể thức và kỹ thuật trình bày thể thức văn bản hành chính; Thông tƣ số 25/2011/TT-BTP do Bộ Tƣ pháp ban hành ngày 27/12/2011 quy định về thể thức, kỹ thuật trình bày văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tƣớng Chính phủ, Bộ trƣởng, Thủ trƣởng cơ quan ngang Bộ và văn bản quy phạm pháp luật liên tịch. Trong phạm vi của luận văn này, chúng tôi tìm hiểu về quy trình ban hành văn bản hành chính tại Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa. Vì vậy, những yêu cầu về thể thức chúng tôi sử dụng Thông tƣ số 01/2011/TT-BNV ngày 19/01/2011 của Bộ Nội vụ. Theo Thông tƣ số 01/2011/TT-BNV ban hành ngày 19 tháng 01 năm 2011 của Bộ Nội vụ hƣớng dẫn thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản hành chính, “Thể thức văn bản là tập hợp các thành phần cấu thành văn bản, bao

28. 19 gồm những thành phần chung áp dụng đối với các loại văn bản và các thành phần bổ sung trong những trường hợp cụ thể hoặc đối với một số loại văn bản nhất định theo quy định tại Khoản 3, Điều 1 Nghị định số 09/2010/NĐ-CP ngày 08 tháng 02 năm 2010 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung Nghị định số 110/2004/NĐ-CP ngày 08 tháng 4 năm 2004 của Chính phủ về công tác văn thư và hướng dẫn tại Thông tư này” (Điều 2, chƣơng I). Theo Thông tƣ 01/2011/TT-BNV thì các yếu tố thể thức chung và các yếu tố thể thức có thể có, cấu thành văn bản đƣợc quy định tại các điều từ điều 6 đến điều 15 Chƣơng II, cụ thể: – Quốc hiệu; – Tên cơ quan, tổ chức ban hành văn bản; – Số, ký hiệu của văn bản; – Địa danh và ngày, tháng, năm ban hành văn bản; – Tên loại và trích yếu nội dung văn bản; – Nội dung văn bản; – Quyền hạn, chức vụ, họ tên và chữ ký của ngƣời có thẩm quyền; – Dấu của cơ quan, tổ chức; – Nơi nhận; – Các thành phần bổ sung có những yếu tố + Dấu chỉ mức độ mật + Dấu chỉ mức độ khẩn + Chỉ dẫn về phạm vi lƣu hành; + Đối với công văn, ngoài các thành phần đƣợc quy định có thể bổ sung địa chỉ cơ quan, tổ chức; địa chỉ thƣ điện tử (E-Mail); số điện thoại, số Telex, số Fax; địa chỉ trang thông tin điện tử (website). + Đối với những văn bản có phụ lục kèm theo thì trong văn bản phải có chỉ dẫn về phụ lục đó. Phụ lục văn bản phải có tiêu đề; văn bản có từ hai phụ lục trở lên thì các phụ lục phải đƣợc đánh số thứ tự bằng chữ số La Mã.

29. 20 + Văn bản có hai trang trở lên thì phải đánh số trang bằng chữ số Ả-rập”. – V.v.. Mỗi yếu tố thể thức kể trên đều chứa đựng những thông tin cần thiết cho việc hình thành, sử dụng, quản lý văn bản và có ảnh hƣởng tới quá trình thực hiện văn bản trong thực tế quản lý. Do vậy, chúng cần phải đƣợc thiết lập và trình bày một cách khoa học theo những quy định hiện hành của Nhà nƣớc về vấn đề này. Đối với những thành phần thể thức bắt buộc, nếu văn bản thiếu chúng sẽ không phù hợp với pháp luật. Bên cạnh đó, nếu thiếu các yếu tố thể thức hoặc không thực hiện đúng các yêu cầu về thể thức của văn bản còn gây khó khăn trong công tác quản lý, lƣu trữ và khai thác, tra cứu văn bản trong hoạt động của cơ quan. Việc trình bày văn bản đúng và đủ các thành phần thể thức do nhà nƣớc quy định có một số ý nghĩa sau: – Thứ nhất, về mặt pháp luật. Đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật; – Thứ hai, về mặt pháp lý. Đảm bảo hiệu lực pháp lý cho văn bản; – Thứ ba, về mặt thực tế. Giúp cho công tác văn thƣ, lƣu trữ, quản lý, theo dõi và bảo quản văn bản đƣợc dễ dàng; – Thứ tƣ, về mặt văn hóa. Đảm bảo đƣợc tính thống nhất văn bản trong cả nƣớc và tiến tới tiêu chuẩn hóa và mẫu hóa văn bản trong cả nƣớc. 1.1.3.3. Yêu cầu ngôn ngữ của văn bản hành chính Ngôn ngữ là yếu tố có tầm ảnh hƣởng trực tiếp nhất và quan trọng nhất đối với chất lƣợng thông tin mà văn bản đề cập. Muốn cho nội dung thông tin trong văn bản đến các đối tƣợng quản lý đƣợc chính xác và trọn vẹn theo mục đích mà cơ quan tổ chức duy trì, cần phải đảm bảo sự chuẩn xác, phù hợp của các đơn vị ngôn ngữ đƣợc sử dụng. Mặt khác, cách xử lý ngôn ngữ trong văn bản cũng chính là một trong những tiêu chí đánh giá năng lực cán bộ của mỗi cơ quan, tổ chức cũng nhƣ

30. 21 mức độ quan tâm của lãnh đạo cơ quan, tổ chức đối với mảng công tác hết sức quan trọng này. Vì vậy, muốn thể hiện đƣợc văn hóa của cơ quan, tổ chức ở mức độ tích cực, cũng cần phải đảm bảo hệ thống văn bản của cơ quan tổ chức đƣợc xây dựng với văn phong thích hợp, trong đó các đơn vị ngôn ngữ đảm bảo đƣợc sử dụng theo đúng yêu cầu. Văn bản quản lý nhà nƣớc đƣợc viết theo phong cách ngôn ngữ hành chính. Phong cách ngôn ngữ hành chính có những đặc điểm sau: tính chính xác; tính khách quan; tính đại chúng; tính khuôn mẫu; tính nghiêm trang, lịch sự. Để đảm bảo các đặc trƣng này, việc sử dụng các đơn vị ngôn ngữ cụ thể trong văn bản cần phải đảm bảo sự chuẩn xác, phù hợp với đặc điểm nội dung và mục đích ban hành văn bản. Cụ thể là: a) Về sử dụng từ ngữ – Dùng từ chuẩn xác về nghĩa, đơn nghĩa; không dùng từ đa nghĩa làm phát sinh những cách hiểu mơ hồ, có thể bị xuyên tạc hoặc lợi dụng làm tổn hại quyền lợi của Nhà nƣớc và nhân dân. – Phải lựa chọn và sử dụng từ ngữ mang sắc thái trung tính, nghiêm trang, không kèm theo sắc thái biểu cảm. – Dùng từ ngữ theo chuẩn phổ thông, không dùng từ ngữ địa phƣơng, trừ trƣờng hợp sử dụng từ ngữ địa phƣơng để chỉ những sự vật, hiện tƣợng mà chỉ địa phƣơng mới có hoặc những từ ngữ có nguồn gốc địa phƣơng đã trở thành từ ngữ phổ thông. – Sử dụng chính xác và thích hợp hệ thống từ Hán – Việt: tận dụng những sắc thái ý nghĩa đặc biệt của từ Hán – Việt phù hợp với phong cách văn bản quản lý mà không nên lạm dụng từ Hán – Việt, đặc biệt trong những trƣờng hợp chƣa hiểu một cách thấu đáo nghĩa của từ. – Sử dụng các từ có nguồn gốc nƣớc ngoài một cách phù hợp theo quy định về cách thức sử dụng mà cơ quan có thẩm quyền đề ra.

31. 22 – Không nên lạm dụng thuật ngữ chuyên môn. Nếu trong văn bản buộc phải sử dụng từ chuyên môn sâu thì phải giải thích, hoặc phải định nghĩa các thuật ngữ không quen thuộc đối với đa số các tầng lớp nhân dân. – Hạn chế đến mức tối đa các từ viết tắt để đảm bảo tính minh bạch, rõ ràng, nghiêm túc của văn bản. Đối với các trƣờng hợp cần viết tắt để tránh dài dòng, cần phải viết đầy đủ ở lần sử dụng đầu tiên, sau đó mở ngoặc đơn để chú giải. – Tránh sử dụng từ ngữ hoa mỹ, khoa trƣơng, thành ngữ, tục ngữ; không dùng từ lóng, từ thông tục; không sử dụng khẩu ngữ. – Sử dụng từ đúng chính tả. b) Về viết câu Câu là đơn vị cơ sở tạo nên các đoạn văn trong văn bản, cũng tức là đơn vị tạo nghĩa cơ bản của văn bản. Trong văn bản quản lý nhà nƣớc, câu vừa phải đảm bảo yêu cầu chung theo đúng chức năng ngữ pháp tiếng Việt, vừa phải đảm bảo đạt các yêu cầu trong khuôn khổ phong cách ngôn ngữ hành chính. Cụ thể là: – Câu phải đƣợc viết đúng quy tắc ngữ pháp tiếng Việt, tức là có đầy đủ hai thành phần nòng cốt: chủ ngữ và vị ngữ. Trong một số trƣờng hợp nhất định, cũng có thể sử dụng câu đặc biệt nhƣng không nên lạm dụng và phải tuân theo quy tắc của việc sử dụng loại câu này. – Nên sử dụng câu tƣờng thuật là chủ yếu, không dùng câu hỏi, câu cảm thán hoặc kiểu câu cầu khiến có chứa các từ hàm nghĩa cầu khiến trực tiếp nhƣ “hãy”, “đừng”, “chớ”, “đi”, “nào”, “hè”. Trƣờng hợp cần nêu câu hỏi, tránh dùng câu có từ để hỏi trực tiếp mà chuyển dạng câu từ câu hỏi sang câu trần thuật để đảm bảo tính lịch sự, nhã nhặn của văn phong hành chính. – Diễn đạt câu chính xác, rõ ràng, mạch lạc.

34. 25 điện thoại, thông tin điện tử …nhƣng trong quản lý, truyền tải thông tin bằng văn bản là hiệu quả nhất. Bởi vì trong thực tế quản lý nếu chỉ truyền tải thông tin bằng điện thoại, thông tin điện tử thì chƣa đủ cơ sở pháp lý để kiểm chứng việc thực thi của các cơ quan, tổ chức, đơn vị. Thứ ba, là phương tiện kiểm tra, theo dõi hoạt động của các cơ quan, tổ chức: Trong hoạt động quản lý, kiểm tra có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, không có kiểm tra, theo dõi thƣờng xuyên, thiết thực và chặt chẽ thì mọi nghị quyết, chỉ thị, quyết định quản lý có thể chỉ là lý thuyết suông. Kiểm tra không chỉ nhằm phát hiện ra những sai phạm để đƣa ra biện pháp xử lý mà còn nhằm kịp thời phát hiện ra sự không hợp lý giữa kế hoạch với điều kiện thực hiện của thực tiễn để từ đó có những điều chỉnh trong kế hoạch thực hiện nhằm thực hiện kế hoạch hóa trong thực tiễn với hiệu quả cao nhất. Hơn nữa, kiểm tra còn là một trong những biện pháp để nâng cao trình độ tổ chức trong công tác của các cơ quan, tổ chức nói chung và tại UBND tỉnh nói riêng. Phƣơng tiện này muốn phát huy hết vai trò thì cần phải đƣợc tổ chức một cách khoa học, việc kiểm tra văn bản phải đƣợc tiến hành một cách chọn lọc: văn bản nào cần đƣợc kiểm tra, văn bản nào phản ánh hoạt động chủ yếu của cơ quan, đơn vị. Đối với hoạt động của UBND cấp tỉnh, văn bản phản ánh rất rõ quan hệ nhƣ thế nào với nhân dân khi thi hành các nhiệm vụ đƣợc giao. Văn bản chính là tấm gƣơng phản chiếu trung thành thái độ của ngƣời thừa hành công vụ đại điện cơ quan nhà nƣớc trƣớc những yêu cầu của quần chúng. Qua văn bản quản lý nhà nƣớc có thể tổ chức kiểm tra việc chấp hành kỷ luật quản lý nhà nƣớc trong các cơ quan, kiểm tra kỷ luật lao động, pháp chế, trật tự xã hội của cán bộ, công chức nhà nƣớc. Thứ tư, là công cụ quan trọng để xây dựng hệ thống văn bản quản lý hành chính nhà nước: Với mục tiêu xây dựng nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nƣớc ta hiện nay, hệ thống văn bản pháp luật ngày càng đƣợc chú trọng và hoàn thiện nhằm tạo ra một hành lang pháp lý chặt chẽ, khoa học cho mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội.

36. 27 quy định của Chủ tịch UBND tỉnh; Chánh Văn phòng UBND tỉnh có thể uỷ quyền cho Phó Chánh Văn phòng UBND tỉnh ký thay các văn bản theo phân công nhiệm vụ của Văn phòng UBND tỉnh. 1.2.3. Hệ thống văn bản hành chính tại UBND cấp tỉnh Sơ đồ 2.1 Hệ thống văn bản của UBND tỉnh Thanh Hóa HỆ THỐNG VĂN BẢN HÀNH CHÍNH TẠI UBND TỈNH VĂN BẢN CÁ BIỆT VĂN BẢN HÀNH CHÍNH THÔNG THƢỜNG QUYẾT ĐỊNH CÁ BIỆT CÔNG VĂN THÔNG BÁO BÁO CÁO TỞ TRÌNH KẾ HOẠCH GIẤY MỜI PHIẾU CHUYỂN CHƢƠNG TRÌNH PHIẾU GỬI …… CHỈ THỊ

42. 33 Nhƣ vậy, Quy trình ban hành văn bản hành chính tại UBND cấp tỉnh nói chung bao gồm bốn bƣớc. Các bƣớc này có điểm trùng với các bƣớc trong quy trình chung ban hành văn bản. Tuy nhiên, tại UBND cấp tỉnh đối với một số loại văn bản, hồ sơ công việc của các sở, ban, ngành gửi tại bộ phận một cửa có gửi kèm dự thảo văn bản đóng dấu treo của các sở, ban, ngành trong hồ sơ đã thẩm định, sau khi thẩm định xong, các đơn vị sẽ chuyển bản dự thảo qua mail cho chuyên viên nhận hồ sơ. Chính vì vậy, đối với một số loại văn bản, hồ sơ tại UBND tỉnh, chuyên viên tham mƣu các phòng chuyên môn đã có sẵn dự thảo, chuyên viên có nhiệm vụ kiểm tra nội dung của bản dự thảo đó, nếu nội dung và hình thức đã đúng theo các quy định pháp luật hiện hành của pháp luật, chuyên viên sẽ tiếp tục thực hiện các bƣớc tiếp theo của quy trình ban hành văn bản hành chính. Nhƣ vậy, trong một số trƣờng hợp, tại UBND tỉnh gồm các bƣớc sau: Bƣớc 1: Chuẩn bị và dự thảo văn bản (hoặc kiểm tra nội dung dự thảo) Bƣớc 2: Trình duyệt dự thảo, ký nháy và ký ban hành Bƣớc 3: Phát hành văn bản và nhân bản Bƣớc 4: Chọn văn bản đăng lên trang Quy phạm pháp luật của tỉnh, gửi và lƣu văn bản 1.3.3. Sự cần thiết phải xây dựng và tuân thủ quy trình ban hành văn bản hành chính tại UBND cấp tỉnh Văn bản quản lý nhà nƣớc đƣợc hình thành trong hoạt động quản lý và lãnh đạo nói chung, là phƣơng tiện quan trọng để ghi lại và truyền đạt các quyết định quản lý, là hình thức cụ thể hóa pháp luật, phƣơng tiện điều chỉnh những quan hệ xã hội thuộc phạm vi quản lý của nhà nƣớc. Có thể nói, văn bản là tấm gƣơng phản ánh lề lối của từng thời kỳ, là một biểu hiện của “văn minh quản lý”, là thƣớc đo trình độ quản lý của giai đoạn phát triển lịch sử. Nhận thức rõ điều này, nhiều năm qua công tác soạn thảo văn bản đã đƣợc quan tâm đúng mức và trở thành một môn không thể thiếu trong mọi loại hình học tập.

43. 34 Tại UBND cấp tỉnh, hàng năm đều phải đƣa ra các chiến lƣợc phát triển kinh tế – xã hội, chính vì vậy, đòi hỏi nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nƣớc, thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nƣớc, giải quyết đúng đắn các mối quan hệ giữa nhà nƣớc với thị trƣờng và các mối quan hệ khác. Theo đó, hàng loạt các công việc dài hạn, ngắn hạn cần phải đƣa ra các kế hoạch, phƣơng án và những công việc trƣớc mắt đều phải thể hiện trên công cụ không thể thiếu đó là công tác văn bản. Vai trò của văn bản trong quản lý nhà nƣớc chiếm một vị trí quan trọng. Tuy nhiên, nếu nhƣ chúng ta không tuân thủ theo quy trình ban hành văn bản thì văn bản đƣợc ban hành liệu có đảm bảo nội dung, hình thức nhƣ chúng ta mong muốn? Nhƣ chúng ta biết, trên thực tế nếu tuân thủ quy trình ban hành văn bản hành chính sẽ giúp cho cơ quan, đơn vị đạt đƣợc chất lƣợng ban hành văn bản hành chính, văn bản hành chính đƣợc ban hành sẽ không sai sót về thể thức, nội dung và kỹ thuật trình bày, tạo hiệu lực, hiệu quả cao trong công tác quản lý nhà nƣớc tại UBND cấp tỉnh. Hơn nữa, nếu tuân thủ quy trình thống nhất, văn bản hành chính ban hành đạt đƣợc các yêu cầu về kỹ thuật soạn thảo văn bản, nhất là trong những năm qua với sự phát triển mạnh mẽ tại một số địa phƣơng, văn bản hành chính nhà nƣớc đƣợc ban hành ngày càng nhiều. Một trong những nhiệm vụ quan trọng của UBND cấp tỉnh là làm sao văn bản hành chính đƣợc ban hành có chất lƣợng, có giá trị thực tế, không mang tính hình thức bởi vì chỉ khi các văn bản hành chính có hiệu lực pháp lý thì mới đảm bảo quyền uy của cơ quan nhà nƣớc ở địa phƣơng. Để đảm bảo văn bản hành chính ban hành có hiệu lực, hiệu quả thì UBND cấp tỉnh cần quan tâm tới quy trình ban hành văn bản hành chính nhà nƣớc, xây dựng quy trình chặt chẽ, thực hiện đầy đủ các quy trình. Chính vì vậy, nếu UBND cấp tỉnh đƣa ra một quy trình ban hành văn bản hành chính thống nhất, tuân thủ theo các quy định hiện hành của pháp luật sẽ

44. 35 đạt đƣợc hiệu quả cao trong trong công tác soạn thảo, ban hành và quản lý văn bản, từ đó nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong quản lý tại UBND cấp tỉnh, góp phần cải cách hành chính, đặc biệt là thủ tục hành chính đƣợc nâng lên rõ rệt, thu hút đƣợc nhiều nhà đầu tƣ lớn, đem lại sự hài lòng cho ngƣời dân và doanh nghiệp. 1.4 Các yếu tố ảnh hƣởng tới việc đảm bảo thực hiện quy trình ban hành văn bản hành chính 1.4.1 Các quy chế, quy định Nhƣ chúng ta biết, hệ thống pháp luật là cơ sở pháp lý cho hoạt động quản lý tại UBND cấp tỉnh. Chính vì vậy, trong quy trình ban hành văn bản hành chính không thể thiếu các quy chế, quy định. Trƣờng hợp các quy chế, quy định về xây dựng, ban hành văn bản hành chính của UBND cấp tỉnh không đủ để điều chỉnh các quan hệ, các điều kiện phát sinh, không thống nhất theo quy trình ban hành văn bản nhất định thì sẽ hạn chế hiệu quả, hiệu lực của hoạt động xây dựng, ban hành văn bản hành chính tại UBND cấp tỉnh. Một hệ thống pháp luật đầy đủ trong hoạt động xây dựng, ban hành văn bản hành chính của UBND cấp tỉnh sẽ là cơ sở pháp lý đảm bảo cho hoạt động quản lý tại UBND cấp tỉnh đạt hiệu quả cao. 1.4.2 Đội ngũ cán bộ, công chức Con ngƣời là chủ thể của xã hội, mọi hoạt động trong xã hội xét đến cùng đều ảnh hƣởng tới mục tiêu phục vụ cho lợi ích của con ngƣời. Do vậy, con ngƣời là mục tiêu của mọi quá trình trong sự tồn tại và phát triển của xã hội loài ngƣời. Đồng thời, con ngƣời cũng là động lực, yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội. Con ngƣời trong tổ chức là yếu tố cốt lõi tạo nên sự thành công của bất kì tổ chức nào, cho dù đó là tổ chức tƣ nhân hay tổ chức nhà nƣớc. Một tổ chức nhà nƣớc nếu không có nguồn nhân lực có chất lƣợng sẽ khó có thể thực hiện đƣợc mục tiêu mà Nhà nƣớc đặt ra cho tổ chức và do vậy, không thể phục vụ và đáp ứng đƣợc nhu cầu của công dân và tổ chức trong xã hội.

45. 36 Trong bộ máy hành chính nhà nƣớc, nguồn nhân lực là bộ phận chủ lực thực hiện chức năng quản lý thống nhất các mặt đời sống kinh tế – xã hội, an ninh – quốc phòng của địa phƣơng. Đối với UBND cấp tỉnh, đội ngũ cán bộ, công chức trực tiếp làm công tác tham mƣu đòi hỏi phải nhạy bén, linh hoạt để phát hiện những vấn đề then chốt một cách nhanh chóng, đúng sát với tình hình thực tiễn tại địa phƣơng, biết tổng kết thực tiễn và đúc kết thành lý luận. Để tham mƣu văn bản hành chính sát, đúng thì ngoài việc nắm vững hệ thống pháp luật về chuyên môn, nghiệp vụ, đòi hỏi cán bộ, công chức còn phải nắm vững công tác soạn thảo, ban hành văn bản. Trên thực tế, rất nhiều cán bộ, công chức chƣa quan tâm, coi trọng công tác soạn thảo, ban hành văn bản nên dẫn đến trong hoạt động quản lý kém hiệu quả do từ ngữ, văn phong hành chính chƣa chính xác, nội dung chƣa sát đúng với thực tế, thể thức văn bản chƣa đúng mẫu, tên loại văn bản chƣa phù hợp với nội dung. Nói chung, cán bộ, công chức có ảnh hƣởng to lớn bởi chính họ là những ngƣời trực tiếp thực hiện quy trình ban hành văn bản hành chính. Vì vậy, năng lực, tinh thần làm việc của đội ngũ cán bộ, công chức này ảnh hƣởng tới chất lƣợng trong công tác ban hành văn bản hành chính tại UBND cấp tỉnh. 1.4.3 Bộ máy làm việc Một yếu tố quan trọng để tạo nên hiệu quả trong công việc quản lý đó chính là bộ máy làm việc. Trong bất kì cơ quan, tổ chức nào, bộ máy làm việc đƣợc sắp xếp khoa học, bố trí đúng năng lực, phân công công việc hợp lý theo đúng chuyên môn, nghiệp vụ sẽ mang lại hiệu quả cao trong công tác. Nếu bộ máy làm việc không tinh gọn, không đúng chuyên môn, nghiệp vụ, sắp xếp vị trí không đúng chuyên ngành đƣợc đào tạo thì cũng sẽ ảnh hƣởng không nhỏ tới hiệu quả trong quản lý, lãnh đạo. Chính vì vậy, đây là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hƣởng tới việc thực hiện quy trình ban hành văn bản hành chính tại UBND cấp tỉnh.

46. 37 1.4.4 Thiết bị, cơ sở vật chất Nhƣ chúng ta biết, trong thời đại bùng nổ thông tin, việc đầu tƣ nâng cấp cơ sở vật chất, cung cấp trang thiết bị hiện đại, đúng tiêu chuẩn phục vụ cho hoạt động của cơ quan, cải thiện môi trƣờng làm việc cho cán bộ, công chức là một trong những yếu tố quan trọng. Thực tế cho thấy, các cán bộ, công chức trong cơ quan, tổ chức sẽ không thể soạn thảo, ban hành văn bản nếu nhƣ thiếu công cụ hỗ trợ hiện đại nhƣ: máy tính, máy in đảm bảo cho hoạt động của họ. Nếu nhƣ cơ quan không đầu tƣ, không cải thiện môi trƣờng làm việc thì hiệu quả làm việc của cán bộ, công chức sẽ giảm sút, hiệu quả không cao, không đáp ứng đƣợc yêu cầu trong công tác lãnh đạo, quản lý. Chính vì vậy, theo tác giả đây là một yếu tố cũng rất quan trọng ảnh hƣởng tới việc thực hiện quy trình ban hành văn bản hành chính tại UBND cấp tỉnh. 1.4.5 Ứng dụng công nghệ thông tin Để thực hiện tốt quy trình soạn thảo, ban hành văn bản, quản lý văn bản thì một trong những yếu tố cũng vô cùng quan trong đó chính là công nghệ thông tin. Thực tế một số cơ quan cho thấy, việc áp dụng phần mềm vào quản lý văn bản, hồ sơ công việc đã mang lại nhiều hiệu quả trong công tác quản lý, soạn thảo văn bản, thậm chí một số cơ quan còn áp dụng rất tốt trong quy trình ban hành văn bản, mẫu hóa và đƣa vào phần mềm dùng chung cho cán bộ, công chức sử dụng, phục vụ tốt cho hoạt động này. Chính vì vậy, đây đƣợc coi là một nhiệm vụ hàng đầu để cải tiến quy trình, tiết kiệm đƣợc thời gian, công sức và đặc biệt là cải cách thủ tục hành chính, thực hiện mục tiêu cải cách hành chính tại UBND cấp tỉnh.

47. 38 1.4.6 Áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn Quốc gia TCVN ISO 9001:2008 Để thực hiện tốt quy trình ban hành văn bản tại các cơ quan, đơn vị thì việc áp dụng hệ thống quản lý chất lƣợng theo tiêu chuẩn Quốc gia TCVN ISO 9001:2008 là một yếu tố không thể thiếu bởi vì nếu cơ quan, đơn vị áp dụng hệ thống này sẽ bảo đảm môi trƣờng làm việc khoa học, quy định rõ trách nhiệm của từng cá nhân, tổ chức trong việc thực hiện quy trình trong việc giải quyết toàn bộ công việc của cơ quan, đơn vị theo chức năng, nhiệm vụ đƣợc giao. Tuy nhiên, thực trạng hiện nay nhiều cơ quan, đơn vị đƣợc công nhận đã thực hiện quy trình theo tiêu chuẩn Quốc gia TCVN ISO 9001:2008 nhƣng chỉ trên văn bản, giấy tờ, để đảm bảo thủ tục và các quy định theo yêu cầu của cơ quan, đơn vị cấp trên. Trên thực tế, việc thực hiện theo quy trình chuẩn vẫn chƣa đƣợc lãnh đạo quan tâm thực hiện. Chính vì vậy, để áp dụng hệ thống quản lý chất lƣợng theo tiêu chuẩn Quốc gia TCVN ISO 9001:2008 đòi hỏi các cấp lãnh đạo, từng cơ quan, đơn vị phải quyết liệt, thay đổi quy trình cũ để áp dụng quy trình mới đảm bảo hơn, góp phần quan trọng trong việc thực hiện quy trình soạn thảo, ban hành văn bản hành chính tại các cơ quan, đơn vị.

48. 39 Tiểu kết Chƣơng 1 Các cơ quan quản lý nhà nƣớc ở địa phƣơng có vai trò đặc biệt quan trọng trong cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nƣớc. Do đó, mọi chủ trƣơng, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nƣớc có đi vào cuộc sống hay không, hiệu lực, hiệu quả trên thực tế của cơ quan QLNN ở địa phƣơng nhƣ thế nào, một trong những hình thức hoạt động quan trọng và chủ yếu nhất của cơ quan QLNN ở địa phƣơng là ban hành các văn bản hành chính nhà nƣớc. Trong những năm gần đây, việc ban hành văn bản hành chính nhà nƣớc ở địa phƣơng đã từng bƣớc đi vào nền nếp, có tác dụng to lớn trong việc thực hiện các chủ trƣơng, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc, tăng cƣờng hiệu lực, hiệu quả, quản lý nhà nƣớc ở địa phƣơng. Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay, quy trình ban hành văn bản hành chính nhà nƣớc chƣa đƣợc thực hiện tốt nên việc ban hành các văn bản hành chính nhà nƣớc vẫn chƣa đạt đƣợc hiệu quả nhƣ mong muốn. Văn bản hành chính nhà nƣớc đƣợc hình thành trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định của pháp luật. Nó vừa là phƣơng tiện, vừa là sản phẩm của hoạt động QLNN của cơ quan nhà nƣớc đồng thời có vai trò, tác dụng giúp cho UBND cấp tỉnh quản lý xã hội địa phƣơng và điều hành công việc có hiệu quả. Trong chƣơng 1, tác giả đã nêu lý luận về khái niệm về văn bản và văn bản hành chính, vai trò của văn bản hành chính trong hoạt động quản lý nhà nƣớc tại UBND cấp tỉnh, các loại văn bản hành chính nhà nƣớc; đồng thời nêu rõ những yêu cầu về kỹ thuật soạn thảo văn bản hành chính; quy trình ban hành văn bản hành chính nói chung và quy trình ban hành văn bản hành chính tại UBND cấp tỉnh nói riêng; thẩm quyền ban hành văn bản hành chính và hệ thống các văn bản hành chính tại UBND cấp tỉnh; đồng thời tác giả nêu sự cần

49. 40 thiết ban hành quy trình ban hành văn bản hành chính; các yếu tố ảnh hƣởng tới việc thực hiện quy trình ban hành văn bản hành chính. Trên cơ sở lý luận về quy trình ban hành văn bản hành chính tại UBND cấp tỉnh, tác giả tiếp tục tìm hiểu thực trạng Quy trình ban hành văn bản hành chính tại Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa ở chƣơng 2.

Sự Cần Thiết Ban Hành Thông Tư Quy Định Quy Trình Trao Đổi, Lưu Trữ, Xử Lý Tài Liệu Điện Tử, Các Chức Năng Cơ Bản Của Hệ Thống Quản Lý Tài Liệu Điện Tử Trong Quá Trình Xử Lý Công Việc Của Các Cơ Quan, Tổ Chức

Báo Cáo Nghiên Cứu Khoa Học ‘giải Pháp Ứng Dụng Chữ Ký Điện Tử Trong Quá Trình Gửi Và Nhận Văn Bản’

Thí Điểm Gửi Nhận Văn Bản Điện Tử Có Ký Số Trong Nội Bộ Thay Văn Bản Giấy

Ninh Bình Đẩy Mạnh Thực Hiện Gửi Nhận Văn Bản Điện Tử

Chính Phủ Hướng Dẫn Triển Khai Hệ Thống Báo Cáo, Gửi Nhận Văn Bản Điện Tử

Soạn Văn Lớp 10 Bài Văn Bản Văn Học Ngắn Gọn Hay Nhất

9 Bài Phân Tích Bài Thơ Nhàn Của Nguyễn Bỉnh Khiêm Chọn Lọc

Phân Tích Bài Thơ Nhàn Của Nguyễn Bỉnh Khiêm Đạt 9 Điểm

Soạn Văn Lớp 10 Bài Tính Chuẩn Xác Hấp Dẫn Của Văn Bản Thuyết Minh Ngắn Gọn Hay Nhất

Tình Cảnh Lẻ Loi Của Người Chinh Phụ (Trích Chinh Phụ Ngâm)

Phân Tích Đoạn Trích “tình Cảnh Lẻ Loi Của Người Chinh Phụ” Của Đặng Trần Côn

Soạn văn lớp 10 bài Văn bản văn học ngắn gọn hay nhất : Câu 2 (trang 121 SGK Ngữ văn 10 tập 2) Vì sao nói: hiểu tầng ngôn từ mới là bước thứ nhất cần thiết để đi vào chiều sâu của văn bản văn học? Câu 3 (trang 121 SGK Ngữ văn 10 tập 2) Phân tích ý nghĩa một hình tượng mà anh (chị) yêu thích trong một bài thơ hoặc đoạn thơ ngắn.

Câu 1 (trang 121 SGK Ngữ văn 10 tập 2)

Hãy nêu những tiêu chí chủ yếu của văn bản văn học.

Câu 2 (trang 121 SGK Ngữ văn 10 tập 2)

Vì sao nói: hiểu tầng ngôn từ mới là bước thứ nhất cần thiết để đi vào chiều sâu của văn bản văn học?

Câu 3 (trang 121 SGK Ngữ văn 10 tập 2)

Phân tích ý nghĩa một hình tượng mà anh (chị) yêu thích trong một bài thơ hoặc đoạn thơ ngắn.

Câu 4 (trang 121 SGK Ngữ văn 10 tập 2)

Hàm nghĩa của văn bản văn học là gì? Cho ví dụ cụ thể.

Sách giải soạn văn lớp 10 bài Văn bản văn học

Trả lời câu 1 soạn văn bài Văn bản văn học trang 121

– Tiêu chí 1: Văn bản văn học còn gọi là văn bản nghệ thuật, văn bản văn chương

Văn bản văn học là văn bản nghệ thuật, văn bản văn chương, đi sâu vào phản ánh hiện thực khách quan, khám phá thế giới tình cảm tư tưởng thỏa mãn nhu cầu hướng thiện, thẩm mĩ

Tiêu chí 2: Ngôn từ nghệ thuật có tính hình tượng, thẩm mĩ cao, trau chuốt, biểu cảm, gợi cảm xúc, đa nghĩa

Tiêu chí 3: Mỗi văn bản đều có thể loại nhất định, theo quy ước, cách thức thể loại

Trả lời câu 2 soạn văn bài Văn bản văn học trang 121

Văn học được cấu tạo từ ngôn từ, ta cần hiểu rõ nghĩa của từ, từ nghĩa tường minh tới hàm ẩn, từ nghĩa đen tới nghĩa bóng để có thể đi vào chiều sâu của văn bản

– Vượt qua tầng ngôn từ, chúng ta đi sâu vào hình tượng, hàm nghĩa để hiểu văn bản văn học

+ Ba tầng văn bản văn học không tách rời, liên hệ mật thiết với nhau

– Ngôn từ hiển hiện rõ, tầng hàm nghĩa khó nắm bắt hơn, nhưng hàm nghĩa mới là phần thu hút người đọc, tác phẩm có giá trị nhờ tầng hàm nghĩa

– Người đọc muốn hiểu được tầng hàm nghĩa cần phải biết phân tích, khái quát, suy luận

Đọc văn bản hiểu được tầng hàm nghĩa, nhưng hiểu tầng ngôn từ là bước cần để khám phá chiều sâu văn bản

Trả lời câu 3 soạn văn bài Văn bản văn học trang 121

a, Học sinh muốn phân tích được, cần nắm hình tượng trong thơ, hiểu được ngôn từ, phân tích đặc điểm hình tượng, phân tích ý nghĩa hình tượng

b, Nên chọn hình tượng trong một bài thơ, đoạn thơ để phân tích đặc điểm hình tượng, ý nghĩa hình tượng đó

c,

Thân em vừa trắng lại vừa tròn

Bảy nổi ba chìm với nước non

Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn

Mà em vẫn giữ tấm lòng son

– Hình tượng chiếc bánh trôi nước ẩn dụ cho hình ảnh người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa, mang vẻ đẹp về ngoại hình và tâm hồn nhưng không được trân trọng

Trả lời câu 4 soạn văn bài Văn bản văn học trang 121

Hàm nghĩa của văn bản văn học là khả năng gợi ra nhiều lớp ý nghĩa tiềm tàng, ẩn kín văn bản văn học trong quá trình tiếp cận được người đọc dần nhận ra

c, Hàm nghĩa của văn bản không phải lúc nào cũng có thể hiểu đúng, hiểu đủ.

Ví dụ: Văn bản Làng: Chọn đề tài nói về người nông dân trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Người nông dân yêu làng, yêu nước, trung thành với kháng chiến, cách mạng

Bài thơ Đoàn thuyền đánh cá lấy nguồn cảm hứng từ tình yêu thiên nhiên, con người trong thời đại mới

– Truyện ngắn Bến quê chứa nhiều tầng hàm ý sâu xa, người ta mải mê đi tìm giá trị ảo tưởng trong khi giá trị quen thuộc, gần gũi thì bỏ qua để khi nhận ra thì đã muộn

Câu hỏi (trang 121 SGK Ngữ văn 10 tập 2)

Đọc các văn bản (SGK trang 121, 122) và thực hiện các yêu cầu nêu bên dưới.

Sách giải soạn văn lớp 10 bài Phần Luyện Tập

Trả lời câu soạn văn bài Phần Luyện Tập trang 121

Văn bản “Nơi dựa”

– Hai đoạn gần như đối xứng nhau về cấu trúc câu: Mở- Kết

– Hình tượng nhân vật:

+ Người mẹ trẻ: dựa vào đứa con chập chững biết đi

+ Anh bộ đội: dựa vào cụ già bước run rẩy không vững

→ Gợi suy ngẫm về “nơi dựa” chỗ dựa tinh thần, niềm vui, ý nghĩa cuộc sống

Bài “Thời gian”

+ Đoạn 1: Sức tàn phá của thời gian

+ Đoạn 2: Những giá trị bền vững tồn tại mãi với thời gian

– Thời gian trôi chảy từ từ, nhẹ, im, tưởng như yếu ớt “thời gian qua kẽ tay” thời gian “làm khô những chiếc lá”

+ “Chiếc lá” một hình ảnh mang ý nghĩa tượng trưng

+ Chiếc lá khô hay chính là cuộc đời không thể tránh khỏi vòng sinh diệt

– Kỉ niệm và những cuộc đời ngắn ngủi cũng bị rơi vào quên lãng

– Có những thứ còn tồn tại mãi với thời gian: câu thơ, bài hát

Đó là nghệ thuật khi đạt tới độ kết tinh xuất sắc tươi xanh mãi mãi, bất chấp thời gian

– Câu kết tạo bất ngờ: “Và đôi mắt em, như hai giếng nước”. “Hai giếng nước” chứa kỉ niệm, tình yêu, sức sống đối lập với hình ảnh “lòng giếng cạn” quên lãng thời gian

c, Qua văn bản “Thời gian” tác giả muốn thể hiện: thời gian có thể xóa đi tất cả, chỉ có văn học, tình yêu có sức sống lâu bền

Văn bản “Mình và ta”

– Văn bản là bài thơ tứ tuyệt của nhà thơ Chế Lan Viên trong tập Ta gửi cho mình. Bài thơ nói về lí luận thơ ca, nghệ thuật

– Hai câu thơ đầu thể hiện mối quan hệ của người đọc (mình) và nhà văn (ta). Trong quá trình sáng tạo, nhà văn luôn có sự đồng cảm với độc giả, ngược lại, độc giả có sự đồng cảm trong “sâu thẳm” với nhà văn.

– Hai câu tiếp sau là quan niệm của tác giả về văn bản văn học, tác phẩm văn học trong tâm trí người đọc.

– Nhà văn viết tác phẩm văn học, sáng tạo nghệ thuật theo những đặc trưng riêng. Những điều nhà văn muốn nói đều gửi gắm vào hình tượng nghệ thuật, chỉ có giá trị gợi mở.

– Người đọc cần suy ngẫm, tìm hiểu, phân tích để tìm ra ý nghĩa của văn bản.

– Hai câu cuối là quan niệm của Chế Lan Viên về văn bản văn học, tác phẩm trong tâm trí người đọc

– Quan niệm trên của Chế Lan Viên được phát biểu bằng tuyên ngôn, hình tượng thơ ca.

Tags: soạn văn lớp 10, soạn văn lớp 10 tập 2, giải ngữ văn lớp 10 tập 2, soạn văn lớp 10 bài Văn bản văn học ngắn gọn , soạn văn lớp 10 bài Văn bản văn học siêu ngắn

Giáo Án Bài Tóm Tắt Văn Bản Thuyết Minh

Tuần 25. Tóm Tắt Văn Bản Thuyết Minh

Soạn Văn Lớp 10 Bài Ra

Soạn Văn Lớp 10 Bài Tóm Tắt Văn Bản Thuyết Minh Ngắn Gọn Hay Nhất

Soạn Bài Tóm Tắt Văn Bản Thuyết Minh (Chi Tiết)

Soạn Văn Lớp 10 Bài Văn Bản Ngắn Gọn Hay Nhất

Giáo Án Ngữ Văn 10 Bài: Truyện An Dương Vương Và Mị Châu

Văn Bản Pháp Luật Thanh Hóa

Văn Bản Pháp Luật Về Pccc

Luật Phòng Cháy Chữa Cháy 2022

Đề Cương Ôn Tập Pháp Luật Cộng Đồng Asean

Soạn văn lớp 10 bài Văn bản ngắn gọn hay nhất : Câu 2: Mỗi văn bản trên đề cập vấn đề gì? Vấn đề đó được triển khai nhất quán trong toàn bộ văn bản như thế nào? Câu 3: Ở những văn bản có nhiều câu, nội dung của văn bản được triển khai mạch lạc qua từng câu, từng đoạn như thế nào? Đặc biệt ở văn bản 3, văn bản còn được tổ chứng theo kết cấu ba phần thế nào?

Đọc các văn bản (1), (2), (3) (SGK trang 23, 24) và trả lòi các câu hỏi bên dưới:

Câu 1. Mỗi văn bản trên được người nói, người viết tao ra trong loại hoạt động nào? Để đáp ứng nhu cầu gì? Dung lượng (số câu) ở mỗi văn bản như thế nào?

Câu 2: Mỗi văn bản trên đề cập vấn đề gì? Vấn đề đó được triển khai nhất quán trong toàn bộ văn bản như thế nào?

Câu 3: Ở những văn bản có nhiều câu, nội dung của văn bản được triển khai mạch lạc qua từng câu, từng đoạn như thế nào? Đặc biệt ở văn bản 3, văn bản còn được tổ chứng theo kết cấu ba phần thế nào?

Câu 4: Về hình thức, văn bản có dấu hiệu mở đầu và kết thúc như thế nào?

Câu 5: Mỗi văn bản trên được tao ra nhằm mục đích gì?

Sách giải soạn văn lớp 10 bài Khái niệm ,đặc điểm

Cả 3 văn bản được tạo ra trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ.

Văn bản (1) : trao đổi kinh nghiệm, gồm một câu.

Văn bản (2) : bày tỏ tâm tình, gồm nhiều câu, được viết bằng thơ.

Văn bản (3) : bày tỏ tâm tình, khơi gợi tình cảm, gồm nhiều câu, nhiều đoạn liên kết chặt chẽ với nhau, được viết bằng văn xuôi.

Vấn đề các văn bản đề câp:

+ Văn bản (1): tầm quan trọng của môi trường sống đối với việc hình thành nhân cách con người.

+ Văn bản (2): thân phận của người phụ nữ trong xã hội cũ

+ Văn bản (3): Kêu gọi mọi người đứng lên kháng chiến chống Pháp.

Các vấn đề này đều được triển khai rõ ràng, nhất quán trong từng văn bản. Văn bản (2) và (3) có nhiều câu nhưng được liên kết với nhau một cách chặt chẽ (bằng ý nghĩa hoặc bằng các liên từ).

Tính mạch lạc của các văn bản:

– Văn bản (2):

+ Mỗi cặp câu lục bát với sự so sánh, ví von, tạo thành một ý riêng

+ Các ý được sắp xếp theo trình tự các sự việc được diễn ra.

+ Hai cặp câu thơ liên kết với nhau cả bằng hình thức (phép lặp từ “thân em”) và nội dung ý nghĩa.

– Văn bản (3):

+ Hình thức kết cấu 3 phần : Mở bài, thân bài và kết bài

+ Triển khai các vấn đề có trình tự mạch lạc, rõ ràng :

Mở bài: tiêu đề và câu kêu gọi : “Hỡi đồng bào toàn quốc!” ⇒ đưa vấn đề

Thân bài: tiếp theo đến “… thắng lợi nhất định về dân tộc ta!” ⇒ triển khai vấn đề

Kết bài: Phần còn lại ⇒ kết thúc, khẳng định lại vấn đề

Văn bản (3) là một văn bản chính luận được trình bày dưới hình thức của một “lời kêu gọi”. Dấu hiệu mở đầu và kết thúc của văn bản này là:

– Mở bài: tiêu đề và câu kêu gọi : “Hỡi đồng bào toàn quốc!” ⇒ dẫn dắt người đọc vào phần nội dung chính của bài, để gây sự chú ý và tạo ra sự “đồng cảm” cho cuộc giao tiếp.

– Kết bài: 2 câu cuối ⇒ đưa ra lời kêu gọi, câu khẩu hiệu dõng dạc, đanh thép khích lệ ý chí và lòng yêu nước của nhân dân cả nước.

Mục đích của việc tạo lập của các văn bản :

+ Văn bản (1) : cung cấp kinh nghiệm sống cho người đọc (tầm quan trọng của môi trường sống đến việc hình thành nhân cách con người).

+ Văn bản (2) : Thân phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến (họ không tự quyết định được thân phận và cuộc sống tương lai của mình mà phải phụ thuộc vào người đàn ông và sự rủi may)

+ Văn bản (3) : Kêu gọi toàn dân đứng lên kháng chiến, chống lại cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ hai của thực dân Pháp.

1. So sánh các văn bản 1, 2 với văn bản 3 (ở mục I) về các phương diện sau:

– Vấn đề được đề cập đến trong mỗi văn bản là vấn đề gì? Thuộc lĩnh vực nào trong cuộc sống?

– Từ ngữ trong mỗi văn bản thuộc loại từ nào?

– Cách thức thể hiện nộid ung như thế nào?

2. So sánh văn bản (2), (3) với một bài học thuộc môn khoa học khác (văn bản 4) và một đơn xin nghỉ hoc (5). Rút ra nhận xét.

Sách giải soạn văn lớp 10 bài Các loại văn bản

So sánh các văn bản (1), (2) với văn bản (3) :

– Vấn đề :

+ Văn bản (1) nói đến một kinh nghiệm sống ⇒ Vấn đề xã hội

+ Văn bản (2) nói lên thân phận người phụ nữ trong xã hội cũ ⇒ Vấn đề xã hội

+ Văn bản (3) là lời kêu gọi toàn quốc đoàn kết và quyết tâm kháng chiến chống Pháp ⇒ vấn đề chính trị.

– Từ ngữ :

+ Văn bản (1) và (2) : có nhiều các từ ngữ sinh hoạt gần gũi với lời ăn tiếng nối hằng ngày (mực, đèn, thân em, mưa sa, ruộng cày…).

– Cách thức thể hiện nội dung :

+ Văn bản (1) và (2) : thể hiện nội dung bằng những hình ảnh giàu tính hình tượng.

+ Văn bản (3) : chủ yếu dùng lí lẽ và lập luận để triển khai nội dung, Nội dung bài bao gồm nhiều nội dung nhỏ được liên kết với nhau.

Từ những phân tích trên, có thể khẳng định: văn bản (1) và (2) thuộc phong cách ngôn ngữ nghệ thuật, văn bản (3) thuộc phong cách ngôn ngữ chính luận.

So sánh văn bản (2), (3) của mục I với các loại văn bản khác :

a) Phạm vi sử dụng :

– Văn bản (2) dùng trong lĩnh vực giao tiếp nghệ thuật.

– Văn bản (3) dùng trong lĩnh vực giao tiếp về chính trị.

– Các bài học môn Toán, Vật lí, Hoá học, Sinh học, Lịch sử, Địa lí,… trong SGK dùng trong lĩnh vực giao tiếp khoa học.

– Đơn xin nghỉ học, giấy khai sinh dùng trong giao tiếp hành chính.

b) Mục đích giao tiếp cơ bản :

– Văn bản (2) : bộc lộ cảm xúc.

– Văn bản (3) : kêu gọi toàn dân đứng lên kháng chiến chống Pháp.

– Các văn bản trong SGK: truyền tải các kiến thức khoa học ở các lĩnh vực toàn diện trong cuộc sống như Toán, Vật lí, Hoá học, Sinh học, …

c) Lớp từ ngữ riêng :

– Văn bản (2) dùng các từ ngữ gần với ngôn ngữ sinh hoạt, giàu hình ảnh, cảm xúc và liên tưởng nghệ thuật.

– Văn bản (3) dùng nhiều từ ngữ chính trị, quân sự.

– Các văn bản trong SGK dùng nhiều từ ngữ, thuật ngữ thuộc các chuyên ngành khoa học riêng biệt.

– Văn bản đơn từ hoặc giấy khai sinh dùng nhiều từ ngữ hành chính trang trọng, đúng khuôn mẫu.

d) Cách kết cấu và trình bày ở mỗi loại văn bản:

– Văn bản (2) sử dụng thể thơ lục bát, có kết cấu của ca dao, dung lượng ngắn.

– Văn bản (3) có kết cấu ba phần rõ ràng, mạch lạc.

– Mỗi văn bản trong SGK cũng có kết cấu rõ ràng, chặt chẽ với các phần, các mục…

– Đơn và giấy khai sinh, kết cấu và cách trình bày đều đã có khuôn mẫu chung.

Tags: soạn văn lớp 10, soạn văn lớp 10 tập 1, giải ngữ văn lớp 10 tập 1, soạn văn lớp 10 bài Văn bản ngắn gọn , soạn văn lớp 10 bài Văn bản siêu ngắn

Soạn Bài Ôn Tập Phần Tập Làm Văn (Tiếp Theo)

Soạn Văn 10: Văn Bản (Tiếp Theo)

Soạn Bài Các Phương Châm Hội Thoại (Tiếp Theo)

Hướng Dẫn Phân Tích Và Đọc Hiểu Văn Bản ( Tiếp Theo)

Soạn Bài Hoạt Động Giao Tiếp Bằng Ngôn Ngữ (Tiếp Theo)

13 Văn Bản Hay Nhất Của Đức Phanxicô (P1)

Cách Mở File Word Bị Khóa Trong Office 2013

Khắc Phục Lỗi Word 2010 Bị Khóa Không Đánh Được Chữ

Bôi Đen Nhanh Văn Bản Bằng Bàn Phím Trong Word, Excel

Cách Đóng Khung Văn Bản Trong Word 2022, 2022 2010, 2013

Cách Đóng Khung Trong Word Từ Phiên Bản 2007 Đến 2022

“EM CON Ở ĐÂU”? Lampedusa, Ý

Ngày thứ hai mùng 8 tháng 7 năm 2013, Đức Giáo Hoàng đến Lampedusa, một hòn đảo của nước Ý. Nơi đó đã đón nhận hàng ngàn di dân trôi nổi trên biển, qua những lần vượt biển mà hàng trăm người đã phải chết. Ngài đã cử hành một phụng vụ thánh thể “hoán cải” và trong bài giảng, Đức Thánh Cha đã tố cáo “sự toàn cầu hóa của tính vô cảm”, đồng thời nói lên lòng kính trọng đối với những dân cư thành Lampedusa, những tổ chức, hiệp hội… đã quan tâm đến những di dân. Ngài kêu gọi sống tính trách nhiệm và hoán cải. “Có những di dân đã chết trên biển cả trong những chiếc tàu, thay vì là con đường đi đến niềm hy vọng thì đã trở thành con đường dẫn họ tới cái chết”, câu nói của ĐTC lúc đó đã được báo chí đưa lên hàng đầu.

Nhưng trước tiên, tôi muốn nói một lời cảm ơn chân thành và khuyến khích với các đồng bào, anh chị em ở Lampedusa và Linosa, với những hiệp hội, với những tình nguyện viên, lực lượng an ninh… Các anh chị là một thực tại bé nhỏ song đã đưa ra một gương dũng cảm về liên đới ! Xin cảm ơn Tổng Giám mục Francesco Montenegro về sự giúp đỡ của ngài, về công trình và mục vụ gần gũi của ngài. Tôi xin thân thương chào thị trưởng, bà Giusi Nicolini, cảm ơn bà nhiều về tất cả những gì bà đã và đang làm. Tôi cũng ước muốn trở về trong tâm trí tôi đối với những người di dân Hồi giáo thân yêu mà chiều hôm nay bắt đầu tháng chay Rahmadan với lời chúc thu lượm được nhiều hoa quả thiêng liêng. Giáo hội gần gũi với các vị trong việc tìm kiếm một cuộc sống xứng đáng hơn cho quý vị và gia đình quý vị ! Sáng nay, dưới ánh sáng của lời Chúa mà chúng ta đã nghe, tôi ước mong đề nghị những lời chắc chắn sẽ khiêu khích lương tâm của tất cả chúng ta, thúc giục chúng ta phải suy nghĩ và thay đổi cụ thể một số thái độ…

Di dân Syria trên biển

“Adong, ngươi ở đâu?”. Đó là yêu cầu đầu tiên mà Thiên Chúa nói với con người sau khi phạm tội. Adong là một con người mất hướng đã đánh mất vị trí của mình trong vũ trụ bởi vì ông ta tưởng rằng mình sẽ đầy quyền lực để thống trị mọi chuyện và mọi loài, ước mong trở thành Thiên Chúa. Và sự hòa hợp đã bị rạn nứt, con người đã lầm lạc và ngày nay vẫn còn lặp lại trong tương giao với tha nhân, một tha nhân không còn là người anh em để yêu thương nhưng chỉ là người quấy rầy cuộc sống của tôi, sự tiện nghi của tôi. Và Thiên Chúa đặt câu hỏi thứ hai:

“Cain em ngươi ở đâu?”. Ước mơ trở thành lớn, vĩ đại như Thiên Chúa hay là trở thành chính Thiên Chúa, làm thành cả một chuỗi dài sai lầm, chuỗi dài đưa đến cái chết, vì đó là ngưỡng cửa làm đổ máu người anh em !

Hai câu hỏi đó của Thiên Chúa vẫn còn vang dội đến ngày hôm nay với tất cả sự mãnh liệt của nó ! Rất nhiều người trong chúng ta bao gồm cả chính tôi thực sự bị lạc hướng, chúng ta không còn lưu tâm đến thế giới mình đang sống, không băng bó cho nhau, không gìn giữ những gì Thiên Chúa đã tạo dựng cho chúng ta và cũng không còn có khả năng để gìn giữ chính mình cho nhau. Khi sự lạc hướng này mang những chiều kích của thế giới thì đương nhiên xảy đến những bi kịch như sự lạc hướng của Adong xưa.

“Em ngươi ở đâu?”

Đó là tiếng kêu trong máu mủ đã thấu đến ta, Thiên Chúa nói. Đây không phải là một câu hỏi cho người khác, nhưng là một câu hỏi cho chính tôi, cho chính anh, chị và tất cả mỗi người. Di dân là những người đang tìm kiếm để ra khỏi những tình huống khó khăn, để tìm gặp được chút ít thanh nhàn và bình an; họ tìm kiếm một vị trí tốt hơn cho chính họ và cho gia đình họ, nhưng họ lại tìm gặp cái chết. Biết bao nhiêu lần những người đó đã không tìm gặp được sự cảm thông, không tìm được sự đón tiếp, không thấy được tình liên đới. Và tiếng kêu của họ thấu Thiên Chúa ! Một lần nữa tôi xin cảm ơn những người dân thành Lampedusa về tính liên đới, vừa qua tôi đã lắng nghe được một trong những người anh em đó. Trước khi đến đây, họ đã ngang qua những người buôn lậu, những người khai thác sự nghèo khổ của người khác, những người mà sự nghèo khổ của người khác là một nguồn lợi ích cho chính mình. Thật là đau đớn thay ! Như vậy, một số người đã không đi đến được nơi mình ước mơ. “Em ngươi ở đâu?”, ai là người trách nhiệm về sự đổ máu này ? Trong văn chương Tây Ban Nha có một vở kịch của Lope de Vega giải thích lý do những người dân thành Fuente Ovejuna đã giết vị toàn quyền, bởi vì ông ta là một bạo chúa và bị giết bí mật. Khi vị thẩm phán của đức vua hỏi: “Ai đã giết vị toàn quyền?”, tất cả mọi người trả lời “Fuente Ovejuna thưa ngài”. Tất cả, mà không là ai ! Ngày hôm nay cũng vậy, câu hỏi này được lộ ra cách mãnh liệt: “Ai là người trách nhiệm về máu của những người anh chị em này?” – “Không ai”, bởi ai trong chúng ta cũng nói “không phải tôi, tôi không phải là người ở đây, là do những người khác, chắc chắn không phải tôi…”. Nhưng Thiên Chúa lại hỏi mỗi người trong chúng ta: “Máu của em ngươi ở đâu mà thấu đến ta?”.

ĐTC viếng thăm người tị nạn

Không một ai trong thế giới cảm thấy mình có trách nhiệm về điều đó; chúng ta đã đánh mất đi khái niệm về sự trách nhiệm huynh đệ; chúng ta đã rơi vào trong thái độ giả hình của vị tư tế và của người phục vụ bàn thờ mà Đức Giêsu đã nói trong dụ ngôn người Samaritano nhân hậu; chúng ta nhìn người anh em nửa sống nửa chết trên đường đi, có thể chúng ta nghĩ rằng: “Tội nghiệp thay”, và rồi chúng ta tiếp tục con đường của mình, vì “đó không phải là việc của tôi”; và từ đó chúng ta cảm thấy tâm hồn được bình an, chúng ta cảm thấy là chúng ta không sai luật. Nền văn hóa của sự sung túc, thoải mái làm cho chúng ta chỉ nghĩ đến chúng ta mà thôi, vô cảm với những tiếng kêu của người khác, sống trong những bong bóng xà phòng đẹp nhưng thực sự không có giá trị gì; chúng là ảo tưởng của sự phù phiếm, của sự tạm bợ, và vì ảo tưởng nên thờ ơ với người khác… Trong thế giới toàn cầu hóa này, chúng ta đã rơi vào sự toàn cầu hóa của vô cảm, quen với sự khổ đau của người khác, làm cho chúng ta trở thành “vô danh”, là những người trách nhiệm không tên, không dung mạo.

Ai trong chúng ta đã khóc “Adong, ngươi ở đâu?”, “Em của ngươi ở đâu?”, hai câu hỏi mà Thiên Chúa đặt cho lịch sử loài người ngay từ nguyên thủy, và ngày hôm nay, Ngài tiếp tục đặt cho mỗi người chúng ta. Tôi ước mong chúng ta phải tự đặt một câu hỏi thứ ba : “Ai trong chúng ta đã khóc cho sự kiện này và cho những sự kiện tương tự như vậy ? Ai đã khóc vì những người anh chị em mình đã chết? Ai đã khóc cho những người đi trong chiếc thuyền trên biển cả ? Ai đã khóc cho những người mẹ trẻ ôm con mình ? Ai đã khóc cho những người đàn ông khi họ ước muốn có được một cái gì đó để nâng đỡ chính gia đình của mình ?”. Chúng ta là một xã hội đã quên đi kinh nghiệm khóc, quên đi sự “cùng khổ đau” với người khác. Trong Phúc âm, chúng ta đã nghe tiếng hét, tiếng khóc, lời kêu van lâu dài: “Rasen khóc con cái mình… bởi chúng không còn nữa”, “Herode đã gieo rắc cái chết để bênh vực cho chính sự sung túc thoải mái của mình, để bảo vệ chính bong bóng xà phòng của mình”, và ngày hôm nay, điều đó vẫn còn tiếp diễn…

Chúng ta hãy nài xin Thiên Chúa bôi đi tất cả những gì vua Herode còn để lại trong tâm hồn chúng ta, cho chúng ta ơn biết khóc trên chính sự vô cảm của mình, biết khóc trên nỗi độc ác còn hiện diện trên thế giới, trong từng người vô tư, không lưu tâm đến những người đã lấy quyết định xã hội kinh tế mở ra con đường của những bi kịch như chúng ta đang thấy đây.

“Ai đã khóc ?” “Ai đã khóc ngày hôm nay trong thế giới ?”. Lạy Thiên Chúa, trong phụng vụ này là một phụng vụ hối cải, chúng con nài xin sự tha thứ về sự vô cảm của chúng con đối với nhiều người anh chị em của chúng con; lạy Cha, chúng con xin Cha tha thứ cho những người đã quen sống trong tiện nghi, đã khép lòng mình trong sự thoải mái sung túc của mình làm cho con tim của họ bị tê liệt, chúng con xin Cha tha thứ cho những người, qua các quyết định của họ trên bình diện quốc tế đã đưa đến những tình huống gây ra những bi kịch này. Xin Cha tha thứ ! Xin Cha cũng cho chúng con biết lắng nghe ngày hôm nay những câu hỏi của Cha : “Adong, ngươi ở đâu?” “Máu của anh em ngươi ở đâu ?”.

NT QUỲNH GIAO Fmm chuyển ngữ

Những Bài Văn Điểm 10 Chấn Động Mạng

13 Văn Bản Hay Nhất Của Đức Phanxicô (P3)

Soạn Bài Buổi Học Cuối Cùng (An

Tóm Tắt Bài Học Đường Đời Đầu Tiên Hay Nhất, Ngắn Nhất (4 Mẫu).

Tóm Tắt Buổi Học Cuối Cùng Hay Nhất, Ngắn Nhất (5 Mẫu).