Văn Bản Khoa Học Về Hiện Tượng Mưa / TOP #10 ❤️ Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 8/2022 ❣️ Top View | Bac.edu.vn

Soạn Bài Mưa (Trần Đăng Khoa)

Soạn Bài Mưa (Chi Tiết)

Soạn Bài Mưa Của Trần Đăng Khoa

Bài Thơ: Mưa (Trần Đăng Khoa)

Soạn Bài Mưa (Siêu Ngắn)

Soạn Bài Lớp 6: Mẹ Hiền Dạy Con

Soạn bài Mưa (Trần Đăng Khoa)

Câu 1 (trang 80 sgk ngữ văn 6 tập 2):

– Bài thơ tả cảnh cơn mưa rào mùa hạ ở vùng đồng bằng Bắc bộ, khi mưa thường có gió mạnh, sấm chớp.

– Bố cục bài thơ:

+ Phần 1 (Từ đầu đến ngọn mùng tơi nhảy múa): Khung cảnh trời sắp mưa

+ Phần 2 (tiếp đến cây lá hả hê): Khung cảnh khi mưa

+ Phần 3 ( Còn lại): Hình ảnh người nông dân trong mưa

Câu 2 (trang 80 sgk ngữ văn 6 tập 2):

Bài thơ được làm theo thể tự do, cách ngắt nhịp tự do, linh hoạt

– Nhịp 1, 2, 3, 4 và chủ yếu là nhịp 2

→ Tạo nhịp điệu nhanh, dồn dập, sự ngắt quãng phóng khoáng như những hạt mưa rơi tự do.

Câu 3 (trang 80 sgk ngữ văn 6 tập 2):

a, Tác giả quan sát và miêu tả sinh động trạng thái, hoạt động của cây cối, loài vật trước và trong cơn mưa:

– Các con vật trước cơn mưa: mối trẻ, mối già bay, gà con ẩn nấp, kiến hành quân đầy đường

– Cây cối trước khi mưa: mía múa gươm, cỏ gà rung tai nghe, bụi tre gỡ tóc, cây dừa sải tay bơi, ngọn mùng tơi nhảy múa.

– Trong cơn mưa: cóc nhảy chồm chồm, chó sủa, cây lá hả hê…

– Những động từ được sử dụng: hành quân, múa, rung tai, đu đưa… kết hợp với các tính từ: rối rít, trọc lốc, mù trắng, chốc chốc

→ Góp phần diễn tả sinh động cảnh vật lúc trời mưa

b, Phép nhân hóa được sử dụng rộng rãi, phổ biến

+ Ông trời mặc áo

+ Mía múa gươm

+ Kiến hành quân đầy đường

+ Cỏ gà rung tai nghe

+ Bụi tre tần ngần gỡ tóc

+ Cây dừa sải tay bơi

→ Phép nhân hóa khiến thế giới cây cỏ, loài vật cũng hoạt động đa dạng giống như con người. Điều này thể hiện óc quan sát, liên tưởng thú vị của tác giả.

Câu 4 (trang 81 sgk ngữ văn 6 tập 2):

– Ông bố cuối bài trở thành người cha vĩ đại: đội sấm, đội chớp, đội cả trời mưa

– Hình ảnh người nông dân có tầm vóc lớn lao, tư thế vững vàng, hiên ngang như một vị thần sánh ngang với trời đất

– Trong cái nhìn trẻ thơ, người bố luôn luôn vĩ đại, mạnh mẽ và lớn lao.

LUYỆN TẬP

Bài 1 (trang 81 sgk ngữ văn 6 tập 2):

Học thuộc lòng bài thơ từ đầu đến mù trắng nước.

Bài 2 (trang 81 sgk ngữ văn 6 tập 2):

Mặt trời đang chói chang bỗng chốc mây đen từ đâu ùn ùn kéo tới, che kín cả bầu trời. Gió ngày càng mạnh hơn làm cây cối nghiêng ngả, đu đưa, bụi bay mù mịt. Mấy chú chim vội vã tìm nơi trú ngụ, mọi người cũng như khẩn trương hơn trước cơn mưa sắp tới gần… Lộp bộp… lộp bộp. Những hạt mưa bắt đầu nặng hạt hơn, bầu trời giờ bị chắn bởi những lớp nước trắng xóa, chớp sáng loáng rạch ngang trời, để lại tiếng sấm rền rĩ, ồn ào. Cây cối lúc này nhảy múa hào hứng với màn nước nước mưa mát lành trời ban tặng…

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k9: chúng tôi

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Soạn Bài Lớp 6: Từ Mượn

Soạn Bài : Từ Mượn

Soạn Bài Treo Biển (Chi Tiết)

Kể Chuyện Tưởng Tượng Lớp 6: Sơn Tinh Thủy Tinh

Soạn Văn Lớp 6 Trang 130 Bài Kể Chuyện Tưởng Tượng Ngắn Gọn Hay Nhất

Ptnt: Khám Phá Khoa Học Tìm Hiểu Về Các Hiện Tượng Thời Tiết Và Các Mùa

Cách Để Viết Một Báo Cáo Khoa Học

Phân Tích Kiều Ở Lầu Ngưng Bích Hay Nhất

Soạn Bài: Kiều Ở Lầu Ngưng Bích

Giáo Án Bài Kiều Ở Lầu Ngưng Bích (Trích Truyện Kiều) (Tiết 1)

Soạn Văn Kiều Ở Lầu Ngưng Bích (Trích Truyện Kiều)

Cô cho cháu hát bài “Cho tôi đi làm mưa với” – – Bài hát nhắc đến một hiện tự nhiên gì nào?

* Làm quen với hiện tượng trời mưa.

Cô đọc từ dưới tranh 2 lần sau đó cô mời cả lớp đọc cùng cô.

Các con hãy quan sát hiện tượng trời mưa và có nhận xét gì nào?

– Bức tranh cô vẽ trời mưa to hay mưa nhỏ?

– Thế bạn nào cho cô biết vì sao lại có mưa?

– Mưa nhiều thì gây ra hiện tượng gì nào?

À đúng rồi mưa to sẽ gây ra hiện tượng lũ lụt đấy, cho nên khi trời mưa to các con được nghỉ học ở nhà phải không nào?

* Làm quen vớihiện tượng gió.

– Cô đọc từ dưới tranh 2 lần sau đó cô mời cả lớp đọc cùng cô.

– Thế bạn nào biết gió do đâu mà có?

– Các con hãy quan sát bức tranh về gió các con có nhận xét gì nào?

– Gió thổi mạnh hay gió thổi nhẹ?

– Các con ạ gió thổi mạnh sẽ gây ra bão đấylúc những lúc thời tiết như vậy các con phải ở nhà không được đi ngoài đường vì rất là nguy hiểm đấy.

* Làm quen vớihiện tượng sấm.

– Cô đọc từ dưới tranh 2 lần sau đó cô mời cả lớp đọc cùng cô.

– Các con thấy sấm xuất hiện vào những lúc nào?

– Những lúc trời có sấm các con không nên cầm những thứ kim loại trên tay vì khi có sấm sét thì cũng có thể gây ra chết người đấy.

* Làm quen vớihiện tượng nắng :

– Các con đã bao giờ nhìn thấy trời nắng chưa?

– Vậy nắng xuất hiện vào mùa nào?

– Trời nắng các con có thấy nóng không?

– Khi đi trời nắng thì chúng ta phải làm gì?

Đúng rồi, khi chúng ta ra đường thấy trời nắng thì phải đội mủ và những lúc buổi trưa nắng nóng thì các con không được chạy nhảy ngoài trời vì nó rất dể gây cho các con bị đau đầu đấy.

* Tìm hiểu về các mùa trong năm. – Mùa xuân:

Cô mở cho xem một đoạn cảnh của mùa xuân

+ Đây là mùa gì?

+ Các con biết gì về mùa xuân hãy kể cho cô và các bạn cùng biết nào?

+ Mùa xuân là mùa thứ mấy trong một năm?

+ Đặc trưng nhất của mùa xuân là gì?

+ Hoa đào nở báo hiệu ngày gì của mùa xuân đã đến?

Cô chốt lại: Mùa xuân là mùa đầu tiên trong một năm, khi mùa xuân đến thì thời tiết ấm áp, có mưa phùn nhẹ bay, cây cối mùa xuân đâm chồi nảy lộc. Mùa xuân còn có ngày đặc biệt đó là ngày tết Nguyên Đán, ngày tết Nguyên Đán hay còn gọi là ngày tết cổ truyền của dân tộc ta, .Khi tết đến các con còn được thêm điều gì?

Có bài hát rất hay về mùa hè mà cô muốn các con sẽ thể hiện trong ngày hôm nay, cô mời các con!

+ Những dấu hiệu nào cho chúng mình biết đây là mùa hè?

+ Vì sao các bạn lại phải mặc quần áo mát mẻ?

Các con nói rất đúng! Mùa hè thời tiết rất nóng nực, ánh nắng mùa hè thì chói chang, cây cối xanh tốt, vì mùa hè nóng như thế nên mọi người phải mặc quần áo mát mẻ …

+ Bây giờ ai muốn nói gì về mùa hè nữa không?

Cô giải thích: Vì mùa hè có nhiều nắng và ánh sáng nên thuận lợi cho việc cây cối đơm hoa kết trái. Đó chính là lý do vì sao mùa hè lại có nhiều quả ngọt đấy!

+ Có những loại quả ngọt nào có trong mùa hè?

+ Có hoạt động gì chúng mình được đón nhận vào mùa hè?

+ Mùa hè các con được làm gì?

* Mùa thu:

“Mùa gì đón ánh trăng rằm

Rước đèn phá cỗ chị Hắng xuống chơi”

+ Mùa thu có đặc điểm gì?

+ Mùa thu là mùa thứ mấy trong một năm?

+ Mùa thu có những ngày hội, ngày tết gì?

Cô mở đĩa hình ảnh các bạn nhỏ đang rước đèn phá cỗ.

* Mùa đông:

+ Mùa đông có gì đặc biệt nào?

+ Cây cối của mùa đông như thế nào?

+ Mùa đông có hiện tượng tự nhiên gì?

+ Mùa đông là mùa thứ mấy trong năm?

+ Mùa trái với mùa đông là mùa gì?

+ Mùa hè có những đặc điểm gì nổi bật các con nhắc lại cho cô được biết nào?

Cô nhấn mạnh đặc điểm của mùa đông và mùa hè. Giáo dục trẻ lựa chon trang phục phù hợp…

Các con ạ! một năm có 4 mùa đó là quy luật tất yếu của tự nhiên, các mùa cứ lặp đi lặp lại hết năm này đến năm khác.

+ Các con cho cô biết các con đang sống trong mùa gì không?

Trò chơi 1: ” Nói nhanh theo yêu cầu của cô”

Trò chơi thứ 2: ” Làm nhanh theo yêu cầu của cô”

Cô cho trẻ đọc thơ “Cầu vồng” và đi ra ngoài.

Những Điểm Cần Lưu Ý Khi Dịch Một Văn Bản Khoa Học

Ga L2 Tuan 2 Nguyet

Cách Sắp Xếp Tài Liệu Trong Máy Tính

Cách Sắp Xếp Hóa Đơn Chứng Từ Kế Toán Khoa Học

Cách Sắp Xếp Tài Liệu Nơi Công Sở Nhanh Chóng

Bài Thơ: Mưa (Trần Đăng Khoa)

Soạn Bài Mưa (Siêu Ngắn)

Soạn Bài Lớp 6: Mẹ Hiền Dạy Con

Bài Soạn Lớp 6: Mẹ Hiền Dạy Con

Soạn Bài Ếch Ngồi Đáy Giếng (Chi Tiết)

Soạn Bài Lớp 6: Ếch Ngồi Đáy Giếng

Sinh ra và lớn lên tại một làng quê thuộc huyện Nam Sách, năng khiếu thơ của Trần Đăng Khoa nảy nở rất sớm. Nhiều bài thơ trong tập Góc sân và khoảng trời được tác giả viết khi còn học tiểu học. Bài thơ Mưa được chàng thi sĩ tí hon này viết năm lên 9 tuổi, khi cuộc kháng chiến chống Mĩ của nhân dân ta đang diễn ra vô cùng ác liệt. Từ lúc sắp mưa đến khi mưa rơi, cảnh bầu trời mặt đất từ sấm chớp mây mưa, từ cây cỏ đến những con vật như chó, gà con, lũ kiến,… đều được cảm nhận qua tâm hồn tuổi thơ rất hồn nhiên ngộ nghĩnh.

Bài thơ viết theo cách nói lối đồng dao, có 63 câu thơ rất ngắn, có 10 câu chỉ có 1 chữ, có 37 câu thơ 2 chữ. 6 câu thơ 3 chữ, 9 câu thơ 4 chữ, và chỉ có 1 câu thơ 5 chữ. Qua sự khảo sát ấy, ta thấy cách viết của Khoa rất tự nhiên, hồn nhiên, câu thơ nối tiếp xuất hiện theo cảm nhận và cảm xúc từ sắp mưa đến mưa rồi, và sau cùng là hình ảnh người bố của Khoa đi cày về trong cơn mưa dữ dội, tầm tã.

Mở đầu bài thơ như một tiếng reo của trẻ thơ cất lên: Sắp mưa / sắp mưa. Mẫn cảm nhất là loài mối bay ra để đón mưa. Tài thật, sao mà bé Khoa phân loại được, nhận diện được tuổi tác những con mối: Mối trẻ / Bay cao / Mối già / Bay thấp. Tiếp theo là bầy gà con Rối rít tìm nơi / ẩn nấp. Ông trời, cây mía, kiến, lá khô, cỏ gà, bụi tre, hàng bưởi, chớp, sấm, cây dừa, ngọn mùng tơi… được chú bé nói tới, nhắc tới. Tác giả sử dụng nhân hoá khá hay, tạo nên những liên tưởng thú vị, thể hiện sự tưởng tượng phong phú. Mây đen kéo phủ đầy trời, tưởng như Ông trời / mặc áo giáp đen / Ra trận. Lá mía dài, nhọn sắc. Gió thổi, lá mía xào xạc bay, khác nào Muôn nghìn cây mía / Múa gươm. Kiến chạy mưa, như vỡ tổ, nhà thơ tưởng như Kiến / Hành quân / Đầy đường. Không khí hùng tráng của lịch sử dân tộc thời chống Mĩ đã phản chiếu vào thơ Khoa. Từ ông trời đến nghìn cây mía, đàn kiến, tất cả đều ra trận, đều múa gươm đều hành quân, tất cả đều tham gia vào cuộc diễu binh hùng vĩ (thơ của Tố Hữu). Cả một không gian rộng lớn chuyển động vì sắp mưa: Lá khô / Gió cuốn Bụi bay / Cuồn cuộn, cỏ gà, bụi tre, hàng bưởi, cây dừa, ngọn mùng tơi – thế giới cây cỏ này được nhân hoá. Cách nhận xét của chú bé 9 tuổi khá tinh tế, hóm hỉnh, cỏ gà rung tai nghe. Bụi tre Tần ngần – Gỡ tóc. Hàng bưởi trĩu quả, trong gió, như một người hiền đang đu đưa – bế lũ con – Đầu tròn – trọc lốc. Gió thổi mỗi lúc một mạnh. Cây dừa Sải tay – Bế, ngọn mùng tơi nhảy múa. Một không gian nghệ thuật, một thế giới tạo vật cựa quậy, sống động, chuyển động khi trời sắp mưa. Tất cả đều có linh hồn, có cảm giác, có hành động… được thể hiện qua các hình ảnh nhân hoá rất ngộ nghĩnh, đáng yêu. Sắp mưa, sấm chớp rung chuyển, rạch xé trời đất. Chớp rạch trời ngang trời… Sấm như một tên hề Ghé xuống sân – Khanh khách – Cười. Đó là cảm nhận vũ trụ của tuổi thơ.

Cảnh trời mưa được diễn tả bằng 14 câu thơ. Mưa rơi trong tiếng gió ù ù như xay lúa. Giọt mưa lộp bộp Lộp bộp rơi! Trong màn mưa, đất trời trở nên mù trắng nước. Và mưa chéo mặt sân sủi bọt. Bé Khoa đã dàn dựng một hoạt cảnh mưa có cóc, chó và cây lá thật hóm hỉnh:

Cóc nhảy lồm chồm

Chó sủa

Cây lá hả hê.

Mưa làm mát dịu trời đất mùa hè. Mưa làm cho cây lá xanh tươi, tốt tươi. Cây lá hả hê vui sướng đón cơn mưa nhân hoá thoát sáo và rất gợi cảm. Ở đây mưa là nguồn gốc sự sống, mưa là niềm vui đợi chờ.

Cuối bài thơ mới xuất hiện hình ảnh con người. Một hình ảnh rất quen thuộc ở làng quê xưa nay:

Bố em đi cày về

Đội sấm

Đội chớp

Đội cả trời mưa…

Mọi thứ của vũ trụ như sấm chớp, mưa đều đội trên đầu bố em. Chữ đội được điệp lại 3 lần, không chỉ cực tả sự vất vả dãi nắng dầm mưa của bố em, của người dân cày Việt Nam xưa nay mà còn mang hàm nghĩa, người nông dân cày cấy trong bom đạn chiến tranh, vừa sản xuất vừa chiến đấu. Sau vần thơ là lòng biết ơn, kính yêu của Khoa.

Mưa là một bài thơ hay. Thế giới thiên nhiên trong cơn mưa rào ở làng quê được cảm nhận và miêu tả tinh tế. Các câu thơ ngắn 1, 2, 3… chữ đan cài vào nhau, kết hợp với vần chân đã tạo nên nhạc điệu thơ, gợi tả tiếng mưa rơi, nghe rất vui. Phép nhân hoá và nghệ thuật sử dụng các từ láy (rối rít, cuồn cuộn, tần ngần, đu đưa, trọc lốc, khô khốc, khanh khách, ù ù, lộp bộp, chồm chồm, hả hê) đã tạo nên những vần thơ, những hình ảnh hồn nhiên, ngộ nghĩnh, thi vị. Mưa là một bài thơ đặc sắc của tuổi thơ và tâm hồn tuổi thơ.

Soạn Bài Mưa Của Trần Đăng Khoa

Soạn Bài Mưa (Chi Tiết)

Soạn Bài Mưa (Trần Đăng Khoa)

Soạn Bài Lớp 6: Từ Mượn

Soạn Bài : Từ Mượn

Soạn Bài Mưa Của Trần Đăng Khoa

Bài Thơ: Mưa (Trần Đăng Khoa)

Soạn Bài Mưa (Siêu Ngắn)

Soạn Bài Lớp 6: Mẹ Hiền Dạy Con

Bài Soạn Lớp 6: Mẹ Hiền Dạy Con

Soạn Bài Ếch Ngồi Đáy Giếng (Chi Tiết)

2.2. Soạn bài chi tiết

Câu 1. Bài thơ Mưa của Trần Đăng Khoa tả cơn mưa ở vùng nào và vào mùa nào?

Cơn mưa được tả qua hai giai đoạn: lúc sắp mưa và lúc đang mưa. Dựa vào thứ tự miêu tả, em hãy tìm bố cục của bài thơ.

Bài thơ tả cơn mưa rào ở vùng đồng bằng Bắc Bộ.

Bài thơ tả cơn mưa qua hai giai đoạn trước và trong cơn mưa. Căn cứ vào đó, chúng ta có thể chia bài thơ thành ba đoạn: Đoạn 1: “Sắp mưa” đến “Nhảy múa”: Miêu tả khung cảnh sắp mưa.

Đoạn 2: Tiếp theo đến “Cây lá hả hê”: Quang cảnh trong cơn mưa.

Đoạn 3: Bốn câu thơ còn lại: Hình ảnh người nông dân trong cơn mưa.

Câu 2. Nhận xét về thể thơ, cách ngắt nhịp, gieo vần trong bài thơ và nêu tác dụng đối với việc thể hiện nội dung (tả trận mưa rào ở làng quê).

Bài thơ được làm theo thể thơ tự do, với những câu dài ngắn khác nhau.

Cách ngắt nhịp của tác giả hết sức linh hoạt 1, 2, 3, 4 chủ yếu nhất là nhịp 2.

Cách gieo vần không tuân theo một quy định nào.

Tác dụng Việc sử dụng thể thơ tự do đã tạo thuận lợi cho nhà thơ có thể diễn tả một cách tự do, phóng túng những quan sát của mình về con người, cảnh vật.

Nhịp thơ ngắn gọn, xuống dòng liên tiếp giúp lột tả chân thực, sinh động về một cơn mưa mùa hạ nhanh, dữ dội, dồn dập.

Câu 3. Bài thơ miêu tả rất sinh động trạng thái và hoạt động của nhiều cây cối, loài vật trước và sau cơn mưa. Em hãy tìm hiểu:

a) Hình dáng, trạng thái, hoạt động của mỗi loài lúc sắp mưa và trong cơn mưa. Tìm những động từ và tính từ miêu tả và nhận xét về việc sử dụng các từ ấy.

b) Nêu các trường hợp sử dụng phép nhân hoá để miêu tả thiên nhiên trong bài thơ. Hãy phân tích tác dụng của biện pháp ấy trong một số trường hợp đặc sắc.

a) Tác giả đã sử dụng hàng loạt các động từ, tính từ miêu tả các sự vật rất độc đáo, thể hiện sự quan sát tinh tế:

Mối trẻ bay cao; Mối già bay thấp

Ông trời và kiến như chuẩn bị tham gia trận đánh nên mặc áo giáp đen, hành quân đầy đường.

Mỗi sự vật đều đón chờ cơn mưa với niềm vui riêng thể hiện những tình cảm riêng, tính cách riêng: Cỏ gà rung tai nghe

Bụi tre tần ngần gỡ tóc

Hàng bưởi đu đưa bế lũ con

Chớp khô khốc

Sấm khanh khách cười

Cây dừa sải tay bơi

Ngọn mồng tơi nhảy múa.

Việc sử dụng các động từ, tính từ như trên đã làm cho thế giới cây cối, loài vật trở nên phong phú, sinh động về tâm hồn như con người.

b) Phép nhân hoá được sử dụng rộng rãi và rất chính xác, ví dụ:

“Ông trời mặc áo giáp đen – Ra trận – Muôn nghìn cây mía – Múa gươm – Kiến – Hành quân – Đầy dường…” – những hình ảnh nhân hoá đã tạo nên cảnh tượng một cuộc ra trận với khí thế mạnh mẽ, khẩn trương. “Ông trời – Mặc áo giáp đen” là cảnh những đám mây đen che phủ cả bầu trời như một lớp áo giáp của một dũng tướng ra trận. Còn “Muôn nghìn cây mía” lá nhọn, sắc quay cuồng trong gió được hình dung như những lưỡi gươm khua lên trong tay các chiến sĩ của một đội quân đông đảo; kiến đi từng đàn vội vã có hàng lối như một hàng quân đang hành quân khẩn trương.

Câu 4. Gần hết bài thơ chỉ miêu tả thiên nhiên, đến cuối bài mới hình ảnh con người:

Bố em đi cày về Đội cả trời mưa …

Em hãy nhận xét về ý nghĩa biểu tượng cho tư thế, sức mạnh và vẻ đẹp của con người trước thiên nhiên trong hình ảnh trên.

Tác giả chỉ dành 4 dòng cuối để tả con người.

Ở đây tác giả miêu tả về một ông bố nông dân hết sức bình dị trở về nhà trong cơn mưa dữ dội. Nhưng trong cái nhìn của một cậu bé chín tuổi, hình ảnh đó trở nên lớn lao, khác thường. Tác giả đã dùng tới ba câu thơ, đều có từ “đội” đặt ở đầu câu: Đội sấm/ Đội chớp/ Đội cả trời mưa. Với những động từ đó hình ảnh người nông dân có tầm vóc lớn lao, tư thế vững vàng, hiên ngang như một vị thần đội trời, đạp đất có sức mạnh có thể sánh ngang với thiên nhiên. Và khung cảnh cơn mưa được tác giả miêu tả ở những câu thơ trên càng mạnh mẽ, dữ dội càng tô đậm vẻ đẹp, tầm vóc của con người ở khổ thơ này.

3. Hướng dẫn luyện tập

Câu 1. Học thuộc lòng đoạn thơ từ đầu đến “Mù trắng nước”.

Câu 2. Quan sát và miêu tả cảnh mưa rào ở thành phố hay vùng núi, vùng biển hoặc mưa xuân ở làng quê.

Quê em là vùng đất nắng lắm mưa nhiều. Những cơn mưa đầu hè luôn mang lại sự tươi mát cho vùng đất này. Mỗi buổi chiều, sau khi ông mặt trời dần đi về phía Tây chân trời lại có những cơn mưa nhỏ to xuất hiện. Dường như chúng chỉ đợi ông Mặt Trời nghỉ ngơi mới dám lẻn xuống trần gian.

Chiều hôm qua cũng vậy. Trời đang nắng to, khí trời thật ủ dột, oi bức, không có tới một cơn gió nào thổi qua cả. Cây cối đứng im lìm. Nắng như cái lò “bát quái” phả xuống mặt đất. Hàng chuối xơ xác đứng rủ lá. Chú chó nhà em nằm dài ngoài hiên, thè cái lưỡi ra thở hừng hực vì không chịu được nóng.

Bỗng nhiên trời đang nắng đó mà tối sầm ngay lại. Ông mặt trời sợ gì mà trốn đâu mất. Thấy vậy lũ gà nhao nhác chạy vào chuồng vì tưởng trời sắp tối. Từ phía xa xa, em đã nghe thấy tiếng gió rào rào chạy lại. Mây đen cũng rủ nhau ùn ùn kéo đến. Mây như mang hơi nước nặng trĩu che kín đen cả một góc trời. Gió mỗi lúc một giật mạnh, bốc từng đám cát bụi mù mịt như đáp vào mặt người đi đường ran rát. Trên đường, người mỗi lúc một thưa dần. Ai cũng cố đạp thật nhanh để về nhà cho kịp khỏi ướt.

Rồi, sấm nổ đùng đoàng. Chớp như xé toạc bầu trời đen kịt. Mưa bắt đầu rơi lộp bộp trên mái tôn. Tiếng mưa loong boong trong chiếc thùng hứng nước, đồm độp trên phiến nứa, gõ chan chát vào tàu lá chuối…

Lúc đầu, ngoài trời chỉ một vài hạt lách tách, càng về sau mưa càng to. Nước như thể có bao nhiêu trên trời là đổ xuống hết cả. Cây bòng bế lũ con đầu tròn trọc lốc múa may quay cuồng trong gió. Hàng cau nghiêng ngả như người say rượu. Ngoài vườn, những con ếch nhái thi nhau đuổi theo những con mối bị vỡ tổ. Trên đường, lũ trẻ thi nhau đuổi chạy tắm mưa. Hai bên đường, loáng thoáng bóng người trú mưa. Chỉ một lúc sau, sân nhà em đã lưng nước.

Thế nhưng, chỉ một lát sau mưa đã tạnh dần. Lũ gà chạy ra kiếm mồi. Trời rạng dần. Những chú chim lại bay ra hót ríu ran. Bầu trời như cao và xanh hơn. Ông mặt trời ló ra, chói lọi trên vòm lá bưởi lấp lánh.

Mưa đã ngớt nhưng nước vẫn chảy từ mái nhà xuống ồ ồ. Những rạch nước nhỏ lênh láng trên khoảng vườn. Hết mưa rồi. Mọi người lại vội vàng đổ ra đường tiếp tục cuộc hành trình của mình.

Đang cập nhật!

Nếu có thắc mắc cần giải đáp các em có thể để lại câu hỏi trong phần Hỏi đáp, cộng đồng Ngữ văn HỌC247 sẽ sớm trả lời cho các em.

Soạn Bài Mưa (Chi Tiết)

Soạn Bài Mưa (Trần Đăng Khoa)

Soạn Bài Lớp 6: Từ Mượn

Soạn Bài : Từ Mượn

Soạn Bài Treo Biển (Chi Tiết)

Thể Thức Trình Bày Văn Bản Khoa Học

Quy Định Về Hình Thức Trình Bày Báo Cáo Tổng Kết Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học Của Sinh Viên

Phong Cách Ngôn Ngữ Khoa Học Trang 45 Sbt Văn 12 Tập 1: Giải Câu 1, 2, 3,4,5,6…

Giáo Án Môn Ngữ Văn Khối 12

Tuần 5. Phong Cách Ngôn Ngữ Khoa Học

Soạn Bài Phong Cách Ngôn Ngữ Khoa Học Sbt Ngữ Văn 12 Tập 1

Mở đầu

Hiện nay, các văn bản hướng dẫn hoặc quy định về cách trình bày văn bản khoa học ở Việt Nam, cũng như vấn đề quy tắc trình bày tham khảo khoa học, vẫn chưa có được sự thống nhất, chưa đạt được mức độ tương đối hoàn chỉnh về chi tiết và hợp lí về kĩ thuật (xét trong bối cảnh phát triển của công nghệ thông tin và khoa học). Vì vậy, trong phần này chúng tôi cố gắng tổng hợp lại tất cả các quy định còn rời rạc kia, và dựa theo tinh thần của văn bản hướng dẫn có hiệu lực pháp lí cao nhất tại Việt Nam về cách trình bày các loại văn bản hành chính dùng trong các cơ quan, tổ chức: Thông tư liên tịch số 55/2005/TTLT/BNV-VPCP do Văn phòng Chính phủ và Bộ Nội vụ ban hành ngày 06/05/2005.

Phông chữ

Phông chữ sử dụng để trình bày văn bản khoa học phải là các phông chữ tiếng Việt với kiểu chữ chân phương, bảo đảm tính trang trọng, nghiêm túc của văn bản. Bộ mã kí tự chữ Việt được sử dụng là bộ phông chữ tiếng Việt Unicode theo Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 6909:2001.

Không dùng quá nhiều phông chữ và cỡ chữ cho tất cả các thành phần trong cùng một văn bản.

Nên dùng phông chữ không có chân (sans serif) cho các chương mục và chữ có chân (serif) cho bản văn.

Các thành phần trong văn bản

Trang bìa

Thông thường, trang bìa và trang lót (hay bìa phụ) có nội dung giống nhau. Theo trình tự từ trên xuống có các thành phần sau:

tên tổ chức, cơ quan quản lí đề tài;

tên tác giả;

tên đề tài;

tên loại, cấp độ và số hiệu đề tài (nếu có);

tên người hướng dẫn khoa học;

địa danh và thời gian công bố tài liệu.

Các trang nội dung

Kể từ sau trang bìa và trang lót, các trang nội dung sẽ được chia thành nhiều chương mục tuỳ theo loại tài liệu và đặc thù chuyên ngành.

Dựa theo cây mục tiêu áp dụng đối với tài liệu khoa học, các trang nội dung của một luận văn khoa học được chia thành các cấp chủ yếu sau đây:

mục: cấp đề mục lớn nhất trong mỗi chương, thể hiện cấu trúc vấn đề trình bày trong chương;

tiểu mục: cấp đề mục con liền dưới mục, nhằm chia nhỏ các vấn đề trong mỗi mục sao cho phù hợp với logic trình bày;

ý lớn: nếu trong mỗi tiểu mục có nhiều ý lớn thì phân chia ra thành các đề mục con liền dưới tiểu mục;

ý nhỏ: nếu trong mỗi ý lớn còn cần phân biệt ra nhiều ý nhỏ thì chia thành các đề mục con liền dưới ý lớn.

Trong mỗi cấp đề mục, nội dung bản văn (body text) được trình bày thành các đoạn văn bản (paragraph) để diễn đạt các vấn đề chi tiết.

Các thành phần khác được sử dụng kết hợp với các bản văn là các yếu tố chèn không có thuộc tính văn bản (text/texte) (hình ảnh, biểu đồ,…), các bảng biểu số liệu, các danh sách liệt kê (đánh số thứ tự hoặc đánh dấu kí hiệu), các biểu ghi cước chú và hậu chú…

Mỗi trang văn bản có hai thành phần cung cấp thông tin nhận diện tài liệu là đầu trang và chân trang.

Các Cơ Sở Khoa Học Của Công Tác Quản Lý Môi Trường

“bàn Tay Nặn Bột” Trong Đọc

Đề Tham Khảo Môn Văn

Nên Hiểu Phong Cách Ngôn Ngữ Khoa Học Như Thế Nào?

Soạn Văn Bài: Phong Cách Ngôn Ngữ Khoa Học

Từ Văn Bản ” Bàn Về Đọc Sách” Em Có Suy Nghĩ Gì Về Hiện Tượng Đọc Sách Của Học Sinh Ngày Nay

23 Đề Thi Thử Thpt Quốc Gia Môn Văn 2022

Hướng Dẫn Sao Chép Liên Kết Trên Iphone

Cách Quản Lý, Xem Lại Hoặc Xóa Văn Bản Đã Sao Chép Trên Iphone, Ipad

Cách Lấy Link Video, Link Bài Viết, Link Ảnh Facebook

Soạn Bài Nói Với Con

Mở bài:

Sách ra đời từ lâu và đem lại nhiều lợi ích cho con người. Trong văn bản ” Bàn về đọc sách”, Chu Quang Tiềm từng nhận định: ” Học vấn không chỉ là chuyện đọc sách. Nhưng đọc sách vẫn là con đường quan trọng của học vấn”. Vậy mà ngày nay, việc đọc sách không còn được chuộng cho lắm, nhất là giới trẻ mà dư luận xã hội đã gióng tiếng chuông báo động.

Thân bài:

1/ Giải thích:

Sách ghi chép lại những kiến thức của nhân loại tích lũy tích lũy hàng ngàn năm nay. Theo đà phát triển của xã hội, chất liệu làm ra sách bắt đầu từ da thuộc, tre nứa,giấy đến ngày nay có hiện diện của sách điện tử. Còn học vấn là sự tiếp thu, học hỏi tích lũy kiến thức. Chúng ta có thể học tập từ thầy cô, bạn bè, thực tế cuộc sống nhưng đọc sách vẫn là con đường quan trọng của học vấn. Từ những nền tảng tri thức có sẵn trong sách, con người sẽ kế thừa và sáng tạo, phát minh thêm tri thức mới góp phần cho cuộc sống ngày càng văn minh hiện đại, không có sách, con người sẽ lạc hậu, trở về điểm xuất phát. Nhất là học sinh, đọc sách sẽ giúp việc học tập thêm nâng cao, mở rộng hơn, bồi đắp tâm hồn, nhân cách qua những quyển sách mang đậm tính nhân văn.

2/ Trình bày hiện tượng đọc sách của học sinh ngày nay:

Trong tình trạng bùng nổ công nghệ thông tin với những phương tiện truyền thông hiện đại ngày nay thì học sinh càng xa rời việc đọc sách. Từ trong nhà đến công viên, quán nước, bến đợi xe buýt, trên đường đi, ta dễ bắt gặp hình ảnh các bạn trẻ cầm điện thoại di động, ipad, laptop tìm kiếm thông tin trên các mạng xã hội như Facebook, Zing me , Twitter với những mẫu tin ngắn mà tác giả cũng không rõ nguồn gốc… Nếu có đọc sách thì chỉ đọc theo ngẫu hứng, phong trào rộ lên một thời, đọc qua loa, không chuyên sâu. Ở nhà, giờ đây giá sách cũng không phải là vật quý trong phòng học, mà thay vào đó là bộ máy vi tính là chủ yếu với những sách văn mẫu, sách giải bài tập… nhằm đáp ứng nhanh cho yêu cầu thi cử, bài làm, có nhiều bạn đã học trung học cơ sở mà còn ngại đọc sách chữ, chỉ thích đọc truyện tranh, kể cả truyện khoa học bằng tranh

3/ Phân tích nguyên nhân, tác hại:

Việc không đọc sách sẽ gây nhiều tác hại lớn. Không đọc sách, kiến thức ta sẽ không sâu rộng. Mỗi khi có việc cần làm thì lên mạng tra cứu vừa mất thời gian vừa không có tài liệu chuyên sâu. Những quyển sách có giá trị lâu dài ít ai đưa lên mạng miễn phí, nhất là những công trình khoa học tự nhiên, xã hội. Không đọc sách, ta sẽ mất đi nguồn vốn từ tích lũy được từ sách, không học tập được những lời hay ý đẹp và ta sẽ gặp nhiều khó khăn trong diễn đạt ngôn từ.

Còn đọc sách qua loa, cốt chỉ để cho người ta biết mình có đọc thì chỉ tốn công sức, thời gian, tiền bạc giống như cưỡi ngựa xem hoa, thật đáng phê phán

4. Biện pháp:

Văn bản ” Bàn về đọc sách” của Chu Quang Tiềm cho ta một bài học thấm thía về tầm quan trọng của việc đọc sách. Để đọc sách có hiệu quả, chúng ta cần chọn cho tinh, đọc cho kỹ. Đọc những quyển sách có giá trị, bồi dưỡng kiến thức, nhân cách. Đọc ít nhưng phải đọc kỹ, ta phải có sự suy ngẫm, phân tích, tổng hợp, so sánh đối chiếu… thì mới hiểu thấu đáo nội dung của sách và mới nhớ lâu. Những điều hay có trong sách ta cần ghi chép lại để học tập cách diễn đạt. Ta cần đọc sách thường thức kết hợp với sách chuyên sâu, theo sở thích. Sách thường thức rất quan trọng, ứng dụng thực tiễn nhiều trong mọi lĩnh vực. Đọc sách phải có kế hoạch liên tục, suốt đời thì mới thấy được lợi ích của việc đọc sách

III. Kết bài:

Từ hiện tượng học sinh không có thói quen đọc sách hay đọc sách qua loa, ta càng thấy lời khuyên của Chu Quang Tiềm thật đúng đắn. Hãy tập thói quen đọc sách, từ đọc ít đến đọc nhiều, đọc đều đặn, thường xuyên, học sinh chúng ta sẽ nhận được điều kì diệu của sách để từ đó nuôi dưỡng ươm mầm niềm đam mê đọc sách như Gorki có nói ” Hãy yêu sách …”

Bùi Thị Mỹ Hạnh @ 01:44 15/01/2016

Số lượt xem: 14694

Đề Thi Thử Thpt Quốc Gia Môn Văn 2022 Thpt Hàn Thuyên (Lần 2)

Đề Thi Thử Thpt Quốc Gia Ngữ Văn Trường Thpt Hưng Đạo

Bàn Về Facebook Với Học Sinh, Giới Trẻ 2022 Hiện Nay

Soạn Bài Con Chó Bấc (Chi Tiết)

Soạn Bài: Con Chó Bấc (Trích Tiếng Gọi Nơi Hoang Dã)

Dịch Thuật Văn Bản Khoa Học Kỹ Thuật Hay

Dịch Thuật Văn Bản Khoa Học Kỹ Thuật Nhanh Nhất

Dịch Thuật Văn Bản Khoa Học Kỹ Thuật Chuyên Ngành

Top 6 Việc Làm Part Time Tiếng Trung Dễ Kiếm Tiền Nhất Hiện Nay

Dịch Thuật Văn Bản Hành Chính Pháp Luật

Dịch Vụ Dịch Thuật Tài Liệu Chuyên Ngành Pháp Luật, Tòa Án

Published on

1. Dịch thuật văn bản khoa học kỹ thuật hay – Dịch tài liệu hoá chất – hóa học tốt giá rẻDịch thuật văn bản khoa học kỹ thuật hay – Dịch tài liệu hoá chất – hóa học tốt giá rẻDịch Vụ Dịch Thuật Tài Liệu Anh-Việt , Việt Anh http://idichthuat.com/Chính xác – Nhanh – Giá rẻ nhấtPhải chăng bạn đang cần?Bạn cần dịch một số tài liệu chuyên ngành, hợp đồng, chứng từ từ tiếng Việt sangtiếng Anh một cách chính xác để gửi cho đối tác nước ngoài?Bạn cần bản dịch của một bài báo, một cuốn sách, một bộ tiêu chuẩn, hay bất kỳtài liệu nào khác để phục vụ cho việc kinh doanh, học tập?Nhóm dịch thuật chuyên nghiệp: http://idichthuat.com/

2. Dịch thuật văn bản khoa học kỹ thuật hay – Dịch tài liệu hoá chất – hóa học tốt giá rẻTuy nhiên bạn lo lắng!Giá dịch vụ dịch thuật hiện tại quá cao!Tôi cần dịch nhanh và chắc chắn thời gian hoàn thành.Tài liệu chuyên ngành mà giao cho người khác dịch liệu có trọn ý?Dịch thuật văn bản khoa học kỹ thuật hay – Dịch tài liệu hoá chất – hóa học tốt giá rẻ http://idichthuat.com/ ra đời để giải quyết các vấnđề trên của bạnDịch vụ dịch thuật các loại tài liệu, văn bản, sáchbáo, tạp chí, đề án, báo cáo, luận văn… từ tiếng Anhsang tiếng Việt (và ngược lại) một cách chuyênnghiệp nhấtChuẩn dịch thuật viên tại idichthuat.com:Nhóm dịch thuật chuyên nghiệp: http://idichthuat.com/

4. Dịch thuật văn bản khoa học kỹ thuật hay – Dịch tài liệu hoá chất – hóa học tốt giá rẻMức giá dịch tài liệu duy nhất và tốt nhấtGiá thị trường: 50.000 VNĐ/trang (300 từ/trang)Giá tại chúng tôi 35.000 VNĐ/trang (400 từ/trang)+ Giá trên chưa bao gồm VAT (10%) nếu quý khách lấy hóa đơn.Quy trình đơn giản, nhanh chóng:Bước 1: Gửi yêu cầu: Khách hàng gửi file cần dịch (qua email) kèm theo yêu cầuvề thời gian hoàn thành.Bước 2: Đặt cọc:+ Đối với các loại tài liệu có độ khó cao và số lượng nhiều, khách hàng cần đặt cọc50% phí dịch vụ, chúng tôi sẽ tiền hành thực hiện và gửi kết quả thành từng phầncho khách hàng qua email. Khách hàng thanh toán phần chi phí còn lại trước khi nhậnphần kết quả cuối cùng.+ Có thể chia nhỏ gói công việc và thanh toán trước theo từng gói, tùy theo thỏathuận.+ Đối với các loại tài liệu ngắn, nhỏ (chi phí dưới 100,000đ), khách hàng cần thanhtoán trước 100% giá trị dịch vụ.Bước 3: Nhận bản dịch: Khách hàng kiểm tra bản dịch đã hoàn chỉnh và trongvòng 30 ngày, chúng tôi sẽ hỗ trợ miễn phí về các yêu cầu chỉnh sửa củabản dịch.Dịch thuật văn bản khoa học kỹ thuật hay – Dịch tài liệu hoá chất – hóa học tốt giá rẻNhóm dịch thuật chuyên nghiệp: http://idichthuat.com/

Dịch Thuật Chuyên Ngành Toán Học

Phần Mềm Dịch Tiếng Anh Chuyên Ngành Kế Toán

Dịch Tiếng Anh Chuyên Ngành Kế Toán

Nghĩa Của Từ Dịch Tài Liệu Kỹ Thuật

Những Phương Pháp Dịch Văn Bản Kỹ Thuật Cơ Bản

Những Văn Bản Hỗ Trợ Thực Hiện Luật Khoa Học Và Công Nghệ Sửa Đổi

Điểm Mới Của Bộ Luật Lao Động Năm 2022

Thành Lập Công Ty Xuất Khẩu Lao Động

Tổng Hợp Các Mức Phạt Trong Lĩnh Vực Xuất Khẩu Lao Động

Hệ Thống Văn Bản Pháp Luật Hiện Hành Về Xuất Khẩu Lao Động

Nguyên Tắc Xử Lý Kỷ Luật Lao Động Theo Quy Định

Luật Khoa học và Công nghệ (sửa đổi) được Quốc hội thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2014. Do đó, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương đã ban hành kịp thời nhiều văn bản hướng dẫn thi hành để tạo điều kiện thuận lợi nhất cho việc thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ, góp phần vào sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế quốc dân, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn cuộc sống trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu sắc và toàn diện.

Ngày 27/01/2014, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 08/2014/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Khoa học và Công nghệ có hiệu lực thi hành từ ngày 15/3/2014. Cụ thể, Nghị định quy định mỗi tổ chức khoa học và công nghệ phải có ít nhất 5 người có trình độ đại học trở lên, bao gồm làm việc chính thức kiêm nhiệm; trong đó có ít nhất 30% có trình độ chuyên môn phù hợp với lĩnh vực chủ yếu xin đăng ký hoạt động và ít nhất 40% làm việc chính thức. Riêng người đứng đầu tổ chức khoa học và công nghệ phải có trình độ đại học trở lên và có kinh nghiệm quản lý, năng lực chuyên môn phù hợp. Trường hợp thành lập tổ chức khoa học và công nghệ để phát triển ngành khoa học và công nghệ mới thì tổ chức đó phải có ít nhất 01 người có trình độ đại học trở lên thuộc ngành đăng ký hoạt động làm việc chính thức.

Điểm được đánh giá có tính đột phá của Luật Khoa học và Công nghệ (sửa đổi) là quy định về việc phân chia lợi nhuận sau thuế khi sử dụng, chuyển giao quyền sử dụng, chuyển nhượng, góp vốn bằng kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước thì Nghị định này cũng quy định cụ thể. Theo đó, thù lao cho tác giả được phân chia theo thỏa thuận giữa các bên nhưng tối thiểu là 30%; thù lao cho người môi giới (nếu có) cũng được phân chia theo thỏa thuận nhưng không quá 10%. Phần lợi nhuận còn lại sau khi phân chia cho tác giả và người môi giới (nếu có) được phân chia như sau: Trong trường hợp được giao quyền sở hữu thì 50% dành cho đầu tư nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, 50% dành cho quỹ phúc lợi, khen thưởng của tổ chức; Trường hợp được giao quyền sử dụng thì phải trả lại cho đại diện chủ sở hữu nhà nước theo thỏa thuận nhưng không quá 10%, phần còn lại được dành 50% cho đầu tư nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, 50% cho quỹ phúc lợi, khen thưởng của tổ chức.

Những quy định trên là cơ sở pháp lý quan trọng để kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ được đánh giá khách quan, minh bạch hơn, ngăn chặn tình trạng lãng phí trong sử dụng tiền của ngân sách nhà nước để chi tiêu với danh nghĩa nghiên cứu khoa học!

Bênh cạnh đó, Thông tư cũng quy định chi tiết các tiêu chí xác định phương tiện vận tải chuyên dùng trong dây chuyền công nghệ để tạo tài sản cố định trong các dự án đầu tư và phương tiện vận tải trong dây chuyền công nghệ để tạo tài sản cố định của cơ sở đóng tàu, phải đáp ứng được các tiêu chí như: Có cấu tạo, tính năng kỹ thuật đáp ứng yêu cầu của dây chuyền công nghệ phù hợp mục tiêu, quy mô công suất của dự án đầu tư; là phương tiện cần thiết, thực hiện một chức năng cụ thể nhằm bảo đảm yêu cầu hoạt động đồng bộ của dây chuyền công nghệ và được sử dụng để phục vụ dây chuyền công nghệ, không thực hiện chức năng vận tải khác… Trường hợp có di chuyển ra ngoài khu vực lắp đặt dây chuyền công nghệ thì chỉ di chuyển theo tuyến đường, không gian đã được xác định trước theo mục tiêu hoạt động của dự án đầu tư.

Hy vọng những văn bản hướng dẫn thực hiện Luật Khoa học và Công nghệ (sửa đổi) như trên sẽ được tiếp tục bổ sung trong thời gian tới để từng bước tháo gỡ khó khăn trong việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ, là động lực phát triển phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.

Minh Anh

Tư Duy Phải Theo Kịp Chính Sách

Dự Thảo Luật Khoa Học Và Công Nghệ (Sửa Đổi): Nhiều Điểm Đột Phá

Luật Số 21/2000/qh10 Của Quốc Hội : Luật Khoa Học Và Công Nghệ

Luật Khoa Học Và Công Nghệ Số 21/2000/qh10 Ngày 09/06/2000 Của Quốc Hội (Văn Bản Hết Hiệu Lực)

Mẫu Hợp Đồng Nghiên Cứu Khoa Học Và Phát Triển Công Nghệ Năm 2022

Về Vấn Đề Dịch Văn Bản Khoa Học Kĩ Thuật Và Công Nghệ

Giáo Án Ngữ Văn 10 Bài: Văn Bản

Tóm Tắt Văn Bản Lão Hạc Của Nam Cao

Đề Kiểm Tra 15 Phút Môn Ngữ Văn 8

Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Bao Gồm Những Văn Bản Nào?

Văn Bản Pháp Luật Bao Gồm Những Gì

Ngày nay, trong những năm đầu của thế kỉ XXI, văn bản khoa học kĩ thuật và công nghệ được đặc biệt chú ý ‎ không những về nội dung mà còn về hình thức. Hiện nay, số lượng sách về các vấn đề khoa học kĩ thuật và công nghệ trên toàn thế giới là rất lớn. Ngoài ra, hàng năm con số các bài báo khoa học kĩ thuật và công nghệ đăng trên các tạp chí khoa học có thể tính đến con số vài triệu.

Trong quá trình giảng dạy và nghiên cứu ngôn ngữ trong môi trường kĩ thuật, chúng tôi nhận thấy rằng việc xây dựng bộ môn “Dịch văn bản khoa học kĩ thuật và công nghệ” dựa trên cơ sở các qui luật đang tồn tại giữa các ngôn ngữ được nghiên cứu là cần thiết. Ở đây, vai trò của ngôn ngữ học xã hội là rất to lớn trong việc giải thích không ít trường hợp không có tương đương trong các ngôn ngữ. Đồng thời, không thể giải thích tất cả các vấn đề dịch thuật trực tiếp bằng ngôn ngữ mà cần giải quyết vấn đề trên cơ sở chuyên môn của lĩnh vực khoa học kĩ thuật và công nghệ đang được nghiên cứu. Như vậy, dịch văn bản cần được xét đến từ các quan điểm ngôn ngữ cũng như khoa học kĩ thuật và công nghệ đặc thù, chú trọng hơn đến phương diện ngôn ngữ.

Dịch văn bản khoa học kĩ thuật và công nghệ là lao động phức tạp, tinh tế, sáng tạo, là kết quả làm việc liên tục trong lĩnh vực ngôn ngữ và chuyên ngành cụ thể. Thực tế chỉ ra rằng để dịch được ngôn ngữ khoa học kĩ thuật và công nghệ không cần thiết phải có kiến thức sâu về tất cả các lĩnh vực khoa học kĩ thuật và công nghệ. Để có được những bản dịch tốt, cần nắm vững ngôn ngữ khoa học kĩ thuật và công nghệ, thông thạo các qui luật của nó.

Phân tích đã chỉ ra rằng tất cả các ngôn ngữ văn bản khoa học kĩ thuật và công nghệ đều có đặc trưng về từ vựng, ngữ pháp và ngữ pháp lôgích như nhau (trừ văn bản khoa học phổ biến) và sự khác nhau của chúng chỉ là thuật ngữ chuyên ngành. Các nhà ngôn ngữ đã nghiên cứu phương pháp dịch văn bản khoa học kĩ thuật và công nghệ. A.L.Pumpjanski gọi phương pháp này là phương pháp song ngữ và trực tiếp sử dụng khái niệm này khi đưa ra thuật ngữ mới. Theo ông, dịch văn bản khoa học kĩ thuật và công nghệ được đặt cơ sở như hoạt động lời nói song ngữ, trong quá trình hoạt động này nội dung về khoa học kĩ thuật và công nghệ được truyền đạt từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác nhờ các phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ.

Qua nghiên cứu chúng tôi thấy rằng dịch có chất lượng phụ thuộc không những vào việc hiểu đúng nghĩa của thuật ngữ, mà còn vào khả năng phân tích văn bản của người dịch. Nghiên cứu song ngữ văn bản khoa học kĩ thuật và công nghệ cho thấy rằng dịch nghĩa văn bản khoa học kĩ thuật và công nghệ đạt hiệu quả nhất phụ thuộc vào việc hiểu đúng vỏ ngôn ngữ của thuật ngữ chuyên ngành.

Khác với các từ vị khác, thuật ngữ là vật mang thông tin lớn, khi không hiểu đúng nghĩa của vỏ ngôn ngữ của nó, thông tin lớn dễ dàng biến thành thông tin sai lệch khủng khiếp. Về hình thức, thuật ngữ trùng với nhiều đơn vị từ vựng của ngôn ngữ toàn dân. Thành phần từ vựng trong văn bản khoa học kĩ thuật và công nghệ thực hiện các chức năng của mình và thể hiện các qui luật đặc thù. Giữa các thuật ngữ khoa học kĩ thuật và công nghệ và ngôn ngữ toàn dân tồn tại mối liên kết chặt chẽ nhất. Ví dụ, các khái niệm phổ biến chung như “điện, nhiệt độ, xăng dầu” và các từ thường được sử dụng như “vitamin, kháng sinh, pelixelin, vũ trụ, giao thoa” không phải là các thuật ngữ trong ngôn ngữ hội thoại, ở đây điểm khởi đầu mang nghĩa của khoa học kĩ thuật và công nghệ đóng vai trò thứ yếu (phụ thuộc). Mặt khác, các từ thông dụng như “nước, đất, lửa, chất lỏng, lực, đất sét, bạc, áp suất” lại là các thuật ngữ trong ngữ cảnh khoa học và kĩ thuật khi mang ý nghĩa chức năng đầu tiên (cơ bản). Mỗi một từ được dùng làm thuật ngữ đều có sắc thái chuyên ngành đặc trưng của mình.

Vấn đề tranh luận nổi cộm là vấn đề tương quan giữa thuật ngữ và hệ thống thuật ngữ. Ở phương diện ngôn ngữ, vấn đề này cũng là hợp lí nếu chú ý đến các phạm trù đa nghĩa và đơn nghĩa của các đơn vị ngôn ngữ. Trong thuật ngữ, chúng ta biểu thị chính xác, tập trung và tiết kiệm tối đa các khái niệm chung và riêng gắn liền với hoạt động khoa học kĩ thuật và công nghệ của con người. Yêu cầu chủ yếu đối với thuật ngữ là nghĩa đơn của nó. Theo A.L.Pụmpanski, trên phương diện thuật ngữ chung thì yêu cầu này được đáp ứng bằng hai phương pháp và phân biệt hai phạm trù thuật ngữ là hợp lí : 1) thuật ngữ khoa học kĩ thuật và công nghệ phổ biến và 2) thuật ngữ chuyên ngành.

Thuật ngữ khoa học kĩ thuật và công nghệ phổ biến biểu thị khái niệm chung về khoa học kĩ thuật và công nghệ hoặc là của tất cả các lĩnh vực, hoặc là của một lĩnh vực, hoặc là của một chuyên ngành hoặc chuyên ngành hẹp của khoa học kĩ thuật và công nghệ ở giai đoạn phát triển nhất định của chúng. Từ vựng khoa học kĩ thuật và công nghệ phổ biến là tập hợp các thuật ngữ được biểu thị bằng từ và cụm từ, phần lớn các từ và cụm từ ở phương diện ngôn ngữ đại cương là đa nghĩa và đa chức năng. Tương quan giữa số lượng thuật ngữ và từ vựng khoa học kĩ thuật và công nghệ phổ biến trước hết phụ thuộc vào thể loại văn bản khoa học kĩ thuật và công nghệ. Thuật ngữ có ưu thế hơn trong thể loại tài liệu kĩ thuật: trong các bảng liệt kê, cataloge v.v., từ vựng khoa học kĩ thuật và công nghệ phổ biến thường có mặt trong các thể loại bài báo hoặc sách chuyên khảo. Nghiên cứu song ngữ về đa nghĩa giữa các ngôn ngữ cho khả năng phân loại từ, các đơn vị ngôn ngữ đa nghĩa của nhóm thuật ngữ từ vựng những nghĩa đảm bảo hiểu đúng tư duy khoa học và công nghệ. Các nghĩa này còn ít được nghiên cứu. Nguyên nhân là do việc dạy ngôn ngữ kĩ thuật chưa được hoặc ít được chú ý. Điều này cần được quan tâm một cách thích đáng trong quá trình dạy ngoại ngữ do tầm quan trọng của ngôn ngữ nước ngoài trong việc tiếp nhận kiến thức chuyên ngành một cách chính xác và đầy đủ nhất. Ví dụ, trong văn bản tiếng Anh khoa học kĩ thuật và công nghệ có sử dụng rộng rãi đồng âm của mạo từ ở nghĩa đầu tiên (the = này, a = một), điều này không hoàn toàn đã đặc trưng cho phong cách hội thoại và trong quá trình dạy và học nó không được tính đến. Chúng ta hãy xét ví dụ sau: The proportion in which the four possible products are formed psents a very complicated problem. Câu này nếu dịch là “Tỉ lệ tạo thành bốn sản phẩm có thể có là vấn đề rất phức tạp.” sẽ là thiếu nghĩa so với câu đúng là “Tỉ lệ tạo thành cả bốn sản phẩm có thể có là một vấn đề rất phức tạp.”

Thông thường, các từ khoa học kĩ thuật và công nghệ phổ biến có nguồn gốc nước ngoài được ưa thích sử dụng do dễ phân biệt tư duy khoa học kĩ thuật và công nghệ một cách chính xác. Ví dụ, trong tiếng Anh thay cho động từ to say thường sử dụng các động từ to assert, to state, to declare, thay cho to clean là to purify. Có ít thuật ngữ khoa học kĩ thuật và công nghệ phổ biến tương ứng với số lượng hạn chế của các khái niệm khoa học và công nghệ. Các thuật ngữ này, về nguyên tắc, được sinh ra và mất đi trong lòng ngôn ngữ toàn dân. Căn cứ vào nguồn gốc thì chúng có nhiều nghĩa và không tuân thủ qui định nào.

Thuật ngữ chuyên ngành biểu thị khái niệm từng phần của khoa học kĩ thuật và công nghệ. Chúng thường là đơn vị ngôn ngữ toàn dân một nghĩa của ngôn ngữ có quan hệ với nó ở giai đoạn phát triển nhất định của chúng. Thuật ngữ chuyên ngành tồn tại với số lượng rất lớn, tương ứng với số lượng không hạn chế các đối tượng hoạt động khoa học kĩ thuật và công nghệ của con người. Các thuật ngữ này xuất hiện một cách tự phát trong lòng ngôn ngữ toàn dân (so sánh: búa – búa thủy lực; chuột – chuột máy tính; trống – trống mực máy in), cũng như một cách có ý thức bằng cách vay mượn từ các ngôn ngữ khác, theo qui định và trật tự hệ thống, được thể hiện đặc biệt rõ ràng trong các khoa học như khoa học hóa học, môi trường, chế tạo máy. Thuật ngữ chuyên ngành làm phong phú một cách đáng kể ngôn ngữ toàn dân. Theo quan sát, hiện nay, trong các ngôn ngữ phát triển có khoảng 85% đến 90% từ vựng là thuật ngữ khoa học kĩ thuật và công nghệ. Tuy nhiên, trong mỗi ngành hẹp của khoa học kĩ thuật và công nghệ thì số lượng thuật ngữ chuyên ngành là rất hạn chế, hơn nữa chúng rất thường được nhắc lại. Đối với ngành hẹp, số lượng thuật ngữ rất ít. Theo quan sát trong nghiên cứu của chúng tôi, số lượng này không vượt quá 300 đơn vị. Với sự phát triển của khoa học kĩ thuật và công nghệ, thuật ngữ chuyên ngành đơn nghĩa có thể có nghĩa bổ sung và trở thành thuật ngữ khoa học kĩ thuật và công nghệ phổ biến đa nghĩa, còn thuật ngữ đa nghĩa có thể làm mất nghĩa của mình và trở thành thuật ngữ đơn nghĩa.

Cấu trúc ngữ pháp trong văn bản khoa học kĩ thuật và công nghệ về mặt hình thức trùng với cấu trúc ngôn ngữ toàn dân. Đặc trưng cho văn bản khoa học kĩ thuật và công nghệ là câu tương đối dài, sử dụng số lượng lớn các định nghĩa, bởi vì nhiệm vụ của văn bản khoa học kĩ thuật và công nghệ là mô tả và giải thích các dữ kiện nhất định một cách có thể chính xác nhất. Vì vậy, trong văn bản khoa học kĩ thuật và công nghệ chiếm ưu thế là danh từ, tính từ và động từ vô nhân xưng. Trong ngôn ngữ khoa học kĩ thuật và công nghệ có sự biểu đạt hình ảnh trực quan nhưng chúng ở dạng sơ đồ bản vẽ và mẫu, đồng thời có đặc trưng lôgích biểu thị.

Cú pháp văn bản khoa học kĩ thuật và công nghệ phân biệt bởi sự bão hòa về cấu trúc: gần một nửa tất cả các câu (thông báo) được định hướng đối với các dữ kiện cụ thể cần được mô tả và giải thích. Chiếm ưu thế là các câu có cấu trúc bị động. Trong văn bản khoa học kĩ thuật và công nghệ thường sử dụng các cấu trúc vô nhân xưng không xác định và vô nhân xưng với nghĩa đánh giá, nhận định: đã quyết định, được thừa nhận một cách hợp lí, cần chú ý, cần thiết, quan trọng là v.v.

Sự biểu đạt nội dung văn bản một cách lôgích và sự thiếu ngữ điệu hình thành nghĩa tích cực trong văn bản khoa học kĩ thuật và công nghệ, làm giảm đáng kể mức độ phân tán giữa cấu trúc ngữ pháp câu và cấu trúc lôgích của nó. Sự hiện diện của phân đoạn câu ngữ pháp – lôgích trong văn bản khoa học kĩ thuật và công nghệ đã được chứng minh trên cơ sở ngữ liệu song ngữ, khẳng định tính tổng hợp của tư duy khoa học và công nghệ, cho phép đảm bảo tính đồng nhất thông tin và dịch có chất lượng từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác. Rõ ràng rằng tất cả các thành phần câu về mặt thông tin là đa nghĩa và mang hoặc là thông tin chủ yếu, hoặc là thông tin phụ và đều phụ thuộc vào cấu trúc của câu.

Soạn Bài: Phong Cách Ngôn Ngữ Khoa Học Mẫu 2

Bài Soạn Lớp 12: Phong Cách Ngôn Ngữ Khoa Học

Vai Trò Của Khoa Học Và Công Nghệ Trong Công Tác Bảo Vệ Môi Trường

Chung Tay Bảo Vệ Môi Trường Là Trách Nhiệm Của Cộng Đồng

Soạn Bài Phong Cách Ngôn Ngữ Khoa Học

1.ngôn Ngữ Khoa Học Là Gì? Văn Bản Khoa Học Gồm Mấy Loại? 2.đặc Trưng

Các Đặc Trưng Của Một Văn Bản Khoa Học

Phong Cách Ngôn Ngữ Khoa Học

Soạn Bài Kiều Ở Lầu Ngưng Bích

Kiều Ở Lầu Ngưng Bích

Đọc Hiểu Văn Bản Kiều Ở Lầu Ngưng Bích

Lời giải của Tự Học 365

Giải chi tiết:

1.*Ngôn ngữ khoa học là ngôn ngữ được dùng trong giao tiếp thuộc lĩnh vực khoa học, tiêu biểu là trong các văn bản khoa học.

*Văn bản khoa học gồm ba loại chính: các văn bản khoa học chuyên sâu, các văn bản khoa học giáo khoa, các văn bản khoa học phổ cập.

2.Đặc trưng của phong cách ngôn ngữ khoa học

*Tính khái quát, trừu tượng

-Đặc trưng này biểu hiện không chỉ ở nội dung khoa học mà cả ở các phương tiện ngôn ngữ, trước hết là các thuật ngữ khoa học.

-Trong văn bản khoa học có sử dụng một số lượng lớn các thuật ngữ khoa học thuộc về lớp từ vựng khoa học chuyên ngành, không giống với từ ngữ thông thường được sử dụng trong giao tiếp hàng ngày.

-Tính khái quát, trừu tượng của phong cách ngôn ngữ khoa học còn thể hiện ở kết cấu của văn bản. Kết cấu đó phục vụ cho hệ thống các luận điểm khoa học từ lớn đến nhỏ, từ cấp độ cao đến cấp độ thấp, từ khái quát đến cụ thể (hoặc ngược lại).

*Tính lí trí, logic

-Từ ngữ trong các văn bản khoa học phần lớn là những từ ngữ thông thường, nhưng chỉ dùng được với một nghĩa. Trong văn bản khoa học, người ta không dùng từ đa nghĩa, không dùng từ theo nghĩa bóng và ít dùng các phép tu từ.

-Câu văn trong văn bản khoa học là một đơn vị thông tin, đơn vị phán đoán logic. Mỗi câu thường tương đương với một phán đoán logic, nghĩa là được xây dựng từ hai khái niệm khoa học trở lên theo một quan hệ nhất định. Câu văn trong văn bản khoa học yêu cầu chính xác, chặt chẽ, logic.

-Tính lí trí, logic cũng thể hiện ở việc cấu tạo đoạn văn, văn bản. Các câu, các đoạn trong văn bản phải được liên kết chặt chẽ và mạch lạc. Mối liên hệ giữa các câu, các đoạn, các phần phục vụ cho lập luận khoa học. Toàn bộ văn bản khoa học cũng thể hiện một lập luận logic, từ khâu đặt vấn đề, giải quyết vấn đề đến khâu kết luận.

*Tính khách quan, phi cá thể

-Nét phổ biến của ngôn ngữ khoa học là sử dụng ngôn ngữ khách quan, phi cá thể.

-Ngôn ngữ trong văn bản khoa học, đặc biệt là văn bản khoa học chuyên sâu, văn bản khoa học giáo khoa, rất hạn chế sử dụng những biểu đạt có tính chất cá nhân.

Tuần 18. Các Hình Thức Kết Cấu Của Văn Bản Thuyết Minh

Thế Nào Là Văn Thuyết Minh?

Đặc Điểm Và Tính Chất Của Văn Bản Thuyết Minh Là Gì? Cách Làm Bài Văn Thuyết Minh

Văn Thuyết Minh Là Gì, Phương Pháp Thuyết Minh, Cách Làm Bài Văn Thuyết Minh

Văn Bản Thuyết Minh Là Gì?