Văn Bản Kiều Ở Lầu Ngưng Bích Lớp 9 / TOP #10 Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 8/2022 # Top View | Bac.edu.vn

Phân Tích Đoạn Trích Kiều Ở Lầu Ngưng Bích Văn Lớp 9

--- Bài mới hơn ---

  • Cảm Nhận Của Em Về Đoạn Trích Kiều Ở Lầu Ngưng Bích
  • Phân Tích 6 Câu Đầu Trong Đoạn Trích Kiều Ở Lầu Ngưng Bích
  • Bài Văn Cảm Nhận Về Đoạn Trích Kiều Ở Lầu Ngưng Bích
  • Cảm Nhận Về Đoạn Trích Kiều Ở Lầu Ngưng Bích
  • Cảm Nhận Về Nhân Vật Thúy Kiều Trong Đoạn Trích “kiều Ở Lầu Ngưng Bích”
  • Phân tích đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích văn lớp 9

    Hướng dẫn

    Đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” nằm ở phần thứ hai “Gia biến và lưu lạc”. Để có tiền chuộc cha, Kiều phải bán mình, rơi vào tay Mã Giám Sinh và bị bán vào lầu xanh. Quá ê chề, nhục nhã, Kiều tự tử nhưng không thành. Tú Bà giam lỏng Kiều ở lầu Ngưng Bích với lời hẹn xuông để thực hiện một âm mưu mới. Đoạn thơ là bức tranh tâm tình đầy xúc động, bi kịch nội tâm của Thúy Kiều được tác giả miêu tả qua bút pháp tả cảnh ngụ tình và ngôn ngữ độc thoại. Mỗi nét cảnh là một nét tâm trạng buồn đau.

    Đoạn trích được chia làm ba phần. Phần đầu là cảnh ngộ cô đơn, tội nghiệp của Kiều khi nàng bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích. 6 câu thơ đầu mở ra bức tranh buồn về cảnh ngộ éo le, bẽ bàng:

    • “Trước lầu Ngưng Bích khoá xuân
    • Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung
    • Bốn bề bát ngát xa trông
    • Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia
    • Bẽ bàng mây sớm đèn khuya
    • Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng”

    Lầu Ngưng Bích chỉ nghe thấy tên đã thấy đẹp, là nơi non xanh nước biếc, phong thủy hữu tình. Nhưng cái lầu cao ấy lại là nơi giam lỏng Thúy Kiều cả về tâm hồn lẫn thể xác. Bị Tú Bà “khóa xuân” ở lầu Ngưng Bích, Kiều da diết nhớ người thân, đồng thời lại đau xót cho thân phận của mình. Cảnh vật do đó nhuốm màu tâm trạng. Bởi vậy dù có cả “vẻ non xa” lẫn “tấm trăng gần” nhưng cảnh cũng chẳng thể nào gợi nên một chút tươi vui hay ấm áp. Kiều và thiên nhiên “ở chung” một bầu trời nhưng Kiều vẫn cô đơn. Nhìn ra bốn phía chỉ có cát vàng cồn nọ bụi hồng đặm kia trải dài bát ngát, không một nét thân mật, không một sự gần gũi, không hề có bóng dáng của sự sống. Ba từ “bốn bề, bát ngát, xa trông” chỉ độ rộng, độ xa được sử dụng liên tiếp trong một câu thơ vừa gợi về một không gian mênh mông, hoang vắng đến rợn ngợp, vừa khắc sâu thêm sự lẻ loi, cô độc của Kiều.

    Không gian, thời gian giam hãm Kiều trong một vòng luẩn quẩn, hết sáng lại chiều, từ ngày này qua ngày khác khiến Kiều càng tan nát đớn đau.

    • “Bẽ bàng mây sớm đèn khuya
    • Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng”.

    Cái vắng lặng của thiên nhiên và cái mênh mông của vũ trụ khắc sâu thêm cảm giác cô đơn trong tâm hồn Thúy Kiều và dồn tới lớp lớp những nỗi niềm chua xót, đau thương. Ngắm “mây sớm, đèn khuya”, những sự vật gợi lên sự trong trắng tinh khiết – Kiều càng thêm tủi phận, “bẽ bàng” khi nhận ra cái “chân dung biến dạng” của mình. Tình ấy, cảnh ấy “như chia tấm lòng”.

    Sau nỗi niềm cô đơn buồn tủi là nỗi nhớ người thân, nhớ nhà. Trước hết Kiều nhớ đến Kim Trọng.

    • “Tưởng người dưới nguyệt chén đồng
    • Tin sương luống những rày trông mai chờ
    • Bên trời góc bể bơ vơ
    • Tấm son gột rửa bao giờ cho phai”.

    Nhớ tới người yêu là một chữ “tưởng” – bao yêu thương nhung nhớ vào trong chữ “tưởng” ấy. Nàng thương Kim Trọng mong chờ tin của mình một cách vô vọng. Nàng nhớ đến đêm uống rượu thề nguyền dưới trăng, càng nhớ thì càng khẳng định tấm lòng thủy chung son sắc: “Tấm son gột rửa bao giờ cho phai”. Nhưng đằng sau đó là một sự xót xa, day dứt khôn nguôi về một thân phận, về một con người đã ô uế, nhơ nhớp, không thể nào gột rửa được.

    Sau nỗi nhớ người yêu là nỗi nhớ cha mẹ. Việc Nguyễn Du miêu tả nỗi nhớ Kim Trọng trước nỗi nhớ cha mẹ là hoàn toàn hợp lí. Kiều đã lựa chọn chữ “hiếu” mà quên đi chữ “tình” nên người nàng cảm thấy có lỗi nhất chính là Kim Trọng. Nhưng không vì thế mà nỗi nhớ cha mẹ kém phần day dứt.

    • “Xót người tựa cửa hôm mai
    • Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ
    • Sân Lai cách mấy nắng mưa
    • Có khi gốc tử đã vừa người ôm”.

    Khi nhớ người yêu thì Nguyễn Du sử dụng từ “tưởng”, còn khi nghĩ về cha mẹ lại là “xót”. Cách sử dụng từ ngữ ấy rất hợp lí. Từ “xót” thể hiện tâm trạng lo lắng khôn nguôi của kiều dành cho cha mẹ. Nàng xót thương cho người mẹ tựa cửa ngóng chờ con. Xót thương cho cảnh cha mẹ già yếu không biết ai chăm sóc. Câu hỏi tu từ cùng điển cố “quạt nồng ấp lạnh” đã xoáy sâu vào nỗi lòng, nỗi xót xa, lo lắng cho cha mẹ. Sử dụng liên tiếp các hình ảnh ước lệ “Sân Lai cách mấy nắng mưa, gốc tử” càng khắc sâu hơn tâm trạng nhớ gia đình, nhớ nhà. Nàng tưởng đến những thay đổi của quê hương, những thay đổi khá nhanh. Mới xa gia đình được một tháng nhưng nàng tưởng như đã cả năm, những tháng ngày dài dằng dặc cứ lặng lẽ qua chậm chạp. Đối với nàng, hi sinh chữ “tình” để báo đáp chữ “hiếu” vẫn là chưa đủ. Nàng muốn được làm nhiều hơn, muốn chăm sóc nhiều hơn cho cha mẹ nhưng không thể. Thông qua bốn câu thơ ngắn gọn, Nguyễn Du muốn nói về tấm lòng của Kiều nói riêng và người phụ nữ Việt Nam nói chung là sự thủy chung son sắt, lòng hiếu thảo, tấm lòng vị tha.

    Tiếp sau nỗi nhớ người thân là nỗi buồn trùng điệp mênh mang, dồn dập như các lớp sóng được thể hiện qua ngòi bút tả cảnh ngụ tình. Mỗi bức tranh là một nỗi buồn. Bốn bức tranh ấy thấm đẫm nỗi buồn của người con gái xa quê hương. Mở đầu mỗi bức tranh là điệp ngữ “buồn trông”:

    • “Buồn trông cửa bể chiều hôm
    • Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa
    • Buồn trông ngọn nước mới sa
    • Hoa trôi man mác biết là về đâu
    • Buồn trông nội cỏ rầu rầu
    • Chân mây mặt đất một màu xanh xanh
    • Buồn trông gió cuốn mặt duềnh
    • Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi”

    Bức tranh 1: cửa biển hoàng hôn: trong cảnh chiều hôm bát ngát; nước, trời thấm đẫm một màu tím buồn. Giữa trời, nước mênh mông, trong bóng chiều bảng lảng, thấp thoáng một con thuyền khi ẩn khi hiện, xa xa. Cánh buồm ấy, con thuyền ấy gợi lên cho Kiều nỗi nhớ nhà tha thiết và nỗi buồn thương khi liên tưởng mình cũng như cánh buồm kia lênh đênh trên biển lớn không có bến bờ.

    Bức tranh 2: Sau câu hỏi “thuyền ai” lại đến câu hỏi “hoa trôi về đâu?”. Cánh hoa trôi nổi tan tác trên dòng nước mới sa khiến Kiều nghĩ đến kiếp đời lênh đênh, nổi trôi vô định không biết dạt về đâu của mình. Hai câu hỏi tu từ khắc khoải bồn chồn như xoáy sâu vào những dự cảm mà Kiều linh cảm về tương lai.

    Bức tranh 3: Nhìn sang phía khác vẫn một màu “buồn trông” từ chân mây đến mặt đất chỉ là một màu xanh xanh, nhạt nhòa. Màu “xanh xanh” làm cho cỏ cây không còn nét tươi sáng lại thêm vẻ “rầu rầu” làm cho sự sống thêm cạn kiệt, bức tranh phong cảnh héo tàn. Khung cảnh ảm đạm, thê lương phản ánh nỗi mệt mỏi, chán chường, tủi thân về một cuộc sống vô vị. Màu cỏ trên mộ Đạm Tiên hiện ra trước mắt trong khung cảnh trở thành một thứ ám ảnh ghê gớm đối với người con gái đang tuyệt vọng.

    Bức tranh 4: Gió cuốn sóng gào: là bức tranh dữ dội nhất, có âm thanh nhưng lại là âm thanh gào thét đầy bão tố. Sóng gió ầm ầm bủa vây quanh ghế ngồi như muốn ập xuống, cuốn phăng Kiều, khiến Kiều hãi hùng, tuyệt vọng khi linh cảm thấy bão tố cuộc đời sắp đổ sập xuống đầu mình.

    8 câu thơ đều xoay tròn trong nỗi buồn mênh mang, tuyệt vọng của Kiều. Bút pháp tả cảnh ngụ tình; điệp ngữ liên hoàn “buồn trông”; cùng với hệ thống từ láy đã gợi tả tinh tế tâm trạng buồn thương, tê tái của Thúy Kiều. Tình và cảnh có sự vận động từ mờ nhạt đến rõ đậm; từ xa đến gần; từ tĩnh đến động; từ phấp phỏng đến kinh sợ, hãi hùng.

    “Kiều ở lầu Ngưng Bích” là một trong những đoạn miêu tả nội tâm nhân vật sâu sắc nhất trong “Truyện Kiều”, đặc biệt là bút pháp tả cảnh ngụ tình. Đoạn thơ cho thấy cảnh ngộ cô đơn buồn tủi và tấm lòng hiếu thảo, chung thủy của Kiều khi bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 3 Bài Văn Phân Tích Đoạn Trích Kiều Ở Lầu Ngưng Bích, Trích Truyện Kiề
  • Soạn Bài Kiều Ở Lầu Ngưng Bích, Trích Truyện Kiều, Nguyễn Du
  • Top 3 Soạn Bài Kiều Ở Lầu Ngưng Bích Ngắn Nhất.
  • Tóm Tắt Đoạn Trích Kiều Ở Lầu Ngưng Bích
  • Phân Tích Tâm Trạng Nhân Vật Thúy Kiều Khi Ở Lầu Ngưng Bích Trích Truyện Kiều Của Nguyễn Du
  • Kiều Ở Lầu Ngưng Bích

    --- Bài mới hơn ---

  • Đọc Hiểu Văn Bản Kiều Ở Lầu Ngưng Bích
  • Soạn Bài Kiều Ở Lầu Ngưng Bích Ngắn Gọn Nhất
  • ✅ Kiều Ở Lầu Ngưng Bích (Trích Truyện Kiều)
  • Mẫu Văn Bản Khai Nhận Di Sản Thừa Kế Năm 2022
  • Mẫu Văn Bản Khai Nhận Di Sản Thừa Kế
    • Nguyễn Du sinh năm 1765 mất năm 1820.
    • Tên chữ là Tố Như, hiệu Thanh Hiên.
    • Quê quán: làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.
    • Cuộc đời
      • Ông sinh trưởng trong gia đình đại quý tộc có truyền thống khoa bảng và sáng tạo nghệ thuật.
      • Ông sống trong thời đại đau khổ, bế tắc và nhiều biến động.
      • Ông là người có hiểu biết sâu rộng, có vốn sống phong phú, Nguyễn Du đã sống nhiều năm lưu lạc tiếp xúc với nhiều cảnh đời và thân phận con người trong thời đại loạn lạc, dâu bể.
      • Sự nghiệp văn học của Nguyễn Du rất phong phú và đồ sộ.
    • Ông có ba tập thơ chữ Hán với 243 bài, sáng tác chữ Nôm xuất sắc nhất là “Truyện Kiều”.
    • Đoạn trích được trích trong tác phẩm Truyện Kiều, được viết bằng chữ Nôm.
    • Đoạn trích nằm ở phần hai (Gia biến và lưu lạc).
    • Sau khi biết mình bị lừa vào chốn lầu xanh, Kiều uất ức định tự vẫn. Tú Bà vờ hứa hẹn đợi bà bình phục sẽ gả chồng cho nàng vào nơi tử tế, rồi đưa Kiều ra giam lỏng ở lầu Ngưng Bích, đợi thực hiện âm mưu mới.
      Văn bản được bố cục thành ba phần.

      • Phần 1: 6 câu đầu: Hoàn cảnh cô đơn của Kiều.
      • Phần 2: 8 câu còn lại: Nỗi nhớ của Kiều
      • Phần 3: Còn lại: Tâm trạng của Thúy Kiều.
    • Không gian: Lầu Ngưng Bích.
    • Thời gian: Mây sớm, đèn khuya, trăng.
    • Cảnh vật
      • Non xa – trăng gần.
      • Mây – đèn.
      • Cồn cát nọ – bụi hồng kia.
      • Bốn bề bát ngát.

    ⇒ Nghệ thuật liệt kê, đối lập làm cho cảnh vật hiện ra bộn bề, bát ngát mênh mông đối lập với lòng người cô đơn trống vắng nơi đất khách quê người.

      Câu thơ “nửa tình“: vẻ đẹp trước lầu Ngưng Bích đã được nàng gửi gắm và tình cảm nhớ quê hương. Lúc này tình cảm và cảnh vật cứ đan xen,hoà trộn làm cho tâm trạng bẽ bàng, sầu tủi.

    ⇒ Cảnh vật dưới cái nhìn của Kiều được hiện ra đẹp nhưng đượm buồn.

    • Nhớ người yêu.
    • Nhớ cha mẹ.
    • Nỗi nhớ Kim Trọng.
      • Nhớ đêm thề nguyện với Kim Trọng dưới đêm trăng.
      • Hình dung Kim Trọng nơi xa xôi đang mong chờ tin tức. Kiều cảm thấy mình có lỗi.
      • Tấm son gột rửa“: động từ mạnh “gột rửa” diễn tả tấm lòng thuỷ chung, mối tình đầu đẹp đẽ không thể gột rửa được cho dù nàng muốn lãng quên nó đi.

    ⇒ Tác giả dùng từ chọn lọc diễn tả nỗi nhớ người yêu đau đáu, da diết, đầy cảm động.

      Nỗi nhớ cha mẹ.

      • xót“: xót thương cha mẹ ngày ngày “tựa cửa” ngóng tin con.
      • Quạt nồng ấp lạnh“: lo cho cha mẹ, thương cha mẹ già yếu mà mình không được chăm sóc. Kiều tự trách mình không chu đáo.
      • Điển tích “Sân Lai” để nói đến tấm lòng hiếu thảo của Kiều chỉ biết lo cho người khác mà không nghĩ đến mình.

    ⇒ Kiều là người thuỷ chung, hiếu thảo, vị tha.

    • Điệp ngữ: “buồn trông” 4 lần, kết hợp một hệ thống từ láy và đặc biệt là mỗi cặp câu thơ là một cảnh vật.
      • Cảnh vật: hình ảnh cánh buồm “xa xa” thấp thoáng nơi cửa bể chiều hôm gợi cảnh đời lưu lạc nơi chân trời góc bể, nỗi nhớ quê hương da diết.
      • Cảnh vật: cánh hoa trôi man mác gợi lên số phận lênh đênh vô định của Kiều.
      • Cảnh vật: nội cỏ rầu rầu gợi về một tương lai mờ mịt trong xã hội phong kiến suy tàn không lối thoát mà thân phận nhỏ bé của con người không biết làm sao đây.
      • Cảnh vật: “gió cuốn mặt duềnh“, “ầm ầm tiếng sóng” kêu gợi tâm trạng hãi hùng, lo sợ trước số phận, cuộc sống đang đe doạ bủa vây xung quanh nàng.
    • Nghệ thuật: vần bằng, hệ thống từ láy tạo nên nỗi buồn tầng tầng lớp lớp.
    • Miêu tả cảnh vật từ xa đến gần diễn tả tâm trạng từ chỗ nhớ quê hương, người thân đến lo buồn cho tương lai, sợ hãi, rùng rợn cho số phận của mình.

    ⇒ Với nghệ thuật tả cảnh ngụ tình, tác giả xây dựng một bức tranh tâm trạng đặc sắc nhất, hay nhất của Truyện Kiều: nỗi buồn đau của Kiều như lan toả sang cảnh vật đã xâm chiếm lòng nàng.

    Ghi chú:

    • Nội dung: Đoạn thơ thể hiện tâm trạng cô đơn, buồn tủi và tấm lòng thủy chung, hiếu thảo của Thúy Kiều.
    • Nghệ thuật: Miêu tả nội tâm nhân vật, diễn biến tâm trạng được thể hiện qua ngôn ngữ độc thoại.
      • Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình đặc sắc.
      • Điệp ngữ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Kiều Ở Lầu Ngưng Bích
  • Phong Cách Ngôn Ngữ Khoa Học
  • Các Đặc Trưng Của Một Văn Bản Khoa Học
  • 1.ngôn Ngữ Khoa Học Là Gì? Văn Bản Khoa Học Gồm Mấy Loại? 2.đặc Trưng
  • Tuần 18. Các Hình Thức Kết Cấu Của Văn Bản Thuyết Minh
  • Soạn Bài: Kiều Ở Lầu Ngưng Bích – Ngữ Văn 9 Tập 1

    --- Bài mới hơn ---

  • Tìm Hiểu Kiến Thức Văn Bản: Kiều Ở Lầu Ngưng Bích (Trích Truyện Kiều
  • Cảm Nhận Đoạn Trích Kiều Ở Lầu Ngưng Bích
  • Cảm Nhận Về Nhân Vật Thúy Kiều Trong Đoạn Trích “Kiều Ở Lầu Ngưng Bích”
  • Phân Tích Ý Nghĩa Đoạn Trích Kiều Ở Lầu Ngưng Bích (Trích Truyện Kiều Của Nguyễn Du)
  • Ôn Tập Luyện Thi Văn Bản: Kiều Ở Lầu Ngưng Bích (Trích Truyện Kiều Của Nguyễn Du)
  • I. Tác giả, tác phẩm

    1. Tác giả: Nguyễn Du

    2. Tác phẩm

    * Vị trí đoạn trích: Đoạn trích nằm ở phần thứ hai (Gia biến và lưu lạc). Sau khi biết mình bị lừa vào chốn lầu xanh, Kiều uất ức định tự vẫn. Tú Bà vờ hứa hẹn đợi Kiều bình phục sẽ gả chồng cho nàng vào nơi tử tế, rồi đưa Kiều ra giam lỏng ở lầu Ngưng Bích, đợi thực hiện âm mưu mới.

    * Bố cục: Văn bản có thể chia làm 3 phần:

    • 6 câu đầu: Khung cảnh bi kịch của nội tâm
    • 8 câu tiếp: Nỗi nhớ người thân
    • 8 câu cuối : Tâm trạng buồn lo của Kiều.

    II. Hướng dẫn soạn bài

    Câu 1:

    a) Đặc điểm của không gian trước lầu Ngưng Bích: không gian rộng lớn mênh mông,  hoang vắng, cô đơn, bốn bề bao la bát ngát, cồn cát nằm im lìm, dãy núi nhấp nhô, ánh trăng làm bạn.

    b) Thời gian qua cảm nhận của Thúy Kiều là từ sáng sớm đến đêm khuya, thời gian cứ quay vòng từ ngày này sang ngày khác.

    c) Qua khung cảnh thiên nhiên, có thể thấy Thúy Kiều đang ở trong tâm trạng cô đơn, tội nghiệp, mất tự do nơi hữu tình thơ mộng và hoang vắng.

    Câu 2:

    Tám câu thơ tiếp theo trực tiếp nói lên nỗi nhớ thương của Kiều.

    a) Trong cảnh ngộ của mình, nàng đã nhớ tới Kim Trọng, sau đó nhớ về cha mẹ. Như vậy là hợp lí, bởi với cha mẹ, nàng đã gặp trước lúc đi xa, vì đã bán thân chuộc cha nên cũng đỡ lo hơn. Còn đối với Kim Trọng, người nàng thương, trong khi chàng chưa biết tin gì về gia đình Kiều. Đặc biệt, nàng day dứt, đau đớn, cảm thấy tội lỗi khi không giữ được lời thề nguyền với Kim Trọng.

    b) Cùng là nỗi nhớ nhưng cách nhớ khác nhau với những lí do khác nhau nên cách thể hiện cũng khác nhau. Nghệ thuật dùng từ ngữ, hình ảnh: nhiều hình ảnh ước lệ như: chén đồng, tin sương, tấm son, quạt nồng ấp lạnh, sân lai, gốc tử,… Và việc dùng từ ngữ đã góp phần thể hiện tâm trạng đau đớn, day dứt với Kim Trọng cũng như thể hiện nỗi xót xa, lo lắng cho cha mẹ ở quê nhà.

    c) Qua nỗi nhớ thương của Thúy Kiều, em thấy Kiều là một người con hiếu thảo với cha mẹ, một người tình chung thủy. Kiều luôn biết nghĩ cho người khác mặc dù mình cũng đang trong cảnh cô đơn, mất tự do.

    Câu 3:

    Tám câu thơ cuối miêu tả cảnh vật qua tâm trạng.

    a) Cảnh vật ở đây là hư, đây là thể hiện tâm trạng chứ không phải tả cảnh thực.

    Mỗi cảnh vật đều có nét riêng, đồng thời lại có nét chung để diễn tả tâm trạng Kiều:

    • Cánh buồm nhỏ xa xăm, vô định giống như thân phận của Kiều, cuộc đời mất tự do, mất phương hướng.
    • Hình ảnh cánh hoa bị vùi dập cũng giống như số kiếp bi đát của Kiều.
    • Nội cỏ rầu rầu một màu đơn điệu như màu sắc cuộc đời của nàng, cũng rất tẻ nhạt, vô vị.
    • Gió cuốn, sóng ầm ầm cũng chính là những sóng gió ập đến trong cuộc đời mà Kiều phải trải qua.

    b) Cách dùng điệp ngữ trong 8 câu thơ cuối:

    Điệp ngữ “Buồn trông” được lặp lại tới 4 lần và đều nằm ở vị trí đầu những câu lục và càng tạo âm hưởng trầm buồn cho câu thơ. Nó giống như những đợt sóng lòng trùng điệp, càng khiến cho nỗi buồn dằng dặc và mênh mông. Kết hợp với đó là cái nhìn từ xa đến gần, càng thu vào trong tâm tư của Kiều nỗi cô đơn, tâm trạng sầu nhớ cùng với nỗi lo sợ về tương lai phía trước.

    4

    /

    5

    (

    22

    bình chọn

    )

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lý Giải Việc Xuất Hiện Những Trận Mưa Đá Vừa Qua
  • Kinh Nghiệm Sắp Xếp Hồ Sơ Tài Liệu Trong Kho Lưu Trữ Khoa Học Nhất
  • Hướng Dẫn Triển Khai Quy Trình Quản Lý Và Sắp Xếp Hồ Sơ, Tài Liệu Khoa Học
  • Sắp Xếp Hồ Sơ Khoa Học, Hiệu Quả Với 5 Bước
  • Lý Thuyết Tiếp Nhận Văn Học Tại Việt Nam – Một Cái Nhìn Chung – Văn Nghiệp
  • Tìm Hiểu Kiến Thức Văn Bản: Kiều Ở Lầu Ngưng Bích (Trích Truyện Kiều

    --- Bài mới hơn ---

  • Cảm Nhận Đoạn Trích Kiều Ở Lầu Ngưng Bích
  • Cảm Nhận Về Nhân Vật Thúy Kiều Trong Đoạn Trích “Kiều Ở Lầu Ngưng Bích”
  • Phân Tích Ý Nghĩa Đoạn Trích Kiều Ở Lầu Ngưng Bích (Trích Truyện Kiều Của Nguyễn Du)
  • Ôn Tập Luyện Thi Văn Bản: Kiều Ở Lầu Ngưng Bích (Trích Truyện Kiều Của Nguyễn Du)
  • Hệ Thống Câu Hỏi Ôn Tập Đoạn Trích Kiều Ở Lầu Ngưng Bích Của Nguyễn Du
  • Kiều ở lầu Ngưng Bích

    (trích Truyện Kiều – Nguyễn Du)

    I. Đọc – hiểu chú thích.

    1. Tác giả: Nguyễn Du

    a. Vị trí đoạn trích:

    – Nằm ở phần thứ hai “Gia biến và lưu lạc”. Sau khi biết mình bị lừa vào chốn lầu xanh, Kiều uất ức định tự vẫn. Tứ Bà sợ mất vốn, bèn lựa lời khuyên giải, dụ dỗ. Mụ vờ chăm sóc, thuốc thang, hứa hẹn khi nàng bình phục,sẽ gả cho người tử tế; rồi đưa Kiều ra giam lỏng ở lầu Ngưng Bích, đợi thực hiện âm mưu mới. Sau đoạn này là việc Kiều bị Sở Khanh lừa và phải chấp nhận làm gái lầu xanh. Đoạn trích nằm giữa hai biến cố đau xót. Đây là những biến cố giúp ta hiểu những bàng hoàng tê tái và sự lo âu về tương lại của nàng Kiều.

    2. Bố cục đoạn trích:

    – Sáu câu đầu: Hoàn cảnh cô đơn, cay đắng xót xa của Kiều

    – Tám câu tiếp: Nỗi thương nhớ Kim Trọng và cha mẹ của Kiều

    – Tám câu cuối: Tâm trạng đau buồn, âu lo của Kiều qua cách nhìn cảnh vật.

    3. Nội dung:

    Đoạn trích đã miêu tả chân thực cảnh ngộ cô đơn, buồn tủi, đáng thương, nỗi nhớ người thân da diết và tấm lòng thủy chung, hiếu thảo vị tha của Thúy Kiều khi bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích

    II. Đọc – hiểu văn bản:

    1. Hoàn cảnh cô đơn, buồn tủi của Kiều (6 câu thơ đầu).

    * Sáu câu thơ đầu gợi tả cảnh thiên nhiên nơi lầu Ngưng Bích với không gian, thời gian.

    – Không gian nghệ thuật được miêu tả dưới con mắt nhìn của Thúy Kiều:

    + Lầu Ngưng Bích là nơi Kiều bị giam lỏng. Hai chữ “khóa xuân” đã nói lên điều đó.

    + Cảnh đẹp nhưng mênh mông, hoang vắng và lạnh lẽo:

    • Ngước nhìn xa xa, chỉ thấy dãy núi mờ nhạt.
    • Nhìn lên trời cao chỉ có “tấm trăng gần” → Thời gian chiều tối, gợi buồn.
    • Xa hơn nữa, nhìn ra “bốn bề bát ngát xa trông” là những cát vàng cồn nọ nối tiếp nhau cùng với bụi hồng trên dặm dài thăm thẳm.

    – Nàng đau đớn, tủi nhục cho thân phận của mình.

    + Cụm từ “mây sớm đèn khuya” gợi thời gian tuần hoàn khép kín, quanh đi quẩn lại hết “mây sớm” lại “đèn khuya”. Thời gian cứ thế trôi đi, rồi lặp lại, Kiều thấy tuyệt vọng với tâm trạng cô đơn, buồn tủi, hổ thẹn đến “bẽ bàng”.

    + Bốn chữ “như chia tấm lòng” diễn tả nỗi niềm chua xót, nỗi lòng tan nát của Kiều.

    ⇒ Bút pháp chấm phá đặc sắc, khung cảnh làm nền cho Kiều thổ lộ tâm tình. Thiên nhiên rộng lớn mà con người nhỏ bé, đơn côi.

    2. Nỗi thương nhớ Kim Trọng và cha mẹ của Kiều (8 câu thơ tiếp theo).

    * Nỗi nhớ về Kim Trọng:

    + Nàng nhớ đến cảnh mình cùng Kim Trọng uống rượu thề nguyền dưới ánh trăng. Chữ “tưởng” ở đây có thể xem là một nhãn tự. Nguyễn Du không dùng chữ “nhớ” mà dùng chữ “tưởng”.“Tưởng” vừa là nhớ, vừa là hình dung, tưởng tượng ra người mình yêu.

    + Thúy Kiều như tưởng tượng thấy, ở nơi xa kia, người yêu cũng đang hướng về mình, đang ngày đêm đau đáu chờ tin nàng: “Tin sương luống những rày trông mai chờ”.

    + Rồi bất chợt, nàng liên tưởng đến thân phận “bên trời góc biển bơ vơ” của mình. Kiều băn khoăn tự hỏi: “Tấm son gột rửa bao giờ cho phai”:

    + Câu thơ muốn nói tới tấm lòng son của Kiều, tấm lòng nhớ thương Kim Trọng sẽ không bao giờ phai mờ, nguôi quên dù cho có gặp nhiều trắc trở trong đường đời.

    + Câu thơ còn gợi ra một cách hiểu nữa: Tấm lòng son trong trắng của Kiều bị những kẻ như Tú Bà, Mã Giám Sinh làm cho dập vùi, hoen ố,biết bao giờ mới gột rửa được?

    ⇒ Trong bi kịch tình yêu, Thúy Kiều có nỗi đau về nhân phẩm.

    –  Kiều nhớ đến Kim Trọng bởi trong cơn gia biến, Kiều đã phải hi sinh mối tình đầu đẹp đẽ để cứu gia đình, Kiều đã phần nào “đền ơn sinh thành” cho cha mẹ. Vì thế trong lòng Kiều, Kim Trọng là người mất mát nhiều nhất, nỗi đau ấy cứ vò xé tâm can Kiều khiến Kiều luôn nghĩ đến Kim Trọng.

    * Kiều xót xa nghĩ đến cha mẹ:

    – Chữ “xót” diễn tả tấm lòng Kiều dành cho đấng sinh thành:

    + Nàng lo lắng xót xa nghĩ đến hình bóng tội nghiệp của cha mẹ, khi sáng sớm, lúc chiều hôm tựa cửa ngóng tin con, hay mong chờ con đến đỡ đần

    + Nàng lo lắng không biết giờ đây ai là người chăm sóc cha mẹ khi thời tiết đổi thay.

    + Nàng xót xa khi cha mẹ ngày một thêm già yêu mà mình không được ở bên cạnh để phụng dưỡng.

    ⇒ Tác giả đã sử dụng các thành ngữ “rày trông mai chờ”, “quạt nồng ấp lạnh”, “cách mấy nắng mưa” và các điển tích, điển cố “sân Lai,gốc Tử”để nói lên tâm trạng nhớ thương, lo lắng và tấm lòng hiếu thảo của Kiều dành cho cha mẹ. Ở đây, Nguyễn Du đã miêu tả khách quan tâm trạng của Thúy Kiều vượt qua những định kiến của tư tưởng phong kiến: đặt chữ tình trước chữ hiếu.

    3. Tâm trạng đớn đau, tuyệt vọng của Kiều qua cách nhìn cảnh vật (8 câu thơ cuối).

    – Điệp ngữ “buồn trông” được lặp lại 4 lần tạo âm hưởng trầm buồn, trở thành điệp khúc diễn tả nỗi buồn đang dâng lên lớp lớp trong lòng Kiều. Cảnh vật thiên nhiên qua con mắt của Kiều gợi nỗi buồn da diết:

    + Cánh buồm thấp thoáng lúc ẩn lúc hiện nơi cửa bể chiều hôm gợi hành trình lưu lạc mờ mịt không biết đâu là bến bờ.

    + Cánh hoa trôi man mác trên ngọn nước mới sa gợi thân phận nhỏ bé, mỏng manh, lênh đênh trôi dạt trên dòng đời vô định không biết đi đâu về đâu.

    + Nội cỏ rầu rầu trải rộng nơi chân mây mặt đất gợi cuộc sống úa tàn, bi thương, vô vọng kéo dài không biết đến bao giờ.

    + Hình ảnh “gió cuốn mặt duềnh” và âm thanh ầm ầm của tiếng sóng “kêu quanh ghế ngồi” gợi tâm trạng lo sợ hãi hùng như báo trước,chỉ ngay sau lúc này, dông bão của số phận sẽ nổi lên, xô đẩy, vùi dập cuộc đời Kiều.

    ⇒ Bằng nghệ thuật ẩn dụ, hệ thống câu hỏi tu từ, các từ láy “thấp thoáng”, “xa xa”, “man mác”,“rầu rầu”,”xanh xanh”,”ầm ầm”… góp phần làm nổi bật nỗi buồn nhiều bề trong tâm trạng Kiều. Tác giả lấy ngoại cảnh để bộc lộ tâm cảnh. Cảnh được miêu tả từ xa đến gần; màu sắc từ nhạt đến đậm; âm thanh từ tĩnh đến động; nỗi buồn từ man mác, mông lung đến lo âu, kinh sợ, dồn đến cơn bão táp của nội tâm, cực điểm của cảm xúc trong lòng Kiều. Toàn là hình ảnh về sự vô định, mong manh, sự dạt trôi, bế tắc, sự chao đảo nghiêng đổ dữ dội. Lúc này, Kiều trở nên tuyệt vọng,yếu đuối nhất, vì thế nàng đã mắc lừa Sở Khanh để rồi dấn thân vào cuộc đời ô nhục.

    III. Tổng kết.

    1. Nội dung:

    Đoạn trích đã miêu tả chân thực cảnh ngộ cô đơn, buồn tủi, đáng thương, nỗi nhớ người thân da diết và tấm lòng thủy chung, hiếu thảo vị tha của Thúy Kiều khi bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích

    2. Nghệ thuật:

    – Đoạn trích thành công ở nghệ thuật miêu tả nội tâm đặc sắc với bút pháp tả cảnh ngụ tình được coi là đặc sắc nhất trong Truyện Kiều

    – Thể thơ lục bát cổ truyền, nghệ thuật tả cảnh ngụ tình tinh tế kết hợp các biện pháp tu từ quen thuộc, điệp ngữ “buồn trông”…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài: Kiều Ở Lầu Ngưng Bích – Ngữ Văn 9 Tập 1
  • Lý Giải Việc Xuất Hiện Những Trận Mưa Đá Vừa Qua
  • Kinh Nghiệm Sắp Xếp Hồ Sơ Tài Liệu Trong Kho Lưu Trữ Khoa Học Nhất
  • Hướng Dẫn Triển Khai Quy Trình Quản Lý Và Sắp Xếp Hồ Sơ, Tài Liệu Khoa Học
  • Sắp Xếp Hồ Sơ Khoa Học, Hiệu Quả Với 5 Bước
  • Ôn Tập Văn Bản “kiều Ở Lầu Ngưng Bích”

    --- Bài mới hơn ---

  • Ôn Tập Đoạn Trích Kiều Ở Lầu Ngưng Bích
  • Ôn Thi Vào 10 Môn Văn: Đoạn Trích “kiều Ở Lầu Ngưng Bích” (Trích “truyện Kiều”
  • Viết Đoạn Văn Thuyết Minh Đoạn Trích Kiều Ở Lầu Ngưng Bích (Khoảng 1 Trang Giấy)
  • Kiều O Lầu Ng]Ng Bích Ngu Van 9 T31 Van Ban Kieu O Lau Ngung Bich Ppt
  • Bài Giảng Kiều Ở Lầu Ngưng Bích Tiet 37 Kieu O Lau Ngung Bich Ppt
  • Vẻ non xa, tấm trăng gần ở chung.

    Bốn bề bát ngát xa trông,

    Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia.

    Bẽ bàng mây sớm đèn khuya,

    Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng.

    Tưởng người dưới nguyệt chén đồng,

    Tin sương luống những rày trông mai chờ.

    Tấm son gột rửa bao giờ cho phai.

    Xót người tựa cửa hôm mai,

    Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ ?

    Sân Lai cách mấy nắng mưa,

    Có khi gốc tử đã vừa người ôm.

    Buồn trông cửa bể chiều hôm,

    Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa.

    Buồn trông ngọn nước mới ra.

    Hoa trôi man mác biết là về đâu?

    Buồn trông ngọn cỏ rầu rầu,

    Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.

    Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,

    Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.

    Đoạn trích nằm ở phần thứ hai Gia biến và lưu lạc. Sau khi bị Mã Giám Sinh lừa gạt, làm nhục, bị Tú bà mắng nhiếc, Kiều nhất quyết không chịu tiếp khách làng chơi, không chịu chấp nhận cuộc sống lầu xanh. Đau đớn, phẫn uất, tủi nhục nàng định tự vẫn. Tú bà sợ mất vốn bèn lựa lời khuyên giải, dụ dỗ Kiều. Mụ vờ chăm sóc thuốc thang, hứa hẹn khi nàng bình phục sẽ gả nàng cho người tử tế. Tú bà đưa Kiều ra sống riêng ở lầu Ngưng Bích, thực chất là giam lỏng nàng để thực hiện âm mưu mới đê tiện hơn, tàn bạo hơn.

    + Sáu câu đầu : hoàn cảnh cô đơn, tội nghiệp của Kiều.

    + Tám câu tiếp : nỗi thương nhớ Kim Trọng và thương nhớ cha mẹ của nàng.

    + Tám câu cuối : tâm trạng đau buồn, âu lo của Kiều thể hiện qua cách nhìn cảnh vật.

    Giá trị nghệ thuật: nghệ thuật miêu tả nội tâm đặc sắc, bút pháp tả cảnh ngụ tình hay nhất trong “Truyện Kiều”.

    – Khoá xuân: khoá kín tuổi xuân, ý nói cấm cung (con gái nhà quyền quý ngày xưa không được ra khỏi phòng); ở đây nói việc Kiều bị giam lỏng.

    – Tấm son: tấm lòng son, chỉ tấm lòng thuỷ chung gắn bó.

    – Duyềnh (cũng gọi là doành): vụng (vũng) sông hoặc vụng biển.

    – Kiều ở lầu Ngưng Bích thực chất là bị giam lỏng ( khoá xuân).

    – Nàng trơ trợi giữa một không gian mênh mông, hoang vắng: ” bốn bề bát ngát xa trông“. Cảnh “non xa“, “trăng gần” gợi hình ảnh lầu Ngưng Bích đơn độc, chơi vơi giữa mênh mông trời nước. Từ trên lầu cao nhìn ra chỉ thấy những dãy núi mờ xa, những cồn cát bụi bay mù mịt. Cái lầu trơ trọi ấy giam một thân phận trơ trọi, không một bóng hình thân thuộc bầu bạn, không cả bóng người.

    Hình ảnh “non xa” “trăng gần”, “cát vàng”, “bụi hồngcó thể là cảnh thực mà cũng có thể là hình ảnh mang tính ước lệ để gợi sự mênh mông, rợn ngợp của không gian, qua đó diễn tả tâm trạng cô đơn của Kiều.

    – Cụm từ ” mây sớm đèn khuya” gợi thời gian tuần hoàn, khép kín. Tất cả như giam hãm con người, như khắc sâu thêm nỗi cô đơn khiến Kiều càng bẽ bàng, chán ngán, buồn tủibẽ bàng mây sớm đèn khuya” sớm và khuya, ngày và đêm, Kiều ” thui thủi quê người một thân” và dồn tới lớp lớp những nỗi niềm chua xót đau thương khiến tấm lòng Kiều như bị chia xẻ: ” Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng “. Vì vậy, dù cảnh có đẹp đến mấy, tâm trạng Kiều cũng không thể vui được.

    Tâm trạng nhớ thương Kim Trọng và thương nhớ cha mẹ của Kiều qua ngôn ngữ độc thoại nội tâm:

    * Cùng là nỗi nhớ nhưng cách nhớ khác nhau với những lý do khác nhau nên cách thể hiện cũng khác nhau:

    + Nhớ Kim Trọng: Kiều “tưởng” như thấy lại kỷ niệm thiêng liêng đêm thề nguyện, đính ước ” Tưởng người dưới nguyệt chén đồng“. Cái đêm ấy hình như mới ngày hôm qua. Một lần khác nàng nhớ về Kim Trọng cũng là ” Nhớ lời nguyện ước ba sinh“. Kiều xót xa hình dung người yêu vẫn chưa biết tin nàng bán mình, vẫn ngày đêm mòn mỏi chờ trông chốn Liêu Dương xa xôi. Nàng nhớ người yêu với tâm trạng đau đớn: ” Tấm son gột rửa bao giờ cho phai“. Có lẽ “tấm son” ấy là tấm lòng Kiều son sắt, thuỷ chung, không nguôi nhớ thương Kim Trọng. Cũng có thể là Kiều đang tủi nhục khi tấm lòng son sắt đã bị dập vùi, hoen ố, không biết bao giờ mới gột rửa cho được. Trong nỗi nhớ chàng Kim có cả nỗi đau đớn vò xé tâm can.

    + Nhớ cha mẹ: nàng thấy “xót” khi tưởng tượng, ở chốn quê nhà, cha mẹ nàng vẫn tựa cửa ngóng chờ tin tức người con gái yêu. Nàng xót thương da diết và day dứt khôn nguôi vì không thể ” quạt nồng ấp lạnh“, phụng dưỡng song thân, băn khoăn không biết hai em có chăm sóc cha mẹ chu đáo hay không. Nàng tưởng tượng nơi quê nhà tất cả đã đổi thay, gốc tử đã vừa người ôm, cha mẹ ngày thêm già yếu. Cụm từ ” cách mấy nắng mưa” vừa cho thấy sự xa cách bao mùa mưa nắng, vừa gợi được sự tàn phá của thời gian, của thiên nhiên lên con người và cảnh vật. Lần nào nhớ về cha mẹ, Kiều cũng ” nhớ ơn chín chữ cao sâu ” và luôn ân hận mình đã phụ công sinh thành, phụ công nuôi dạy của cha mẹ.

    : Bút pháp tả cảnh ngụ tình của Nguyễn Du trong 8 câu cuối “Kiều ở lầu Ngưng Bích”: Nghệ thuật tử cảnh ngụ tình:

    – Đây là 8 câu thơ thực cảnh mà cũng là tâm cảnh. Mỗi biểu hiện của cảnh đồng thời là một ẩn dụ về tâm trạng của người – mỗi một cảnh lại khơi gợi ở Kiều những nỗi buồn khác nhau, với những lý do buồn khác nhau trong khi nỗi buồn đã đầy ắp tâm trạng để rồi tình buồn lại tác động vào cảnh, khiến cảnh mỗi lúc lại buồn hơn, nỗi buồn mỗi lúc một ghê gớm, mãnh liệt hơn.

    – Cách sử dụng ngôn ngữ độc thoại, điệp ngữ. Bốn bức tranh, bốn nỗi buồn đều được tác giả khắc hoạ qua điệp từ “buồn trông” đứng đầu mỗi câu có nghĩa là buồn mà trông ra bốn phía, trông ngáng một cái gì mơ hồ sẽ đến làm thay đổi hiện tại, nhưng trông mà vô vọng. “Buồn trông” có cái thảng thốt lo âu, có cái xa lạ bút tầm nhìn, có cả dự cảm hãi hùng của người con gái ngây thơ lần đầu lại bước giữa cuộc đời ngang ngược. Điệp ngữ “buồn trông” kết hợp với các hình ảnh đứng sau đã diễn tả nỗi buồn với nhiều sắc độ khác nhau. Điệp ngữ lại được kết hợp với các từ láy chủ yếu là những từ láy tượng hình, dồn dập, chỉ có một từ láy tượng thanh ở câu cuối tạo nên nhịp điệu, diễn tả nỗi buồn ngày một tăng, dâng lên lớp lớp, nỗi buồn vô vọng, vô tận. Điệp ngữ tạo âm hưởng trầm buồn, trở thành điệp khúc của đoạn thơ cũng là điệp khúc của tâm trạng.

    Một cánh buồm thấp thoáng nơi cửa biển

    Những cánh hoa tàn lụi trôi man mác trên ngọn nước mới xa

    , còn đâu cái “xanh tận chân trời” như sác cỏ trong tiết Thanh minh khi Kiều còn trong cảnh đầm ấm. Màu xanh này gợi cho Kiều một rầu rầu”, “xanh xanh” – sắc xanh héo úa, mù mịt, nhạt nhoà trải dài từ chân mây đến mặt đất nỗi chán ngán, vô vọng vì cuộc sống cô quạnh và những chuỗi ngày vô vị, tẻ nhạt không biết kéo dài đến bao giờ.

    Dường như nỗi buồn càng lúc càng tăng, càng dồn dập. Một cơn “gió cuốn mặt duềnh” làm cho tiếng sóng bỗng nổi lên ầm ầm như vây quanh ghế Kiều ngồi. Cái âm thanh “ầm ầm tiếng sóng” ấy chính là âm thanh dữ dội của cuộc đời phong ba bão táp đã, đang ập đổ xuống đời nàng và còn tiếp tục đè nặng lên kiếp người nhỏ bé ấy trong xã hội phong kiến cổ hủ, bất công. Tất cả là đợt sóng đang gầm thét, rì rào trong lòng nàng. Lúc này Kiều không chỉ buồn mà còn lo sợ, kinh hãi như rơi dần vào vực thẳm một cách bất lực. Nỗi buồn ấy đã dâng đến tột đỉnh, khiến Kiều thực sự tuyệt vọng. Thiên nhiên chân thực, sinh động nhưng cũng rất ảo. Đó là cảnh được nhìn qua tâm trạng theo quy luật ” Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu – Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ“.

    – Cảnh được miêu tả từ xa đến gần, màu sắc từ nhạt đến đậm, âm thanh từ tĩnh đến động để diễn đạt nỗi buồn từ man mác, mông lung đến lo âu, kinh sợ, dồn đến bão táp nội tâm cực điểm của cảm xúc trong lòng Kiều. Tờt cả là hình ảnh về sự vô định, mong manh, sự dạt trôi bế tắc, sự chao đảo, nghiêng đổ dữ dội. Lúc này Kiều trở nên tuyệt vọng, yếu đuối nhất. Cũng vì thế mà nàng đã mắc lừa Sở Khanh để rồi dấn thân vào cuộc đời ” thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần“.

    Cảnh thiên nhiên là cái cớ để tác giả bộc lộ cảm xúc của mình.

    (Đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” – Truyện Kiều).

    B. Luyện tập viết đoạn:

    a. Hãy chép bảy câu thơ tiếp theo để hoàn thành khổ thơ trên.

    b. Đoạn thơ vừa chép diễn tả tâm trạng của ai với ai ?

    c. Trật tự diễn tả tâm trạng đó có hợp lý không? Tại sao?

    d. Viết một đoạn văn ngắn khoảng 10 câu, theo cách diễn dịch phân tích tâm trạng của nhân vật tr ữ tình trong đoạn thơ trên.

    a. Chép chính xác 7 câu thơ tiếp theo để hoàn thành khổ thơ.

    b. Đoạn thơ diễn tả tâm trạng nhớ thương Kim Trọng và cha mẹ của Kiều trong những ngày sống cô đơn ở lầu Ngưng Bích.

    c. Trật tự diễn tả tâm trạng của Kiều: Nhớ Kim Trọng trước cha mẹ đặt trong cảnh ngộ Kiều lúc đó là rất hợp lý vì:

    • Vầng trăng ở câu thứ 2 trong đoạn trích gợi nhớ tới lời thề đính ước với Kim Trọng.
    • Đau đớn xót xa vì mối tình đầu đẹp đẽ tan rã.
    • Cảm thấy mình có lỗi khi không giữ được lời hẹn ước với chàng Kim.
    • Với cha mẹ, Kiều đã phần nào làm trong chữ hiếu: bán mình để cứu cha và em → cách diễn tả này thể hiện sự tinh tế của ngòi bút Nguyễn Du và người đọc thấy được sự cảm thông của tác giả đối với nhân vật

    d.Nội dung viết đoạn (Xem ở dàn ý phân tích).

    Nhận xét về đoạn trích Bài tập 2 : Kiều ở lầu Nhưng Bích, có ý kiến cho rằng: Ngòi bút của Nguyễn Du hết sức tinh tế, cảnh không chỉ đơn thuần là bức tranh thiên nhiên mà còn là bức tranh tâm trạng. Mỗi biểu hiện của cảnh phù hợp với từng trạng thái của tình.

    Hãy viết 1 đoạn văn từ 10-12 câu, phân tích 8 câu thơ cuối của đoạn trích để làm sáng tỏ nhận xét trên.

    Chỉ ra một phép liên kết nối, một phép thế sử dụng trong đoạn trên.

    Cảnh không chỉ đơn thuần là bức tranh thiên nhiên mà còn là bức tranh tâm trạng, đó chính là bút pháp nghệ thuật tả cảnh ngụ tình đặc sắc của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du được thể hiện ở 8 câu thơ cuối của đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích. Cảnh cửa bể chiều hôm gợi ra khoảng thời gian đã cuối ngày rồi, khi đó cũng là lúc các gia đình quây quần bên nhau, nhưng đối lập với đó, lại một mình cô đơn giữa không gian rừng núi, biển cả bao la. Lúc này, Kiều buồn tủi biết mấy, nàng muốn theo những cánh buồn xa xa kia đi xa mãi, xa mãi trở về với quê hương, gia đình yêu dấu của mình mà không thể nào được, điều ước vẫn chỉ là điều ước mà thôi. lại nhìn cánh hoa mỏng manh trôi man mác, cứ nổi lên lại ngụp xuống giữa ngọn nước mới sa để rồi chợt lo lắng cho số phận của mình liệu có như cánh hoa nhỏ bé kia biết trôi dạt về đâu giữa bao sóng gió cuộc đời giữa cái chốn lầu xanh dơ bẩn này. chính cuộc sống hiện tại khi biết mình bị lừa làm gái lầu xanh, rồi còn bị Tú Bà giảm ở lầu Ngưng Bích, chờ đợi được gả một tấm chồng theo lời hứa của Tú Bà đã làm Kiều rất chán ghét. Cái màu xanh bàng bạc, gần như sắp lụi tàn héo úa của nội cỏ rầu rầu đã thể hiện rất rõ tâm trạng này, dù hiện tại đã buồn chán nhưng nhìn về tương lai của đám cỏ ấy cũng như tương lai của Kiều càng tuyệt vọng, u ám hơn thế, nó chỉ là một màu xanh xanh héo úa, ảm đạm bởi giờ đây nàng sống không có mục đích, không có cả con đường tới tương lai thì mới vô vọng làm sao! nàng chợt hốt hoảng giật mình bởi tiếng sóng ầm ầm, đánh rất mạnh, càng làm chông chênh thêm vị trí của mình đang ngồi. Tới đây nỗi lo lắng, sợ hãi của Kiều đã lên tới tột cùng bởi tiếng sóng ấy có khác nào tiếng sóng dữ dội, ập tới cuộc đời Kiều và báo trước tương lai đầy biến đọng của nàng, mà như sau này ta đã biết là thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần đầy những sóng gió, gian nan vất vả. , qua bút pháp tả cảnh ngụ tình ta hiểu được tâm trạng cô đơn, buồn tụi và thấy thương xót cho thân phận của Kiều và cảm nhận được tình yêu thương con người sâu sắc của đại thi hào của Nguyễn Du.

    Phép nối: và, rồi, tóm lại

    Phếp thế: Kiều – nàng (bài làm học sinh )

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Kiều Ở Lầu Ngưng Bích Của Nguyễn Du
  • Kiều Ở Lầu Ngưng Bích (Trích Truyện Kiều)
  • Kiều Ở Lầu Ngưng Bích Là Một Bức Tranh Tâm Tình Đầy Xúc Động
  • Soạn + Gợi Ý Câu Hỏi Trên Lớp Bài Kiều Ở Lầu Ngưng Bích
  • Bài 18: Kiều Ở Lầu Ngưng Bích
  • Đọc Hiểu Văn Bản Kiều Ở Lầu Ngưng Bích

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Kiều Ở Lầu Ngưng Bích Ngắn Gọn Nhất
  • ✅ Kiều Ở Lầu Ngưng Bích (Trích Truyện Kiều)
  • Mẫu Văn Bản Khai Nhận Di Sản Thừa Kế Năm 2022
  • Mẫu Văn Bản Khai Nhận Di Sản Thừa Kế
  • Mẫu Văn Bản Khai Nhận Di Sản Thừa Kế Khi Không Phân Chia Di Sản
  • KIỀU Ở LẦU NGƯNG BÍCH

    (Trích Truyện Kiều – Nguyễn Du)

    I – TÌM HIỂU CHUNG

    1. Tác giả:

    Nguyễn Du (1765-1820) tên chữ là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên; quê làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; sinh trưởng trong một gia đình đại quí tộc, nhiều đời làm quan và có truyền thống về văn học. Cha là Nguyễn Nghiễm, đỗ tiến sĩ, từng giữ chức Tể tướng, anh cùng cha khác mẹ là Nguyễn Khản cũng từng làm quan to dưới triều Lê – Trịnh.

    Nguyễn Du sống trong một thời đại có nhiều biến động: cuối thế kỉ XVIII – nửa đầu thế kỉ XIX, chế độ phong kiến Việt Nam khủng hoảng trầm trọng, bão táp phong trào nông dân khởi nghĩa nổi lên khắp nơi, đỉnh cao là khởi nghĩa Tây Sơn đánh đổ các tập đoàn phong kiến Lê, Trịnh, Nguyễn, quét sạch hai mươi vạn quân Thanh, rồi phong trào Tây Sơn thất bại, nhà Nguyễn được thiết lập. Những biến cố đó đã in dấu ấn trong sáng tác của Nguyễn Du, như chính trong Truyện Kiều ông viết: Trải qua một cuộc bể dâu – Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.

    Nguyễn Du từng trải một cuộc đời phiêu bạt: sống nhiều nơi trên đất Bắc, ở ẩn ở Hà Tĩnh, làm quan dưới triều Nguyễn, đi sứ Trung Quốc. Vốn hiểu biết sâu rộng, phong phú về cuộc sống của Nguyễn Du có phần do chính cuộc đời phiêu bạt, trải nghiệm nhiều tạo thành.

    Đoạn trích nằm ở phần thứ hai trong Truyện Kiều (Gia biến và lưu lạc). Gia đình Kiều gặp cơn nguy biến. Do thằng bán tơ vu oan, cha và em Kiều bị bắt giam. Để chuộc cha, Kiều quyết định bán mình. Tưởng gặp được nhà tử tế, ai dè bị bắt vào chốn lầu xanh, Kiều uất ức định tự tử. Tú Bà (chủ quán lầu xanh) vờ hứa hẹn gả chồng cho nàng, đem nàng ra giam lỏng ở lầu Ngưng Bích, sau đó mụ sẽ nghĩ cách để bắt nàng phải tiếp khách làng chơi.

    Đoạn trích gồm hai mươi hai câu. Sáu câu thơ đầu thể hiện hoàn cảnh cô đơn, tội nghiệp của Thuý Kiều; tám câu thơ tiếp thể hiện nỗi thương nhớ của nàng về Kim Trọng và về cha mẹ; tám câu còn lại thể hiện tâm trạng đau buồn, âu lo của Thuý Kiều.

    II – GIÁ TRỊ TÁC PHẨM

    Nguyễn Du là một bậc thầy về tả cảnh. Nhiều câu thơ tả cảnh của ông có thể coi như là chuẩn mực cho vẻ đẹp của thơ ca cổ điển:

    – Dưới trăng, quyên đã gọi hè

    Đầu tường lửa lựu lập loè đâm bông.

    – Long lanh đáy nước in trời

    Thành xây khói biếc, non phơi bóng vàng…

    Với những câu thơ này, Nguyễn Du đã làm đẹp, làm giàu có thêm rất nhiều cho ngôn ngữ dân tộc. Từng có ý kiến cho rằng, so với tiếng Hán vốn có tính hàm súc, tính biểu hiện rất cao thì tiếng Việt trở nên quá nôm na, ít khả năng biểu hiện. Tuy nhiên, Nguyễn Du đã chứng minh rằng ngôn ngữ tiếng Việt có một khả năng biểu hiện vô giới hạn.

    Nhưng Nguyễn Du không chỉ giỏi về tả cảnh mà còn giỏi về tả tình cảm, tả tâm trạng. Trong quan niệm của ông, hai yếu tố tình và cảnh không tách rời nhau mà luôn đi liền với nhau, bổ sung cho nhau. Ví dụ, trong hai câu thơ tả cảnh chị em Thuý Kiều đi chơi xuân:

    Nao nao dòng nước uốn quanh

    Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang.

    Cảnh rất đẹp và thanh, ứng với tâm hồn hai chị em đang nhẹ nhàng thơi thới. Ngược lại, khi người buồn thì cảnh cũng buồn theo. Trong một đoạn thơ khác thuộc Truyện Kiều, ông viết:

    Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu

    Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ.

    Hai câu thơ này thể hiện rất rõ quan niệm của Nguyễn Du về mối quan hệ giữa tâm trạng của con người và cảnh vật. Cảnh vật đẹp hay không đẹp, nhẹ nhàng, thanh thoát hay nặng nề, u ám phụ thuộc rất nhiều vào tâm trạng của con người trước cảnh đó.

    Đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” là sự kết hợp, giao hoà của hai yếu tố cảnh vật và tâm trạng. Về cảnh vật có lầu cao, có non xanh nước biếc, sơn thuỷ hữu tình. Nếu Thuý Kiều ở vào một hoàn cảnh khác, trong tâm trạng khác thì hẳn cảnh đó sẽ rất đẹp. Tuy nhiên, tâm trạng Kiều lại đang rất u ám, sầu não: bị Tú Bà giam lỏng ở lầu Ngưng Bích, Kiều da diết nhớ cha mẹ, nhớ người yêu, đồng thời lại rất đau xót cho thân phận mình. Cảnh vật, do đó, nhuốm màu tâm trạng:

    Trước lầu Ngưng Bích khoá xuân

    Vẻ non xa, tấm trăng gần ở chung.

    Kiều ngắm cảnh hay Kiều đối cảnh? Thật khó có thể nói là “ngắm” theo nghĩa thông thường của từ này. Bởi “ngắm” có nghĩa là chiêm ngưỡng, thưởng ngoạn. Kiều đang trong tâm trạng như thế sao có thể thưởng ngoạn cho được? Bởi vậy, dù có cả “vẻ non xa” lẫn “tấm trăng gần” nhưng cảnh vật ấy chẳng thể nào gợi lên một chút tươi vui hay ấm áp. Nhà thơ đã dùng hai chữ “ở chung” thật khéo. Kiều trông thấy tất cả những thứ đó nhưng với nàng, chúng chẳng khác gì nhau và càng không có gì đặc biệt. Hai yếu tố trái ngược (non xa, trăng gần) tưởng như phi lí nhưng thực ra đã diễn tả rất chính xác sự trống trải của cảnh vật qua con mắt của Kiều. Khung cảnh “bốn bề bát ngát” chỉ càng khiến cho lòng người thêm gợi nhớ:

    Bốn bề bát ngát xa trông

    Cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia.

    Có thể hình dung rất rõ một không gian mênh mang đang trải rộng ra trước mắt Kiều. Một người bình thường đứng trước không gian ấy cũng khó ngăn được nỗi buồn. Với Kiều, không gian rộng rãi, trống trải ấy chỉ càng khiến nàng suy nghĩ về cuộc đời mình:

    Bẽ bàng mây sớm đèn khuya

    Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng.

    Bởi trong những câu thơ tả cảnh trên đã thấm đẫm cái “tình” (tâm trạng) của Kiều nên đến những câu thơ này, Nguyễn Du đã bắt vào mạch tả tâm trạng một cách hết sức tự nhiên. ý thơ chuyển đổi rất linh hoạt: tả cảnh gắn với không gian. Không gian cao rộng (non xa, trăng gần) càng khiến cho cảnh mênh mang, dàn trải. Tả tâm trạng lại gắn với thời gian. Thời gian dằng dặc (mây sớm, đèn khuya) càng cho thấy tâm trạng chán nản, buồn tủi của Kiều. “Nửa tình nửa cảnh”  trước mắt là tình hay là cảnh, dường như cũng không còn phân biệt được nữa.

    Theo dòng tâm trạng của Kiều câu thơ bắt vào nỗi nhớ:

    Tưởng người dưới nguyệt chén đồng

    Tin sương luống những rày trông mai chờ.

    Bên trời góc bể bơ vơ

    Tấm son gột rửa bao giờ cho phai.

    Nhớ nhà, trước hết Kiều nhớ đến Kim Trọng, nhớ đến chén rượu thề nguyền dưới trăng. Đối với một người luôn đa sầu đa cảm, nặng tình nặng nghĩa như Thuý Kiều, cảm xúc ấy thật xa xót. Càng nhớ đến Kim Trọng thì Kiều lại càng đau đớn cho thân phận mình. Việc Kiều thương Kim Trọng đang chờ mong tin mình một cách vô vọng đã cho thấy một vẻ đẹp khác trong tâm hồn nàng: Kiều luôn nghĩ đến người khác trước khi nghĩ đến bản thân mình. Tấm lòng ấy thật cao đẹp và đáng quý biết bao!

    Tiếp theo là Kiều nhớ đến cha mẹ. Có ý kiến cho rằng, Kiều đã nhớ đến người yêu trước rồi mới nhớ đến cha mẹ, phải chăng là nàng đã đặt chữ “tình” lên trên chữ “hiếu”? Thực ra, việc Nguyễn Du miêu tả nỗi nhớ của Kiều dành cho Kim Trọng trước rồi mới miều tả nỗi nhớ cha mẹ là hoàn toàn hợp lí. Kiều không hề đặt chữ “hiếu” sau chữ “tình”. Khi gia đình gặp tai biến, trước câu hỏi “Bên tình bên hiếu bên nào nặng hơn?”, Kiều đã dứt khoát lựa chọn chữ “hiếu” bằng hành động bán mình chuộc cha. Giờ đây, khi cha và em nàng đã được cứu, người mà nàng cảm thấy mình có lỗi chính là Kim Trọng. Nhưng không vì thế mà nỗi nhớ cha mẹ kém phần day dứt:

    Xót người tựa cửa hôm mai

    Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ?

    Sân Lai cách mấy nắng mưa

    Có khi gốc tử đã vừa người ôm.

    Những thành ngữ, điển tích, điển cố (tựa cửa hôm mai, quạt nồng ấp lạnh, Sân Lai, gốc tử) liên tục được sử dụng đã thể hiện rất rõ tình cảm nhớ nhung sâu nặng cũng như những băn khoăn trăn trở của Thuý Kiều khi nghĩ đến cha mẹ, nghĩ đến bổn phận làm con của mình. Trong hoàn cảnh thực tế, những suy nghĩ, tâm trạng đó càng chứng tỏ nàng là một người con rất mực hiếu thảo.

    Tám câu thơ cuối cũng nằm trong số những câu thơ tả cảnh hay nhất của Truyện Kiều. Chúng thể hiện rất rõ nét nghệ thuật “tả cảnh ngụ tình” của Nguyễn Du:

    Buồn trông cửa bể chiều hôm,

    Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?

    Buồn trông ngọn nước mới sa,

    Hoa trôi man mác biết là về đâu?

    Buồn trông nội cỏ dàu dàu,

    Chân mây mặt đất một màu xanh xanh…

    Nếu tách riêng các yếu tố ngoại cảnh ra mà xét thì có thể thấy đó là một khung cảnh thật thơ mộng và lãng mạn: có cánh buồm thấp thoáng, có man mác hoa trôi, có nội cỏ chân mây mặt đất một màu… Thế nhưng khi đọc lên, những câu thơ này chỉ khiến cho lòng người thêm sầu muộn, ảo não. Nguyên nhân là bởi trước mỗi cảnh vật kia, sừng sững án ngữ cụm từ “buồn trông”. Không phải là “xa trông” như người ta vẫn nói, cũng không phải là “ghé mắt trông” như Xuân Hương đã từng tinh nghịch mà điền trước đền thờ Sầm Nghi Đống, ở đây, nhân vật trữ tình chỉ có một tâm thế duy nhất: “buồn trông”. Tâm trạng nàng đang ngổn ngang trăm mối: nhớ người yêu, nhớ cha mẹ, cảm giác mình là người có lỗi,… và nhất là đang hết sức đau xót cho thân phận mình. Bởi vậy, cảnh vật ấy cần được cảm nhận theo con mắt của Thuý Kiều: cánh buồm thấp thoáng nổi trôi vô định, hoa trôi man mác càng gợi nỗi phân li, nội cỏ không mơn mởn xanh mà “dàu dàu” trong sắc màu tàn úa… Nổi bật lên trong cảnh vật đó là những âm thanh mê hoặc:

    Buồn trông sóng cuốn mặt duềnh

    ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi

    Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du cũng đã nhiều lần miêu tả âm thanh. Có thể nói lần nào ông cũng thành công. Có khi chỉ qua một vài từ, ông đã diễn tả rất chính xác cảnh huyên náo trong nhà Thuý Kiều khi bọn vô lại kéo đến nhà:

    Trước thầy sau tớ xôn xao

    Đầu trâu mặt ngựa ào ào như sôi.

    Nguyễn Du đặc biệt thành công khi ông tả tiếng đàn của Kiều. Tuỳ theo tâm trạng, mỗi lần tiếng đàn của Kiều cất lên là một lần người nghe phải chảy nước mắt khóc cho số phận oan nghiệt của nàng.

    Trong đoạn thơ này, Nguyễn Du không tả tiếng đàn mà tả tiếng sóng. Trong khung cảnh bát ngát, mênh mang, tiếng sóng vỗ “ầm ầm” (lưu ý: nhà thơ đã đảo ngữ để cho ấn tượng đó càng rõ ràng hơn) quả là một thứ âm thanh hết sức bất thường. Dường như nó muốn phá vỡ khung cảnh nặng nề nhưng yên tĩnh, nó dứt Kiều ra khỏi dòng suy tư về gia đình, người thân mà trả nàng về với thực tại nghiệt ngã.

    Ngoài ra, dường như đó còn là những dự cảm về quãng đời đầy những khổ đau, tủi nhục ê chề mà Kiều sắp phải trải qua.

    (Sưu tầm)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kiều Ở Lầu Ngưng Bích
  • Soạn Bài Kiều Ở Lầu Ngưng Bích
  • Phong Cách Ngôn Ngữ Khoa Học
  • Các Đặc Trưng Của Một Văn Bản Khoa Học
  • 1.ngôn Ngữ Khoa Học Là Gì? Văn Bản Khoa Học Gồm Mấy Loại? 2.đặc Trưng
  • Kiều Ở Lầu Ngưng Bích ( Trích Truyện Kiều )

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích: Kiều Ở Lầu Ngưng Bích ( Truyện Kiều )
  • Dàn Ý Phân Tích Tâm Trạng Kiều Trong Bài Kiều Ở Lầu Ngưng Bích
  • Phân Tích Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong Đoạn Trích Kiều Ở Lầu Ngưng Bích
  • Phân Tích Đoạn Trích “kiều Ở Lầu Ngưng Bích” Của Nguyễn Du.
  • Dựa Vào Văn Bản Kiều Ở Lầu Ngưng Bích, Em Hãy Kể Lại Tâm Trạng Của Thuý Kiều, Có Sử Dụng Yếu Tố Miêu
  • Kiều ở lầu Ngưng Bích

    Trước lầu Ngưng Bích khoá xuân

    Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung

    Bốn bề bát ngát xa trông

    Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia

    Bẽ bàng mây sớm đèn khuya

    Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng

    Tưởng người dưới nguyệt chén đồng

    Tin sương luống những rày trong mai chờ

    Bên trời góc bể bơ vơ

    Tấm son gột rửa bao giờ cho phai

    Xót người tựa cửa hôm mai

    Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ

    Sân Lai cách mấy nắng mưa

    Có khi gốc tử đã vừa người ôm

    Buồn trông cửa bể chiều hôm

    Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa

    Buồn trông ngọn nước mới sa

    Hoa trôi man mác biết là về đâu

    Buồn trông nội cỏ rầu rầu

    Chân mây mặt đất một màu xanh xanh

    Buồn trông gió cuốn mặt duềnh

    Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi

    (Nguyễn Du, Truyện Kiều)

    Kiến thức bài Kiều ở lầu Ngưng Bích

    Tìm hiểu chung

    Vị trí đoạn trích

    – Nằm ở phần thứ hai “Gia biến và lưu lạc”. Sau khi biết mình bị lừa vào chốn lầu xanh, Kiều uất ức định tự vẫn. Tứ Bà sợ mất vốn, bèn lựa lời khuyên giải, dụ dỗ. Mụ vờ chăm sóc, thuốc thang, hứa hẹn khi nàng bình phục,sẽ gả cho người tử tế; rồi đưa Kiều ra giam lỏng ở lầu Ngưng Bích, đợi thực hiện âm mưu mới. Sau đoạn này là việc Kiều bị Sở Khanh lừa và phải chấp nhận làm gái lầu xanh.

    Đoạn trích nằm giữa hai biến cố đau xót. Đây là những biến cố giúp ta hiểu những bàng hoàng tê tái và sự lo âu về tương lại của nàng Kiều.

    Bố cục đoạn trích:

    – Sáu câu đầu: Hoàn cảnh cô đơn, cay đắng xót xa của Kiều

    – Tám câu tiếp: Nỗi thương nhớ Kim Trọng và cha mẹ của Kiều

    – Tám câu cuối: Tâm trạng đau buồn, âu lo của Kiều qua cách nhìn cảnh vật.

    Phân tích đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích

    Hoàn cảnh cô đơn, cay đắng xót xa của Kiều.

    – Sáu câu thơ đầu gợi tả cảnh thiên nhiên nơi lầu Ngưng Bích với không gian, thời gian.

    – Không gian nghệ thuật được miêu tả dưới con mắt nhìn của Thúy Kiều:

    + Lầu Ngưng Bích là nơi Kiều bị giam lỏng. Hai chữ “khóa xuân” đã nói lên điều đó.

    + Cảnh đẹp nhưng mênh mông, hoang vắng và lạnh lẽo:

    – Ngước nhìn xa xa, chỉ thấy dãy núi mờ nhạt.

    – Nhìn lên trời cao chỉ có “tấm trăng gần”. → Thời gian chiều tối, gợi buồn.

    – Xa hơn nữa, nhìn ra “bốn bề bát ngát xa trông” là những cát vàng cồn nọ nối tiếp nhau cùng với bụi hồng trên dặm dài thăm thẳm.

    – Nàng đau đớn, tủi nhục cho thân phận của mình:

    Bẽ bàng mây sớm đèn khuya

    Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng

    + Cụm từ “mây sớm đèn khuya” gợi thời gian tuần hoàn khép kín, quanh đi quẩn lại hết “mây sớm” lại “đèn khuya”. Thời gian cứ thế trôi đi, rồi lặp lại, Kiều thấy tuyệt vọng với tâm trạng cô đơn, buồn tủi, hổ thẹn đến “bẽ bàng”.

    + Bốn chữ “như chia tấm lòng” diễn tả nỗi niềm chua xót, nỗi lòng tan nát của Kiều.

    Nỗi thương nhớ Kim Trọng và cha mẹ của Kiều.

    Chính trong hoàn cảnh cô đơn nơi đất khách quê người, tâm trạng của Kiều chuyển từ buồn sang nhớ. Kiều nhớ người yêu, nhớ cha mẹ. Nỗi nhớ ấy được Nguyễn Du miêu tả xúc động bằng những lời độc thoại nội tâm của chính nhân vật.

    – Trước hết, Kiều nhớ đến Kim Trọng bởi trong cơn gia biến, Kiều đã phải hi sinh mối tình đầu đẹp đẽ để cứu gia đình, Kiều đã phần nào “đền ơn sinh thành” cho cha mẹ. Vì thế trong lòng Kiều, Kim Trọng là người mất mát nhiều nhất, nỗi đau ấy cứ vò xé tâm can Kiều khiến Kiều luôn nghĩ đến Kim Trọng.

    + Nàng nhớ đến cảnh mình cùng Kim Trọng uống rượu thề nguyền dưới ánh trăng. Chữ “tưởng” ở đây có thể xem là một nhãn tự. Nguyễn Du không dùng chữ “nhớ” mà dùng chữ “tưởng”.”Tưởng” vừa là nhớ, vừa là hình dung, tưởng tượng ra người mình yêu.

    + Thúy Kiều như tưởng tượng thấy, ở nơi xa kia, người yêu cũng đang hướng về mình, đang ngày đêm đau đáu chờ tin nàng: “Tin sương luống những rày trông mai chờ”.

    + Rồi bất chợt, nàng liên tưởng đến thân phận “bên trời góc biển bơ vơ” của mình. Kiều băn khoăn tự hỏi: “Tấm son gột rửa bao giờ cho phai”:

    – Câu thơ muốn nói tới tấm lòng son của Kiều, tấm lòng nhớ thương Kim Trọng sẽ không bao giờ phai mờ, nguôi quên dù cho có gặp nhiều trắc trở trong đường đời.

    – Câu thơ còn gợi ra một cách hiểu nữa: Tấm lòng son trong trắng của Kiều bị những kẻ như Tú Bà, Mã Giám Sinh làm cho dập vùi, hoen ố,biết bao giờ mới gột rửa được?

    → Trong bi kịch tình yêu, Thúy Kiều có nỗi đau về nhân phẩm.

    – Nhớ người yêu, Kiều cũng xót xa nghĩ đến cha mẹ:

    + Chữ “xót” diễn tả tấm lòng Kiều dành cho đấng sinh thành:

    – Nàng lo lắng xót xa nghĩ đến hình bóng tội nghiệp của cha mẹ, khi sáng sớm, lúc chiều hôm tựa cửa ngóng tin con, hay mong chờ con đến đỡ đần

    – Nàng lo lắng không biết giờ đây ai là người chăm sóc cha mẹ khi thời tiết đổi thay.

    – Nàng xót xa khi cha mẹ ngày một thêm già yêu mà mình không được ở bên cạnh để phụng dưỡng.

    → Tác giả đã sử dụng các thành ngữ “rày trông mai chờ”, “quạt nồng ấp lạnh”, “cách mấy nắng mưa” và các điển tích, điển cố “sân Lai,gốc Tử”để nói lên tâm trạng nhớ thương, lo lắng và tấm lòng hiếu thảo của Kiều dành cho cha mẹ.

    ⇒ Ở đây, Nguyễn Du đã miêu tả khách quan tâm trạng của Thúy Kiều vượt qua những định kiến của tư tưởng phong kiến: đặt chữ tình trước chữ hiếu.

    Trong cảnh ngộ khi ở lầu Ngưng Bích, Kiều là người đáng thương nhất nhưng nàng vẫn quên mình để nghĩ đến người yêu, nghĩ đến cha mẹ.Qua đó chứng tỏ Kiều là con người thủy chung hiếu nghĩa, đáng trân trọng.

    Tâm trạng đau buồn, lo âu của Kiều qua cách nhìn cảnh vật.

    – Điệp ngữ “buồn trông” được lặp lại 4 lần tạo âm hưởng trầm buồn, trở thành điệp khúc diễn tả nỗi buồn đang dâng lên lớp lớp trong lòng Kiều. Cảnh vật thiên nhiên qua con mắt của Kiều gợi nỗi buồn da diết:

    + Cánh buồm thấp thoáng lúc ẩn lúc hiện nơi cửa bể chiều hôm gợi hành trình lưu lạc mờ mịt không biết đâu là bến bờ.

    + Cánh hoa trôi man mác trên ngọn nước mới sa gợi thân phận nhỏ bé, mỏng manh, lênh đênh trôi dạt trên dòng đời vô định không biết đi đâu về đâu.

    + Nội cỏ rầu rầu trải rộng nơi chân mây mặt đất gợi cuộc sống úa tàn, bi thương, vô vọng kéo dài không biết đến bao giờ.

    + Hình ảnh “gió cuốn mặt duềnh” và âm thanh ầm ầm của tiếng sóng “kêu quanh ghế ngồi” gợi tâm trạng lo sợ hãi hùng như báo trước,chỉ ngay sau lúc này, dông bão của số phận sẽ nổi lên, xô đẩy, vùi dập cuộc đời Kiều.

    ⇒ Bằng nghệ thuật ẩn dụ, hệ thống câu hỏi tu từ, các từ láy “thấp thoáng”, “xa xa”, “man mác”,”rầu rầu”,”xanh xanh”,”ầm ầm”… góp phần làm nổi bật nỗi buồn nhiều bề trong tâm trạng Kiều. Tác giả lấy ngoại cảnh để bộc lộ tâm cảnh. Cảnh được miêu tả từ xa đến gần; màu sắc từ nhạt đến đậm; âm thanh từ tĩnh đến động; nỗi buồn từ man mác, mông lung đến lo âu, kinh sợ, dồn đến cơn bão táp của nội tâm, cực điểm của cảm xúc trong lòng Kiều. Toàn là hình ảnh về sự vô định, mong manh, sự dạt trôi, bế tắc, sự chao đảo nghiêng đổ dữ dội. Lúc này, Kiều trở nên tuyệt vọng,yếu đuối nhất, vì thế nàng đã mắc lừa Sở Khanh để rồi dấn thân vào cuộc đời ô nhục.

    Nội dung và nghệ thuật

    Nội dung: Nỗi buồn nhớ sâu sắc của Kiều khi ở lầu Ngưng Bích chính là tâm trạng cô đơn lẻ loi, ngổn ngang nhiều mối, đau đớn vì phải dứt bỏ mối tình với chàng Kim, xót thương cha mẹ đơn côi, tương lai vô định.

    Nghệ thuật: Bút phát miêu tả tài tình (tả cảnh ngụ tình), khắc hoạ tâm lý nhân vật, ngôn ngữ độc thoại, điệp ngữ liên hoàn, đối xứng, hình ảnh ẩn dụ.

    Sơ đồ tư duy Kiều ở lầu Ngưng bích

    Đọc hiểu bài Kiều ở lầu Ngưng Bích

    – Đặc điểm của không gian trước lầu Ngưng Bích (chú ý không gian mở ra theo chiều rộng, chiều xa, chiều cao qua cái nhìn của nhân vật).

    – Thời gian qua cảm nhận của Thúy Kiều (chú ý hình ảnh trăng, “mây sớm đèn khuya”).

    – Qua khung cảnh thiên nhiên có thể thấy Thúy Kiều đang ở trong hoàn cảnh, tâm trạng như thế nào? Từ ngữ nào góp phần diễn tả hoàn cảnh và tâm trạng ấy?

    Câu 2. Tám câu thơ tiếp theo trực tiếp nói lên nỗi nhớ thương của Kiều.

    a) Trong cảnh ngộ của mình nàng đã nhớ tới ai? Nàng nhớ ai trước, ai sau? Nhớ như thế có hợp lí không, vì sao?

    b) Cùng là nỗi nhớ nhưng lại là cách nhớ khác nhau với những lí do khác nhau nên thể hiện cũng khác nhau. Em hãy phân tích việc dùng từ ngữ, hình ảnh của tác giả để làm sáng tỏ điều đó.

    c) Em có nhận xét gì về tấm lòng Thúy Kiều qua nỗi nhớ thương của nàng?

    Câu 3. Tám câu thơ cuối miêu tả cảnh vật qua tâm trạng.

    a) Cảnh là thực hay hư? Mỗi cảnh vật có nét riêng đồng thời lại có nét chung để diễn tả tâm trạng Kiều. Em hãy phân tích và chứng minh điều đó.

    b) Em có nhận xét gì về cách dùng điệp ngữ của Nguyễn Du trong tám câu thơ cuối? Cách dùng điệp ngữ ấy góp phần diễn tả tâm trạng như thế nào?

    Trả lời

    Câu 1 (trang 95 SGK Ngữ văn 9 tập 1)

    Trong sáu câu thơ đầu, khung cảnh thiên nhiên trước lầu Ngưng Bích với không gian, thời gian được nhìn qua con mắt của nhân vật, bộc lộ hoàn cảnh tâm trạng cô đơn, tội nghiệp của Thuý Kiều:

    – Kiều bị giam lỏng trong lầu Ngưng Bích: khoá xuân

    – Vẻ mênh mông, chống chếnh của không gian tô đậm tình cảnh cô đơn, trơ trọi của Kiều: non xa, trăng gần, bốn bề bát ngát, xa trông, non xa, trăng gần… Đúng là: Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng.

    – Hình ảnh trăng, mây sớm đèn khuya biểu đạt sự quay vòng của thời gian. Cùng với những hình ảnh gợi tả không gian, sự tuần hoàn đều đặn của thời gian càng nhấn đậm thêm tình cảnh cô đơn, buồn bã của Kiều.

    Câu 2 (trang 95 SGK Ngữ văn 9 tập 1)

    Tám câu thơ tiếp theo trực tiếp nói lên nỗi nhớ thương của Kiều. Đầu tiên Kiều nhớ tới Kim Trọng. Điều này vừa phù hợp quy luật tâm lý (những người trẻ tuổi bao giờ cũng nhớ người yêu trước), vừa thể hiện sự tinh tế của ngòi bút Nguyễn Du. Nhớ Kim Trọng, nàng nhớ lời thề ước dưới trăng, thương chàng Kim Trọng đêm ngày đau đáu trông chờ uổng công vô ích.

    Tiếp đó, Nàng nhớ đến cha mẹ. Nàng thương xót cha mẹ già yêu mà nàng không được chăm sóc. Nàng tưởng tượng cảnh nơi quê nhà tất cả đã đổi thay mà sự đổi thay lớn nhất là cha mẹ ngày một thêm già yếu. Lần nào khi nhớ về cha mẹ, Kiều cũng “nhớ ơn chín chữ cao sâu” và luôn ân hận mình đã phụ công sinh thành, phụ công nuôi dạy con cái của cha mẹ. Cũng là nỗi nhớ nhưng cách nhớ lại khác nhau với những lí do khác nhau nên cách thể hiện cũng khác nhau.

    Trong cảnh ngộ ở lầu Ngưng Bích, Kiều là người đáng thương nhất. Nhưng nàng đã quên cảnh ngộ bản thân để nghĩ về Kim Trọng, nghĩ về cha mẹ. Những suy nghĩ này cho thấy Kiều là người tình chung thuỷ, người con hiếu thảo, người phụ nữ có tấm lòng vị tha đáng trọng.

    Câu 3 (trang 96 SGK Ngữ văn 9 tập 1)

    Ở tám câu thơ cuối đoạn trích, Nguyễn Du đã cho thấy một bút pháp tả cảnh ngụ tình đặc sắc. Cảnh vật được miêu tả qua tâm trạng, tâm trạng nhuốm lên cảnh vật, cảnh vật thể hiện tâm trạng:

    – Sắc thái của bức tranh thiên nhiên thể hiện từng trạng thái tình cảm của Thuý Kiều:

    + Nhớ thương cha mẹ, quê hương, cảnh vật là:

    Buồn trông cửa bể chiều hôm,

    Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa.

    + Nhớ người yêu, xót xa cho tình duyên lỡ dở, thì cảnh là:

    Buồn trông ngọn nước mới sa,

    Hoa trôi man mác biết là về đâu.

    + Buồn tủi, đau đớn cho thân mình, thì cảnh là:

    Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,

    Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.

    Như vậy, từng chi tiết, hình ảnh khung cảnh thiên nhiên đều mang đậm trạng thái tình cảm của Thuý Kiều. Mỗi cảnh là mỗi tình, song tất cả đều buồn thương, đúng là: “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”.

    – Cụm từ “Buồn trông” lặp lại bốn lần trong tám câu thơ như những đợt sóng lòng trùng điệp, càng khiến nỗi buồn dằng dặc, mênh mông, kết hợp với cái nhìn từ xa đến gần, thu hẹp dần vào nội cảm con người để đến cuối đoạn thì tâm trạng cô đơn, sầu nhớ, cảm giác đau đớn trào lên. Sóng gió nổi lên như sự báo về những đau khổ ê chề rồi đây sẽ xảy ra đối với Kiều, là dự cảm cho một đoạn đời “Thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần.”

    Thế nào là nghệ thuật tả cảnh ngụ tình? Phân tích nghệ thuật tả cảnh ngụ tình trong tám câu thơ cuối (“Buồn trông cửa bể chiều hôm… Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi”).

    – Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình là mượn cảnh vật để gửi gắm tâm trạng. Cảnh không đơn thuần là bức tranh thiên nhiên mà còn là bức tranh tâm trạng. Cảnh ở đây là phương tiện miêu tả còn tâm trạng là mục đích miêu tả.

    – Phân tích nghệ thuật tả cảnh ngụ tình trong tám câu thơ cuối:

    Tám câu thơ cuối trong đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” thể hiện tâm trạng buồn lo của Kiều qua nghệ thuật tả cảnh ngụ tình. Trước hết là hình ảnh thuyền ai thấp thoáng nơi cửa bể chiều hô, gợi thân phận nhỏ bé, chìm nổi vô định, gợi nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương và khát khao sum họp gia đình của Kiều. Hình ảnh ngọn nước, hoa trôi man mác giữa dòng gợi nỗi buồn về số phận trôi nổi, lênh đênh, không biết đi đâu về đâu. Rồi tiếp đến là hình ảnh nội cỏ rầu rầu giữa Chân mây mặt đất một mầu xanh xanh gợi tả tâm trạng bi thương về một tương lai mờ mịt. Nhìn ra phía này thấy buồn, ngoảnh mặt sang phía khác lại càng buồn hơn và dường như nỗi buồn càng lúc càng tăng, càng dồn dập. Âm thanh dữ dội của thiên nhiên với gió cuốn mặt duyền , ầm ầm tiếng sóng cho thấy tâm trạng lo sợ hãi hùng trước những tai hoạ đang rình rập nàng. Cảnh được nhìn từ xa đến gần, màu sắc từ nhạt đến đậm, âm thanh từ tĩnh đến động, nỗi buồn man mác, mông lung đến lo âu kinh sợ. Cách sử dụng ngôn ngữ độc thoại, câu hỏi tu từ và điệp ngữ buồn trông đứng đầu câu lục như đem lại cho đoạn thơ nhịp điệu chậm rãi, âm hưởng trầm lắng, như khắc sâu nỗi buồn dằng dặc, triền miên, chồng chất kéo dài như những lớp sóng trào đang dồn dập, tới tấp xô đến cuộc đời Kiều. Đoạn thơ như một dự báo về chuỗi ngày khủng khiếp, đau thương chờ đợi Kiều ở phía trước.

    Các câu hỏi về bài Kiều ở lầu Ngưng Bích thường gặp

    Đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích nằm ở phần nào của truyện Kiều?

    Đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích nằm ở phần Gia biến và lưu lạc của truyện Kiều

    Nêu tác dụng của các từ láy trong 8 câu thơ của đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích”

    Các từ láy “xa xa”, xa xa, man mác, rầu rầu, xanh xanh đã góp phần diễn tả tâm trạng buồn, cô đơn, tăng dần của nàng Kiều. Chọn những hình ảnh có thực nhưng Nguyễn Du đã miêu tả bằng những đường nét tinh tế. Khung cảnh thiên nhiên làm nền cho hoạt động nội tâm của nhân vật.Cảnh lầu Ngưng Bích được nhìn qua tâm trạng Kiều. Cảnh từ xa đến gần, màu sắc từ nhạt đến đậm, âm thanh từ tĩnh đến động, nỗi buồn từ man mác, mông lung đến lo âu, kinh sợ. Từ đó, càng tô đậm sự cô đơn, thân phận trôi nổi vô định, buồn thương xót xa lẫn bàng hoàng lo sợ trước những tai hoạ đang vây bủa, vùi dập Kiều. Nó như đang dự báo tương lai khủng khiếp đang đợi nàng.

    Giải nghĩa của từ “chén đồng” trong đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích

    Từ “chén đồng” nghĩa là chén rượu thề nguyền, đồng lòng, đồng dạ mà Kiều và Kim Trọng đã uống dưới ánh trăng vằng vặc.

    Những điển cố như Sân Lai, gốc tử, quạt nồng ấp lạnh được sử dụng trong Kiều ở lầu Ngưng Bích nhằm mục đích gì?

    Những điển cố như Sân Lai, gốc tử, quạt nồng ấp lạnh được sử dụng trong Kiều ở lầu Ngưng Bích nhằm mục đích Nói đến sự thương nhớ, đau xót, lo lắng cho cha mẹ khi Thúy Kiều không thể ở bên cạnh khi nàng không ở cạnh.

    Trong 8 câu thơ cuối Kiều ở lầu Ngưng Bích, biện pháp nghệ thuật nào được sử dụng đặc trưng nhất?

    Trong 8 câu thơ cuối Kiều ở lầu Ngưng Bích, biện pháp nghệ thuật tả cảnh ngụ tình được sử dụng đặc trưng nhất.

    Nêu thể loại và thể thơ của tác phẩm Kiều ở lầu Ngưng Bích?

    Kiều ở lầu Ngưng Bích thuộc thể loại miêu tả và tự sự. Thể thơ lục bát.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Văn Kiều Ở Lầu Ngưng Bích (Trích Truyện Kiều)
  • Giáo Án Bài Kiều Ở Lầu Ngưng Bích (Trích Truyện Kiều) (Tiết 1)
  • Soạn Bài: Kiều Ở Lầu Ngưng Bích
  • Phân Tích Kiều Ở Lầu Ngưng Bích Hay Nhất
  • Cách Để Viết Một Báo Cáo Khoa Học
  • Kiều Ở Lầu Ngưng Bích (Trích Truyện Kiều)

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Kiều Ở Lầu Ngưng Bích Của Nguyễn Du
  • Ôn Tập Văn Bản “kiều Ở Lầu Ngưng Bích”
  • Ôn Tập Đoạn Trích Kiều Ở Lầu Ngưng Bích
  • Ôn Thi Vào 10 Môn Văn: Đoạn Trích “kiều Ở Lầu Ngưng Bích” (Trích “truyện Kiều”
  • Viết Đoạn Văn Thuyết Minh Đoạn Trích Kiều Ở Lầu Ngưng Bích (Khoảng 1 Trang Giấy)
  • Em hãy tìm hiểu cảnh thiên nhiên trong sáu câu thơ đầu:

    – Đặc điểm của không gian trước lầu Ngưng Bích (chú ý không gian mở ra theo chiều rộng, chiều xa, chiều cao qua cái nhìn của nhân vật).

    – Thời gian qua cảm nhận của Thúy Kiều (chú ý hình ảnh trăng, “mây sớm đèn khuya”).

    – Qua khung cảnh thiên nhiên có thể thấy Thúy Kiều đang ở trong hoàn cảnh, tâm trạng như thế nào? Từ ngữ nào góp phần diễn tả hoàn cảnh và tâm trạng ấy?

    Trả lời:

    – Hai chữ “khóa xuân” cho thấy Kiều ở lầu Ngưng Bích thực chất là bị giam lỏng.

    – Câu thơ sáu chữ, chữ nào cũng gợi lên sự rợn ngợp của không gian: “Bốn bề bát ngát xa trông”. Cảnh “non xa”, “trăng gần” như gợi lên hình ảnh lầu Ngưng Bích chơi vơi giữa mênh mang trời nước.

    – Cụm từ “mây sớm đèn khuya” gợi thời gian tuần hoàn, khép kín.

    Câu 2 (Trang 95 SGK ngữ văn 9 tập 1)

    Tám câu thơ tiếp theo trực tiếp nói lên nỗi nhớ thương của Kiều.

    a) Trong cảnh ngộ của mình nàng đã nhớ tới ai? Nàng nhớ ai trước, ai sau? Nhớ như thế có hợp lí không, vì sao?

    b) Cùng là nỗi nhớ nhưng lại là cách nhớ khác nhau với những lí do khác nhau nên thể hiện cũng khác nhau. Em hãy phân tích việc dùng từ ngữ, hình ảnh của tác giả để làm sáng tỏ điều đó.

    c) Em có nhận xét gì về tấm lòng Thúy Kiều qua nỗi nhớ thương của nàng?

    Trả lời:

    – Đầu tiên Kiều nhớ tới Kim Trọng. Điều này vừa phù hợp với quy luật tâm lí, vừa thể hiện sự tinh tế của ngòi bút Nguyễn Du.

    – Tiếp đó Kiều nhớ đến cha mẹ. Nghĩ tới song thân, Kiều thương và xót. Nàng thương cha mẹ khi sáng, khi chiều tựa cửa ngóng tin con, trông mong sự đỡ đần. Nàng xót xa lúc cha mẹ tuổi già sức yếu mà nàng không được tự tay chăm sóc và hiện thời ai người trông nom.

    Câu 3 (Trang 96 SGK ngữ văn 9 tập 1)

    Tám câu thơ cuối miêu tả cảnh vật qua tâm trạng.

    a) Cảnh là thực hay hư? Mỗi cảnh vật có nét riêng đồng thời lại có nét chung để diễn tả tâm trạng Kiều. Em hãy phân tích và chứng minh điều đó.

    b) Em có nhận xét gì về cách dùng điệp ngữ của Nguyễn Du trong tám câu thơ cuối? Cách dùng điệp ngữ ấy góp phần diễn tả tâm trạng như thế nào?

    Trả lời:

    Đúng là cảnh lầu Ngưng Bích được nhìn qua tâm trạng Kiều: cảnh từ xa đến gần, màu sắc từ nhạt đến đậm, âm thanh từ tĩnh đến động, nỗi buồn từ man mác, mông lung đến lo âu, kinh sợ. Ngọn gió cuốn mặt duềnh và tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi là cảnh tượng hãi hùng, như báo trước dông bão của số phận sẽ nổi lên, xô đẩy, vùi dập cuộc đời Kiều.

    Câu 1 – Luyện tập (Trang 96 SGK ngữ văn 9 tập 1)

    Thế nào là nghệ thuật tả cảnh ngụ tình? Phân tích nghệ thuật tả cảnh ngụ tình trong tám câu thơ cuối (“Buồn trông cửa bể chiều hôm… Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi”).

    Trả lời:

    Tả cảnh ngụ tình là một bút pháp đặc trưng của văn học trung đại nói chung, của ngòi bút Nguyễn Du nói riêng với cơ chế là tả cảnh thông qua đó để bộc lộ tâm trạng con người, tả cảnh để nói tình chứ không chỉ là bức tranh tả cảnh thuần túy.

    – Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình trong tám câu thơ cuối:

    → Cảnh vật ở tám câu thơ cuối được nhìn qua con mắt của Thúy Kiều nên nhuốm màu tâm trạng rõ rệt.

    Bạn đang học lớp?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kiều Ở Lầu Ngưng Bích Là Một Bức Tranh Tâm Tình Đầy Xúc Động
  • Soạn + Gợi Ý Câu Hỏi Trên Lớp Bài Kiều Ở Lầu Ngưng Bích
  • Bài 18: Kiều Ở Lầu Ngưng Bích
  • Sơ Đồ Tư Duy Kiều Ở Lầu Ngưng Bích Hay Nhất
  • Đóng Vai Thúy Kiều Kể Lại Kiều Ở Lầu Ngưng Bích Bằng Văn Xuôi
  • Bài 7. Kiều Ở Lầu Ngưng Bích

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Bài Thơ Khi Con Tu Hú Của Tố Hữu
  • Tổng Hợp Các Đề Văn Về Lặng Lẽ Sa Pa Hay Nhất
  • Tóm Tắt Văn Bản “lặng Lẽ Sa Pa”.
  • Mẫu Biên Bản Hội Nghị Cán Bộ Chủ Chốt
  • Mẫu Phiếu Giới Thiệu Nhân Sự
  • GIÁO ÁN THAO GIẢNG

    Giáo viên : Vũ Thị Xoan

    Môn : Ngữ văn 9

    Lớp dạy: 9 D Ngày dạy: 03/10/2014

    Tiết TKB: 4 Tiết PPCT: 32

    Hoạt động của GV và Học sinh

    Nội dung

    HS Đọc lại 8 câu thơ: Tưởng người… bao giờ cho phai

    – GV: Tám câu thơ trên miêu tả những nỗi nhớ thương nào của Kiều?

    – HS: Nỗi nhớ người yêu (Kim Trọng).

    Nỗi nhớ cha mẹ.

    – GV: Người đầu tiên Kiều nhớ đến là ai?

    – HS: Kim Trọng.

    – GV: Tìm những câu thơ thể hiện nỗi nhớ Kim Trọng?

    – HS: Tưởng người … cho phai.

    – GV: Em hiểu “tưởng” có nghĩa là gì?

    – HS: Tưởng là nghĩa là nhớ lại, tưởng tượng, hình dung ra.

    – GV: Nhớ KT, K đã tưởng tượng lại những gì?

    – HS: Kiều nhớ lại buổi thề nguyền dưới trăng.

    Hình ảnh KT ngày đêm trông ngóng chờ đợi tin nàng mà vẫn uổng công vô ích.

    – GV: Kiều nhớ KT trong tâm trạng như thế nào?

    – HS: Đau đớn, xót xa.

    – GV: Kiều đau đớn xót xa vì điều gì?

    – HS: Vì mối tình đầu trong trắng, thiết tha của mình đã tan vỡ.

    – GV giảng: Câu thơ “Tin sương luống những rày trông mai chờ” đã diễn tả được nỗi nhớ thương của K với KT. Nàng hình dung ra được nỗi đau khổ thất vọng của KT khi bặt tin nàng. Rõ ràng nàng đã quên đi nỗi đau cả về thể xác lẫn tinh thần của mình để thương cho KT, lo lắng cho KT.

    – GV: Quay về với hoàn cảnh thực tại của mình, Kiều có suy nghĩ gì?

    – HS: Kiều thương cho thân phận bơ vơ, nổi trôi của mình nơi chân trời góc bể.

    – GV: Em hiểu như thế nào về tâm sự của K qua câu thơ: Tấm son gột rửa bao giờ cho phai?

    – HS: Kiều băn khoăn khi sự trong trắng, trinh tiết của mình đã bị hoen ố biết bao giờ mới gột rửa được.

    Kiều muốn khẳng định tấm lòng thủy chung son sắt của mình với KT sẽ không bao giờ có thể phai nhạt.

    – GV: Từ đó em thấy Kiều nhớ về Kim Trọng với tấm lòng ntn?

    – HS: Kiều nhớ Kim Trọng với tấm lòng thủy chung, son sắt.

    – GV: Quay lại tám câu thơ miêu tả nỗi nhớ của Kiều: Tưởng người … bao giờ cho phai”

    – GV: Em có nhận xét gì về trình tự miêu tả nỗi nhớ của nhà thơ Nguyễn Du qua tám câu thơ trên?

    – HS: Tác giả đã miêu tả nỗi nhớ của Kiều với Kim Trọng trước, nỗi nhớ cha mẹ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thuyết Minh Về Đoạn Trích Kiều Ở Lầu Ngưng Bích
  • Viết Đoạn Văn Thuyết Minh Đoạn Trích Kiều Ở Lầu Ngưng Bích
  • Thuyết Minh Truyện Ngắn Lão Hạc Của Nam Cao
  • Giới Thiệu Truyện Lão Hạc
  • Thuyết Minh Về Tác Phẩm Lão Hạc
  • Soạn Bài Kiều Ở Lầu Ngưng Bích

    --- Bài mới hơn ---

  • Kiều Ở Lầu Ngưng Bích
  • Đọc Hiểu Văn Bản Kiều Ở Lầu Ngưng Bích
  • Soạn Bài Kiều Ở Lầu Ngưng Bích Ngắn Gọn Nhất
  • ✅ Kiều Ở Lầu Ngưng Bích (Trích Truyện Kiều)
  • Mẫu Văn Bản Khai Nhận Di Sản Thừa Kế Năm 2022
  • Soạn bài Kiều ở lầu Ngưng Bích (trích Truyện Kiều – Nguyễn Du)

    Bố cục:

    + Phần 1 (6 câu đầu): Cảnh thiên nhiên ở lầu Ngưng Bích

    + Phần 2 (8 tám câu thơ tiếp): Nỗi nhớ thương của Kiều đối với Kim Trọng và với cha mẹ mình

    + Phần 3 (tám câu thơ cuối cùng): Tâm trạng bế tắc, buồn thảm của Thúy Kiều.

    Hướng dẫn soạn bài

    Bài 1 (trang 95 sgk ngữ văn 9 tập 1)

    – Trong sáu câu thơ đầu, khung cảnh thiên nhiên trước lầu Ngưng Bích với không gian, thời gian được nhìn qua góc nhìn của Thúy Kiều

    + Hoàn cảnh: bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích, cô đơn tội nghiệp

    – Cảnh vật trước lầu Ngưng Bích mênh mông, rộng lớn, tô đậm tình cảnh cô đơn, trơ trọi của Kiều: non xa, trăng gần, bốn bề bát ngát xa trông, non xa, trăng gần…

    – Bao quanh Kiều là không gian, thời gian tuần hoàn đến nhàm chán càng nhấn đậm tình cảnh cô đơn, buồn tủi của Kiều

    – Hoàn cảnh, kết hợp với cảnh vật khiến tâm trạng của Kiều chứa đầy uất ức, hờn tủi trước sự bế tắc không cách nào thoát ra được.

    Bài 2 (Trang 95 sgk ngữ văn 9 tập 1)

    – Tám câu thơ tiếp là nỗi thương nhớ của Kiều về người yêu và gia đình.

    Trình tự nỗi nhớ phù hợp với diễn biến tâm trạng của nhân vật, Kiều nhớ người yêu trước rồi nhớ tới cha mẹ.

    – Trình tự nỗi nhớ hợp lý bởi vì Kiều đã hi sinh vì gia đình, vì cha mẹ. Khi Kiều bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích, Kiều nhớ tới Kim Trọng bởi Kim Trọng không hề biết Kiều phải bán mình chuộc cha, Kim Trọng sẽ ngày đêm uổng công thương nhớ Kiều

    b, Tác giả sử dụng hình ảnh có tính biểu trưng:

    Tưởng người dưới nguyệt chén đồng

    Tin sương luống những rày trông mai chờ.

    – “Chén đồng” hình ảnh gợi nhắc về đêm trăng thề nguyền giữa Kim Kiều. Nhưng giờ đây mỗi người một phương

    + Kiều tưởng tượng Kim Trọng ngóng trông nàng mỏi mòn.

    + “Tấm son” tấm lòng son sắt của Kiều vẫn hướng về Kim Trọng

    – Nỗi nhớ về gia đình: sử dụng các điển tích “Sân Lai”, “Quạt nồng ấp lạnh” để nói về nỗi nhớ của Thúy Kiều về gia đình

    + Kiều lo cha mẹ già không có ai chăm sóc khi ở nhà.

    + Kiều là người con có hiếu, biết yêu thương, quan tâm tới cha mẹ.

    → Kiều là nhân vật giàu tình yêu thương, có hiếu. Kiều vượt lên trên nỗi đau của bản thân để suy nghĩ cho người yêu, gia đình.

    Câu 3 (trang 96 sgk ngữ văn 9 tập 1)

    a, Cảnh vật ở đây là cảnh tưởng tượng của Kiều vì qua mỗi cảnh vật. Mỗi bức tranh thiên nhiên là một kiểu tâm trạng của Thúy Kiều.

    – Nỗi nhớ cha mẹ, quê hương, Kiều trông ngóng theo “cánh buồm xa xa” buổi chiều hôm

    – Kiều nhớ người yêu, xót xa cho tình duyên lỡ dở “hoa trôi man mác biết là về đâu”

    – Kiều đau đớn buồn tủi cho thân phận mình, khi rơi vào cuộc sống bế tắc ” ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi”

    → Từng cảnh vật, chi tiết chứa đựng tâm trạng, tình cảm của Kiều. Cảnh vật cùng một màu bi thương, buồn tủi.

    – Cụm từ Buồn trông lặp lại bốn lần trong tám câu thơ những đợt sóng lòng trùng điệp, càng khiến nỗi buồn dài dằng dặc, mênh mông, kết hợp với cái nhìn từ xa tới gần.

    – Tác giả diễn đạt sâu sắc nội tâm nhân vật Kiều khi rơi vào cảnh bế tắc, không có lối thoát cho bản thân.

    – Sóng gió nổi lên như sự báo về những đau khổ sẽ ập tới cuộc đời Kiều.

    Luyện tập

    Bài 1 (trang 96 sgk ngữ văn 9 tập 1)

    – Tả cảnh ngụ tình là bút pháp đặc trưng của văn học trung đại. Sử dụng cảnh để bộc lộ tâm trạng của con người, chứ không đơn thuần là tả cảnh.

    – Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình trong tám câu thơ cuối

    – Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình trong tám câu thơ cuối

    + Cảnh vật được nhìn qua lăng kính tâm trạng của nhân vật nên nhuốm màu rõ rệt

    Buồn trông cửa bể chiều hôm/ Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa: gợi liên tưởng đến những chuyến đi xa, rời khỏi bến đỗ

    + Nỗi lo âu về số phận lưu lạc, lênh đênh: Buồn trông ngọn nước mới sa/ Hoa trôi man mác biết là về đâu

    + Cảnh vật nhuộm một màu “rầu rầu” của tâm trạng. “Buồn trông nội cỏ rầu rầu”

    + Dự cảm về một số phận bất trắc, khổ cực của bản thân “ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi”

    → Tám câu thơ diễn tả tâm trạng, nỗi cô đơn, lạc lõng, đầy lo âu về số phận của Thúy Kiều

    Bài 2 (trang 96 sgk ngữ văn 9 tập 1)

    Học thuộc lòng đoạn thơ

    Bài giảng: Kiều ở lầu Ngưng Bích – Cô Nguyễn Dung (Giáo viên VietJack)

    Bài giảng: Kiều ở lầu Ngưng Bích – Cô Nguyễn Ngọc Anh (Giáo viên VietJack)

    Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

    Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k6: chúng tôi

    Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phong Cách Ngôn Ngữ Khoa Học
  • Các Đặc Trưng Của Một Văn Bản Khoa Học
  • 1.ngôn Ngữ Khoa Học Là Gì? Văn Bản Khoa Học Gồm Mấy Loại? 2.đặc Trưng
  • Tuần 18. Các Hình Thức Kết Cấu Của Văn Bản Thuyết Minh
  • Thế Nào Là Văn Thuyết Minh?
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100