Văn Bản Ngoại Giao Là Gì / TOP #10 Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 8/2022 # Top View | Bac.edu.vn

Miễn Trừ Ngoại Giao Là Gì ? Quy Định Của Pháp Luật Về Miễn Trừ Ngoại Giao

--- Bài mới hơn ---

  • Quyền Miễn Trừ Quốc Gia
  • Các Trường Hợp Miễn Trừ Trách Nhiệm Do Vi Phạm Hợp Đồng
  • Những Trường Hợp Được Miễn Trừ Đối Với Hành Vi Hạn Chế Cạnh Tranh Bị Cấm
  • #1 Bình Luận Về Quyền Miễn Trừ Quốc Gia Trong Tư Pháp Quốc Tế
  • Quyển 5. Sách Đệ Nhị Luật
  • Miễn trừ ngoại giao là nguyên tắc và đồng thời là các dạng ngoại trừ riêng biệt mà nước sở tại dành cho người đứng đầu Nhà nước, Chính phủ, Nghị viện và thành viên của Chính phủ, Nghị viện nước ngoài, cũng như tài sản, tàu thuyền của Nhà nước ở nước ngoài không phải thực hiện các biện pháp cưỡng chế từ phía các Toà án, cơ quan tài chính, cơ quan an ninh nước sở tại, đặc biệt là các ngoại trừ đặc biệt, không bị khiếu kiện, bắt giữ, khám xét, thẩm vấn, cấm vận và tịch biên tài sản.

    Cần chú ý phân biệt giữa miễn trừ và ưu đãi. Ưu đãi là những điều kiện, quyền lợi đặc biệt hơn, những ưu tiên pháp lí đặc biệt hơn so với những đối tượng khác. Tuy vậy, trong giai đoạn hiện nay khó phân biệt về mặt pháp lí các quyền ưu đãi và miễn trừ ngoại giao.

    Quyền ưu đãi và miễn trừ ngoại giao là quyền ưu đãi và miễn trừ đặc biệt mà nước sở tại (nước cơ sở tiếp nhận) dành cho cơ quan đại diện ngoại giao nước ngoài, thành viên của cơ quan đại diện ngoại giao nước ngoài cũng như thành viên của gia đình họ, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan và thành viên của cơ quan đại diện đó thực hiện có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ chính thức của mình, Quyền ưu đãi và miễn trừ ngoại giao chủ yếu bạo gồm quyền ưu đãi và miễn trừ dành cho cơ quan đại diện ngoại giao và quyển ưu đãi và miễn trừ dành cho thành viên của cơ quan đại diện ngoại giao, Các tổ chức quốc tế liên chính phủ, các phái đoàn thường trực của quốc gia tại các tổ chức quốc tế cũng có thể được hưởng một số quyền ưu đãi và miễn trừ tại nước sở tại phù hợp với các quy định của pháp luật quốc tế và thực tiễn ngoại giao.

    Theo quy định của Công ước Viên năm 1961 về quan hệ ngoại giao, các quyền miễn trừ ngoại giao dành cho cơ quan đại diện ngoại giao bao gồm: quyền bất khả xâm phạm trụ sở cơ quan đại diện (nhà và phần đất bao bọc quanh nhà); được miễn thực hiện các biện pháp cưỡng chế đối với tài sản và phương tiện giao thông của cơ quan; quyền bất khả xâm phạm các tài liệu và hồ sơ lưu trữ, quyền miễn thuế và các khoản thu tài chính. Bên cạnh đó, cơ quan đại diện ngoại giao cũng có các ưu đãi sau: tự do liên hệ với Chính phủ nước cử đại diện và các cơ quan đại diện nước mình và cơ quan đại diện nước khác ở nước sở tại; các ưu đãi về hải quan; các ưu đãi về lễ tân.

    Quyền miễn trừ ngoại giao dành cho thành viên cơ quan đại diện ngoại giao bao gồm: quyền bất khả xâm phạm về thân thể; quyền bất khả xâm phạm nơi ở; quyền được miễn trách nhiệm hình sự của nước sở tại; quyền được miễn trách nhiệm dân sự và trách nhiệm hành chính khi thực thi công vụ; quyền được miễn thi hành các biện pháp cưỡng chế; quyền được miễn thuế và các khoản thu quốc gia. Thành viên cơ quan đại diện ngoại giao cũng có các ưu đãi sau: ưu đãi về hải quan; tự do đi lại trên lãnh thổ nước sở tại trừ khu vực cấm. Thành viên gia đình của các viên chức ngoại giao cùng được hưởng các quyền ưu đãi và miễn trừ ngoại giao như thành viên cơ quan đại diện ngoại giao.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Motion Graphics Là Gì? Top 4 Ứng Dụng Nổi Bật Của Motion Graphics
  • 3D Motion Design Là Gì?
  • Sự Khác Nhau Giữa Video Animation Với Motion Grapic
  • Motion Capture Là Gì? Tìm Hiểu Về Công Nghệ Nắm Bắt Chuyển Động
  • Bản Góp Ý Dự Thảo Luật Sửa Đổi, Bổ Sung Một Số Điều Của Luật Luật Sư :: Đoàn Luật Sư Tp. Hồ Chí Minh
  • Suất Ngoại Giao Căn Hộ Chung Cư Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Có Bao Nhiêu Hình Thức Sao Văn Bản Trong Cơ Quan Nhà Nước?
  • Mẫu Một Số Công Văn Thông Dụng Hiện Hành 2022 ? Cách Hướng Dẫn Viết Công Văn
  • Không Nên Lạm Dụng, Tùy Tiện Đóng Dấu ‘mật’ Vào Văn Bản
  • Xử Vn Pharma Buôn Thuốc Giả: Văn Bản Giải Mật Của Bộ Y Tế Có Gì?
  • Giải Mật Văn Bản Vụ Vn Pharma: Hội Đồng Giám Định Khẳng Định H
  • Kiến thức cho bạn: Phần lớn khách hàng mua nhà lần đầu hoặc chưa tìm hiểu về bất động sản đều không biết suất ngoại giao căn hộ chung cư….Liên hệ 19006236

    “Suất ngoại giao” căn hộ chung cư là gì?

    Khi mua nhà chung cư chắc hẳn ai cũng biết ba từ “suất ngoại giao” nhưng phần lớn khách hàng mua nhà lần đầu hoặc chưa tìm hiểu về bất động sản đều không biết suất ngoại giao là gì.

    Thứ nhất, căn hộ chung cư được hiểu là:

    Thứ hai, suất ngoại giao là suất mua nhà với giá ưu đãi mà chủ đầu tư dành riêng cho một số cá nhân hoặc cơ quan có quan hệ đối tác chiến lược hoặc quen biết với chủ đầu tư. Hay nói cách khách suất ngoại giao chính là hàng phiếu giảm giá của một dự án chung cư chỉ dành cho một số khách hàng nhất định và số lượng suất ngoại giao này là rất nhỏ. Suất ngoại giao cũng không được quy định trong bất kì một văn bản quy phạm pháp luật nào do đó là lời hứa hoặc lời cam kết của chủ đầu tư với những cá nhân được suất ngoại giao.

    Làm sao để có được suất ngoại giao này?

    Như đã nêu ở trên, nếu khách hàng làm việc trong những cơ quan liên kết, các đơn vị là đối tác hoặc quen biết với chủ đầu tư thì sẽ có cơ hội nhận được suất ngoại giao như đã nói bên trên.

    Những khách hàng mà không thuộc diện trên có nhận được suất ngoại giao không?

    Khách hàng không thuộc diện nêu trên vẫn có thể mua nhà với giá ưu đãi của suất ngoại giao bằng cách mua lại suất ngoại giao của những người có suất ngoại giao mà không có nhu cầu mua nhà vì chưa đủ tiền hoặc đã có nhà rồi.

    Những người nhận được suất ngoại giao mà không có nhu cầu về nhà ở sẽ ký gửi lại suất ngoại giao mà mình nhận được cho chủ đầu tư hoặc cho sàn giao dịch bán lại với khách hàng đang có nhu cầu mua nhà.

    Xin chân thành cảm ơn sự đồng hành của quý khách hàng!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quy Định Về Văn Bản Ngoại Giao
  • Về Văn Bản Pháp Lý Ngoại Giao Đầu Tiên Của Việt Nam Dcch
  • Công Văn, Văn Kiện Ngoại Giao
  • Phân Tích Các Văn Bản Ngoại Giao Trong Quân Trung Từ Mệnh Tập Nhom 6 Lp Qth K38B Hist110802 Docx
  • Bài 16. Định Dạng Văn Bản
  • Quy Định Về Văn Bản Ngoại Giao

    --- Bài mới hơn ---

  • Suất Ngoại Giao Căn Hộ Chung Cư Là Gì?
  • Có Bao Nhiêu Hình Thức Sao Văn Bản Trong Cơ Quan Nhà Nước?
  • Mẫu Một Số Công Văn Thông Dụng Hiện Hành 2022 ? Cách Hướng Dẫn Viết Công Văn
  • Không Nên Lạm Dụng, Tùy Tiện Đóng Dấu ‘mật’ Vào Văn Bản
  • Xử Vn Pharma Buôn Thuốc Giả: Văn Bản Giải Mật Của Bộ Y Tế Có Gì?
  • Công thư.

    Khái niệm.

    Công thư được sử dụng trong các vấn đề giao dịch quan trọng.

    Công thư được sử dụng tại Bộ Ngoại giao, cơ quan đại diện ngoại giao do Lãnh đạo Bộ, Trưởng cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam tại nước ngoài ký.

    Trang đầu của công thư được in trên giấy offset vàng. Trang tiếp theo được in trên giấy offset trắg khổ A4.

    Chức danh đầy đủ của người gửi được in phía góc trái, cân giữa so với Quốc huy, cách mép dưới của Quốc huy là 0,5 cm, phông Times New Roman, cỡ chữ 10-12, in hoa, đậm và thẳng.

    Dấu gạch liền được in phía dưới chức danh, độ dài 1 cm, cân giữa, cách chức danh là 0,5 cm.

    Địa điểm soạn thư và thông tin về thời gian được in cùng dòng với dòng cuối cùng của chức danh, căn lề phải, cách mép phải giấy là 1,5-2 cm.

    Mẫu công thư:

    Phụ lục I. SƠ ĐỒ MẪU CÔNG THƯ (Trên một trang giấy khổ A4: 210 mm ( 297 mm)

    Ghi chú:

    Ô số : Thành phần mẫu công thư

    1: Quốc huy;

    2: Chức danh;

    3: Địa danh và ngày, tháng, năm ban hành công thư;

    4: Nội dung công thư;

    5: Chữ ký đầy đủ của người gửi;

    6: Họ tên đầy đủ người gửi;

    7: Kính gửi: (Ngài TÊN ĐẦY ĐỦ CỦA NGƯỜI NHẬN, CHỨC DANH ĐẦY ĐỦ NGƯỜI NHẬN)

    Công hàm thường (note verbale):

    Khái niệm.

    Công hàm thường là thư tín ngoại giao có mức độ nghi thức thấp hơn công thư. Công hàm thường được bắt đầu bằng câu chào xã giao. Công hàm thường do cấp vụ/ phòng ký hoặc cấp cao hơn, người được trưởng cơ quan ủy quyền ký tắt ở góc dưới bên phải của trang cuối cùng.

    Trang đầu của công hàm thường được in bằng giấy offset vàng (conqueror), các trang tiếp theo được in bằng giấy offset trắng.

    Phụ lục II.

    SƠ ĐỒ MẪU CÔNG HÀM THƯỜNG

    (Trên một trang giấy khổ A4: 210 mm ( 297 mm)

    Ghi chú:

    Ô số : Thành phần mẫu công hàm thường

    1 : Quốc huy

    2 : Tên cơ quan

    3 : Số, ký hiệu công hàm thường

    4 : Nội dung công hàm thường

    4a : Ký tắt

    5 : Địa danh và ngày, tháng, năm ban hành công hàm

    6 : Dấu của cơ quan, tổ chức

    7 : Kính gửi: (TÊN CƠ QUAN NHẬN CÔNG HÀM)

    ĐỊA CHỈ

    Công hàm Pro Memoire:

    Công hàm pro memorie là biên bản trao đổi chính thức về các vấn đề mà Chính phủ ủy quyền hoặc chỉ đạo. Tại Bộ Ngoại giao, văn bản này được trao trực tiếp cho Đại sứ, Công sứ hoặc đại diện. Công hàm loại này do cấp vụ hoặc cấp cao hơn ký tắt ở góc dưới bên phải của trang cuối. Tại cơ quan đại diện ngoại giao, công hàm này có thể trao trực tiếp hoặc chuyển qua giao thông ngoại giao.

    Trang đầu của công hàm pro memoire được in trưên giấy offset vàng. Các trang tiếp theo được in trên giấy offset trắng.

    Mẫu công hàm pro memoire (phụ lục 5)

    Phụ lục V

    SƠ ĐỒ MẪU PRO – MEMOIRE

    (Trên một trang giấy khổ A4: 210 mm ( 297 mm)

    Ghi chú:

    Ô số : Thành phần mẫu PRO – MEMORIA

    1 : Quốc huy

    2 : Tên cơ quan (Bộ Ngoại giao nước Công hòa XHCN VN)

    3a : Số, ký hiệu của Pro – Memoria

    3b : Tiêu đề

    4 : Nội dung Pro – Memoria

    4a : Ký tắt

    5 : Địa danh và ngày, tháng, năm ban hành công hàm

    6 : Dấu của cơ quan, tổ chức

    7 : Kính gửi: (TÊN CƠ QUAN NHẬN CÔNG HÀM)

    Công hàm ngoại giao (diplomatic note):

    Công hàm ngoại giao là thư tín chính thức giữa các Chính phủ truyền đạt các vấn đề Chính phủ ủy quyền hoặc chỉ đạo. Công thức lịch thiệp không được sử

    --- Bài cũ hơn ---

  • Về Văn Bản Pháp Lý Ngoại Giao Đầu Tiên Của Việt Nam Dcch
  • Công Văn, Văn Kiện Ngoại Giao
  • Phân Tích Các Văn Bản Ngoại Giao Trong Quân Trung Từ Mệnh Tập Nhom 6 Lp Qth K38B Hist110802 Docx
  • Bài 16. Định Dạng Văn Bản
  • Cách Copy Tin Nhắn Trên Facebook, Sao Chép Tin Nhắn Facebook
  • Công Văn, Văn Kiện Ngoại Giao

    --- Bài mới hơn ---

  • Về Văn Bản Pháp Lý Ngoại Giao Đầu Tiên Của Việt Nam Dcch
  • Quy Định Về Văn Bản Ngoại Giao
  • Suất Ngoại Giao Căn Hộ Chung Cư Là Gì?
  • Có Bao Nhiêu Hình Thức Sao Văn Bản Trong Cơ Quan Nhà Nước?
  • Mẫu Một Số Công Văn Thông Dụng Hiện Hành 2022 ? Cách Hướng Dẫn Viết Công Văn
  • Trong quan hệ của các quốc gia còn được thể hiện thông qua các công văn, văn kiện ngoại giao mà các quốc gia trao đổi qua lại cho nhau.

    , văn kiện ngoại giao là loại văn bản được sử dụng phổ biến trong quan hệ ngoại giao, quan hệ quốc tế giữa các quốc gia.

    Công văn văn kiện ngoại giao bao gồm các loại văn bản ngoại giao, được công bố đơn phương hoặc là kết quả sự thõa thuận giữa các quốc gia và chủ thể khác của luật quốc tế về các vấn đề mà các bên cùng quan tâm (quan hệ, các vấn đề quốc tế và khu vực…)

    Công văn ngoại giao: bao gồm như các công văn về lễ tân, hành chính : Công hàm, thư trao đổi, điện các loại thiếp…

    Văn kiện ngoại giao còn là văn bản chính thức của quốc gia , trình bày chính thức quan điểm, lập trường thái độ của quốc gia đó về các vấn đề, sự kiện quốc tế , chính sách đối nội đối ngoại, các vấn đề lớn của quốc gia. Gồm có 3 loại:

    Thứ nhất, loại do một bên đưa ra (văn kiện ngoại giao đơn phương) (diễn văn, tuyên bố, sách trắng); thứ hai, có loại song phương, đa phương không kí (tuyên bố của hội nghị, chương trình hành động, thông cáo, thông cáo báo chí, nghị quyết); thứ ba, có loại có kí kết (tuyên bố chung, các điều ước quốc tế như hiệp ước, công ước, hiệp định, định ước, nghị định thư, công hàm trao đổi). Giống như công văn ngoại giao, văn kiện ngoại giao có quy định chặt chẽ về hình thức, cấu trúc… theo thông lệ quốc tế.

    Công văn, văn kiện ngoại giao lại là văn bản chính thức của quốc gia để trao đổi, trình bày về một vấn đề nào đó mà quốc gia quan tâm với các quốc gia khác. Việc trao đổi công văn , văn kiện ngoại giao giữa các quốc gia với nhau, hoặc giữa các tổ chức quốc tế nhằm mục đích thiết lập quan hệ, thăm hỏi, chúc mừng, trao đổi thông tin.

    Như vậy trong xu thế hội nhập toàn cầu hóa như hiện nay, các quốc gia ngày càng muốn thiết lập quan hệ hợp tác, thân thiện với nhau hơn là đối đầu căng thẳng. Và để duy trì quan hệ tốt, cung như để thể hiện quan điểm ý kiến của quốc gia về vấn đề gì đó thì quốc gia thường sử dụng các công văn , văn kiện ngoại giao. Đó là một hình thức trao đổi mang tính quốc gia, thể hiện sự trang trọng. Nó chỉ là văn bản chứa đựng quan điểm, lập trường đơn phương của quốc gia , về một vấn đề nào đó , đặc biệt là các công văn ngoại giao, vì thế nó không có giá trị ràng buộc gì giữa các quốc gia mà nó chỉ mang tính chất trao đổi là chủ yếu.

    Tuy nhiên , đối với văn kiện ngoại giao, nó có loại có kí kết như tuyên bố chung nếu được các quốc gia đồng ý, chấp nhận kí kết vào tuyên bố đó thì nó lại tạo ra giá trị ràng buộc giống như một điều ước quốc tế bình thường. Tuy nhiên số lượng này là không nhiều

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Các Văn Bản Ngoại Giao Trong Quân Trung Từ Mệnh Tập Nhom 6 Lp Qth K38B Hist110802 Docx
  • Bài 16. Định Dạng Văn Bản
  • Cách Copy Tin Nhắn Trên Facebook, Sao Chép Tin Nhắn Facebook
  • Phân Biệt Tin Nhắn Sms Và Mms Khác Nhau Như Thế Nào ?
  • Cách Gửi Tin Nhắn Văn Bản Thay Vì Tin Nhắn Imessage Trên Iphone Hoặc Ipad
  • Http Là Gì ? Giao Thức Truyền Siêu Văn Bản Tạo Nên Mạng Internet

    --- Bài mới hơn ---

  • Tin Học 6 Bài 17: Định Dạng Đoạn Văn Bản
  • Thế Nào Là Đoạn Văn ?
  • Cách Liên Kết Đoạn Văn Trong Văn Bản
  • Đọc Ghi File Trong C
  • File Là Gì ? Khái Niệm Và Cấu Trúc Của File Như Thế Nào
  • HTTP được Tim Berners-Lee khởi xướng tại CERN năm 1989. Phát triển HTTP ban đầu là nỗ lực phối hợp của Internet Engineering Task Force (IETF) và Hiệp hội mạng toàn cầu (W3C), sau đó công việc được chuyển sang IETF thực hiện.

    HTTP/1.1 lần đầu tiên được ghi nhận trong RFC 2068 vào năm 1997. Đặc điểm kỹ thuật đó đã bị RFC 2616 thay thế vào năm 1999, và sau đó là RFC 7230 vào năm 2014.

    HTTP/2 là một phiên bản giao thức hiệu quả hơn được công bố vào năm 2022; hiện được hỗ trợ bởi các máy chủ web và trình duyệt chính qua lớp vận chuyển bảo mật (TLS) bằng cách sử dụng tiện ích mở rộng Application-Layer Protocol Negotiation (ALPN) yêu cầu TLS 1.2 hoặc mới hơn.

    HTTP/3 là sự kế thừa được đề xuất cho HTTP/2, đã được sử dụng trên web, sử dụng UDP thay vì TCP cho giao thức truyền tải cơ bản. Giống như HTTP/2, nó không bị lỗi thời trước các phiên bản chính của giao thức. Hỗ trợ cho HTTP/3 đã được thêm vào Cloudflare và Google Chrome (bản dựng Canary) vào tháng 9 năm 2022.

    Tổng quan kỹ thuật giao thức HTTP

    Các chức năng HTTP cung cấp giao thức truyền trong mô hình máy chủ – khách. Một trình duyệt web có thể là khách và một máy tính lưu trữ trang web có thể là máy chủ. Máy khách gửi một thông báo yêu cầu HTTP đến máy chủ. Máy chủ, cung cấp các tài nguyên như tệp HTML và nội dung khác hoặc thực hiện các chức năng khác thay cho máy khách, trả về thông báo phản hồi cho máy khách. Phản hồi chứa thông tin trạng thái hoàn thành về yêu cầu và cũng có thể chứa nội dung được yêu cầu.

    Trình duyệt web là một ví dụ về tác nhân người dùng (UA). Các loại tác nhân người dùng khác bao gồm phần mềm lập chỉ mục được sử dụng bởi các nhà cung cấp dịch vụ tìm kiếm (trình thu thập dữ liệu web ), trình duyệt giọng nói, ứng dụng di động và phần mềm khác truy cập, hiển thị nội dung web.

    HTTP được thiết kế để làm gì ?

    Cho phép các thành phần mạng liên lạc giữa máy khách và máy chủ. Các trang web lưu lượng truy cập cao thường được sử dụng các bộ đệm web cung cấp nội dung thay cho các máy chủ thật để cải thiện thời gian phản hồi. Các trình duyệt web lưu trữ tài nguyên web đã truy cập trước đó và sử dụng lại chúng khi có thể, để giảm lưu lượng mạng. Các máy chủ proxy HTTP tại các mạng riêng có thể tạo kết nối cho máy khách bằng cách chuyển tiếp gói tin với các máy chủ bên ngoài.

    HTTP là một giao thức lớp ứng dụng được thiết kế trong bộ giao thức Internet, có chức năng vận chuyển cơ bản và đáng tin cậy

    HTTP được xác định bằng các Uniform Resource Locators (URL). Ví dụ: bao gồm tất cả các thành phần tùy chọn:

    HTTP/1.1 là bản sửa đổi của HTTP gốc (HTTP/1.0). Trong HTTP/1.0, một kết nối riêng biệt gửi đến cùng một máy chủ cho mọi yêu cầu tài nguyên. HTTP/1.1 có thể sử dụng lại kết nối nhiều lần để tải xuống hình ảnh, scripts, stylesheets, v.v … sau khi trang được gửi. Do đó, phiên bản HTTP/1.1 có độ trễ ít hơn do việc thiết lập kết nối TCP tốn thời gian đáng kể.

    Tìm kiếm bởi Google

    • http request là gì
    • http protocol là gì
    • https và http là gì
    • http có nghĩa là gì
    • siêu văn bản http là gì

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Nhanh Nhất Để Đọc Từng Dòng Tệp Văn Bản Là Gì?
  • 7.5 Dạng Văn Bản (P1)
  • Khái Niệm Dạng Văn Bản
  • Mẹo Bôi Đen Văn Bản Trong Word
  • Thao Tác Đánh Dấu Chọn Văn Bản
  • An Toàn Giao Thông Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Cương Chi Tiết Luật Bảo Đảm Trật Tự, An Toàn Giao Thông Đường Bộ
  • Cấp Phát Miễn Phí 3.000 Tờ Gấp Tuyên Truyền An Toàn Giao Thông “Đã Uống Rượu, Bia Không Lái Xe”
  • Đảm Bảo An Toàn Giao Thông Học Đường
  • Thực Trạng Học Sinh Vi Phạm Luật Giao Thông Đường Bộ
  • Nâng Cao Nhận Thức Cho Học Sinh Khi Tham Gia Giao Thông
  • An toàn giao thông là gì?

    An toàn giao thông hiểu một cách nôm na là đảm bảo cho những người khi tham gia giao thông đường bộ không bị thương hoặc tử vong do tai nạn giao thông gây ra

    Việt Nam là một nước có số lượng xe gắn máy vô cùng lớn khoảng 40 triệu chiếc, số lượng xe tham gia giao thông hằng ngày tại các thành vô là rất đông chính vì thế mà việc đảm bảo an toàn khi tham gia giao thông luôn phải được đặt lên hằng đầu.

    Nguyên nhân gây mất an toàn giao thông

    Việc đảm bảo an toàn giao thông luôn được đặt lên hàng đầu, tuy nhiên do sự thiếu ý thức khi tham gia giao thông của một số thành phần đã làm ảnh hưởng đến rất nhiều người, gây mất an toàn giao thông cho cả xã hội. Nguyên nhân gây mất an toàn giao thông thường được phân làm hai loại:

    Nguyên nhân chủ quan: xuất phát từ sự thiếu ý thức của người dân khi tham gia giao thông thể hiện qua các hành vi: điều khiển phương tiện khi đã uống rượu, phóng nhanh, vượt ẩu, vượt đèn đỏ, không đội mủ bảo hiểm, lấn làn…

    Nguyên nhân khách quan: do các sự cố của phương tiện hoặc các tác động bên ngoài làm ảnh hưởng đến người điều khiển giao thông.

    Hiện tại thì nguyên nhân chủ quan đang chiếm tỉ lệ lên đến hơn 95%.

    Đảm bảo an toàn giao thông mang đến những lợi ích gì?

    Phải khẳng định một điều rằng đảm bảo an toàn giao thông luôn là ưu tiên hàng  đầu, rất nhiều điều luật được đưa ra cùng với hệ thống tuyên truyền nhưng mục đích cuối cùng là hướng đến an toàn giao thông, cố gắng giảm tỉ lệ tại nạn giao thông đến mức thấp nhất. Khi mà an toàn giao thông được đam bảo thì nó mang đến rất nhiều lợi ích như:

    – Đảm bảo tính mạng con người, như thống kê tại nước ta hằng năm thì số lượng người chết vì tai nạn giao thông tính đến tháng 6 năm 2022 lên đến 3810 người một con số thật sự quá lớn và đi kèm với đó rất nhiều nỗi mất mát tan thương cho gia đình nhạn nhân. Bên cạnh đó con số người bị thương tật do tai nạn là 6358 người cũng rất lớn, chính vì thế mà nếu an toàn giao thông được đảm bảo tốt thì số người tử vong và bị thương sẽ được kéo giảm một cách tuyệt đối đúng như câu khẩu hiệu “An toàn giao thông là hạnh phục của mỗi gia đình và cả xã hội”

    – Giảm thiệt hại về kinh tế, bên cạnh thiệt hại về mặt con người thì thiệt hại về mặt kinh tế do tai nạn giao thông gây ra là vô cùng lớn bao gồm tiền chạy chữa cho người bị nạn, tiền sữa chữa xe cộ, ùn tắt giao thông…hậu quả kinh tế do nó gây ra là vô cùng lớn

    An toàn giao thông là trách nhiệm của ai?

    Có thể khẳng định một điểu rằng an toàn giao thông là nhiệm vụ chung của tất cả mọi người tham gia giao thông trên đường nó không là nhiệm của riêng của một cá nhân hay một tổ chức nào. Mọi người khi tham gia giao thông đều có trách nhiệm và nghĩa vụ là đảm bảo an toàn giao thông nhằm đảm bảo an toàn không chỉ cho bản thân mình mà còn cho những người đang cùng tham gia giao thông, vì thế mà mọi người cần phải tự mình nâng cao ý thức của bản thân để bảo vệ chính bản thân mình trước nhất.

    Bên cạnh đó các cơ quan chức năng cần có các biện pháp nhằm nâng cao ý thức cũng như xử lý các hành vi cố tình vi phạm giao thông nhằm răng đe mọi người để mọi người cùng nhắc nhau thực hiện một cách tốt nhất.

    Cách tuyên truyền an toàn giao thông hiệu quả

    Ngoài các biện pháp đã được sử dụng từ lâu như căn băng rôn, truyền thanh, các bài phóng sự trên truyền hình về tình hình giao thông…thì hiện nay cảnh sát giao thông còn tiến hành các buổi dạy, trao đổi giải đáp thắc mắc cho người dân về kiến thức pháp luật cũng như những chia sẻ về an toàn giao thông khi lưu thông trên đường, đây là một phương pháp đặt biệt hiệu quả dành cho cánh tài xế và được rất nhiều người quan tâm. Bên cạnh đó là các bản tin, bài báo các hình ảnh về tai nạn giao thông cũng góp phần cảnh tỉnh những người có ý thức giao thông kém đang đem sinh mạng của mình đùa giỡn với tử thần.

    Mối quan hệ giữa văn hóa giao thông và an toàn giao thông

    Có thể nói giữa văn hóa giao thông và an toàn giao thông tồn tại một mối quan hệ tương hỗ lẫn nhau, nếu như văn hóa giao thông của mọi người được nâng cao thì khi ấy an toàn giao thông cũng sẽ được đảm bảo, kéo theo đó là tỉ lệ tai nạn giao thông giảm mang đến hạnh phục cho mọi người và xã hội. Ngược lại khi an toàn giao thông được thực hiện tốt, mọi người nghiệm chỉnh chấp hành luật an toàn đường bộ thì những người khác sẽ nhìn vào đó mà làm gương từ đây thì văn hóa giao thông cũng trở nên tốt hơn do mọi người đã thấy được lợi ích mà an toàn giao thông mang lại cho họ.

    Đảm bảo an toàn giao thông là mục tiêu chung của toàn xã hội để tai nạn giao thông không còn là nỗi đau của mỗi gia đình nữa, muốn thế mọi người cần tự giác chấp hành nghiệm chỉnh luật giao thông và nhắc nhở người khác cùng thực hiện, có thế thì tại nạn giao thông mới bị kéo giảm, mang lại hạnh phục cho mọi gia đình và toàn xã hội.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cô Học Trò Đạt Giải 3 Cuộc Thi “An Toàn Giao Thông Cho Nụ Cười Ngày Mai”
  • Giải Pháp Tuyên Truyền, Giáo Dục Về An Toàn Giao Thông
  • Tuyên Truyền Pháp Luật Về An Toàn Giao Thông Cho Các Em Học Sinh
  • An Toàn Giao Thông Cho Học Sinh Đến Trường .công An Tra Vinh
  • 7 Nội Quy Của Bộ Gd
  • Về Văn Bản Pháp Lý Ngoại Giao Đầu Tiên Của Việt Nam Dcch

    --- Bài mới hơn ---

  • Quy Định Về Văn Bản Ngoại Giao
  • Suất Ngoại Giao Căn Hộ Chung Cư Là Gì?
  • Có Bao Nhiêu Hình Thức Sao Văn Bản Trong Cơ Quan Nhà Nước?
  • Mẫu Một Số Công Văn Thông Dụng Hiện Hành 2022 ? Cách Hướng Dẫn Viết Công Văn
  • Không Nên Lạm Dụng, Tùy Tiện Đóng Dấu ‘mật’ Vào Văn Bản
  • Sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (DCCH) ra đời, tình hình ngày càng nguy cấp không chỉ vì nạn đói, nạn dốt hoành hành mà chúng ta còn bị các nước đế quốc đưa lực lượng quân sự hỗn hợp vào dưới danh nghĩa quân Đồng minh giải giáp phát xít Nhật. Ở miền Bắc, hơn 20 vạn quân Tưởng kéo vào đóng quân từ biên giới Việt-Trung đến vĩ tuyến 16. Ở miền Nam, quân Anh kéo vào giúp quân Pháp và trang bị cả vũ khí cho quân Nhật để tiếp sức cho Pháp.

    Các thế lực của Anh, Mỹ, Trung Hoa dân quốc lăm le dùng sức mạnh của vũ khí hiện đại để tạo điều kiện cho Pháp quay lại thống trị Đông Dương. Chính phủ Anh kêu gọi Chính phủ Quốc dân đảng của Tưởng Giới Thạch “tạo mọi dễ dàng cho lực lượng Pháp và các quan chức cai trị của Pháp trở lại Đông Dương càng sớm càng tốt”. Ủy ban Đối ngoại của Mỹ cũng cho biết “không muốn áp đặt một sự kiểm soát nào nhưng sẵn sàng giúp đỡ Pháp nếu họ cần”.

    Chính quyền Tưởng đang lo đối phó với nội chiến nên cũng tuyên bố “không hề có tham vọng về lãnh thổ đối với Việt Nam”, vì thế Pháp ra sức ve vãn, thương thuyết với Tưởng để gấp rút thâu tóm Đông Dương. Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thấy rất rõ mưu đồ tái xâm lược của Pháp nhưng vẫn kiên trì thực hiện chính sách “hòa để tiến” vì: Chúng ta cần hòa bình để xây dựng nước nhà, cho nên chúng ta buộc lòng nhân nhượng để giữ hòa bình.

    Bắt đầu từ ngày 15/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gặp J.Sainteny (Ủy viên Cộng hòa Pháp ở Bắc Việt Nam, nhân vật đối thoại chính) và Caput (đảng viên đảng Xã hội Pháp, người trung gian) để bắt đầu tiến trình đàm phán hòa bình Việt – Pháp. Nhiều lần, cuộc đàm phán bị bế tắc, ngừng lại thì hai bên lại nhờ trung gian chắp nối gặp gỡ.

    Quá trình đàm phán diễn ra rất căng thẳng, như thư ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết trong hồi ký: “Sainteny tuyên bố quyết không từ bỏ bất cứ cơ hội nào để lập lại quyền lợi chính đáng của nước Pháp trên mảnh đất này nên khăng khăng giữ vững lập trường thực dân. Bác cũng tranh luận từng câu, từng chữ nhưng rất kiên quyết trong tinh thần bảo vệ nguyện vọng thiêng liêng của nhân dân Việt Nam.

    Trong các cuộc hội đàm, Bác hút thuốc liên tục, có khi hút cả loại Gauloises nặng của Pháp để trên bàn họp. Pignon cũng rít thuốc liên miên, còn Sainteny thì không lúc nào ngừng phì phèo cái tẩu. Khói quẩn quanh mù mịt trong phòng. Những hôm họp căng thẳng quá, Bác hút nhiều, buổi tối về ho suốt. Tôi khuyên Bác bớt hút thuốc thì Bác nói: Mình phải hút nhiều để họ tưởng mình suy nghĩ lung lắm. Kỳ thực, quanh quẩn vẫn là lập trường ban đầu, họ cũng vậy mà mình cũng vậy, nhưng mình chủ động, còn họ bị động”.

    Cuối tháng 1/1946, quân đội Anh rút khỏi Đông Dương và coi như giao lại miền Nam Việt Nam cho quân Pháp. Ngay sau đó, cao ủy Pháp D’Argenlieur phái tướng Salan sang thương lượng với chính quyền Tưởng ở Trùng Khánh để đổ quân vào miền Bắc Việt Nam.

    J.Sainteny viết trong hồi ký: “Hồ Chí Minh và các cố vấn của ông tranh luận với tôi từng câu từng chữ để đi tới bản Hiệp định Pháp-Việt. Đã bao lần chúng tôi có cảm tưởng không thể nào đạt được thỏa thuận, cảm giác thất vọng vì chúng tôi không bao giờ có được tiếng nói chung. Hồ Chí Minh yêu cầu phải được suy nghĩ cẩn thận, phải tham khảo ý kiến các cộng sự, các cố vấn. Về phía tôi, tôi cũng phải thường xuyên hỏi ý kiến Phủ Cao ủy đặt tại Sài Gòn trước khi chấp nhận một câu, một chữ trong đàm phán. Chỉ riêng việc định nghĩa nội dung từ Độc Lập đã làm những cuộc đối thoại giữa chúng tôi vấp váp nhiều nhất và nhiều lần đứt đoạn. Những cuộc đối thoại đứt đoạn này kéo dài nhiều ngày, thậm chí nhiều tuần cho tới khi một người trung gian có nhiều thiện chí đã tìm cách để những người đối thoại Pháp-Việt giáp mặt nhau, đó là Louis Caput. Mãi tới ngày 16/2, sau một cuộc họp kéo dài vừa mới được nối lại, lần đầu tiên chúng tôi mới có cảm giác là có khả năng đạt được thỏa thuận”.

    Sau nhiều lần mặc cả về quyền lợi, ngày 28/2/1946, Hiệp ước Hoa-Pháp được ký tại Trùng Khánh, chấp nhận cho Pháp đem quân vào thay thế quân Tưởng ở Bắc Đông Dương và để đổi lại, Pháp trả cho Tưởng các tô giới Pháp ở Trung Quốc cùng tuyến đường xe lửa Vân Nam và hàng hóa của Tưởng qua cảng Hải Phòng sẽ được miễn thuế.

    Trên thực tế, sau khi đã có Hiệp ước này, quân Tưởng vẫn ép ta cải tổ Chính phủ để đưa thêm tay chân của chúng vào và thực chất vẫn nấn ná ở lại Đông Dương để vừa bảo vệ cho sườn phía nam Trung Hoa dân quốc, vừa tạo cớ đưa ra thêm yêu sách mới cho Pháp. Trong khi người Pháp hối thúc việc thi hành thỏa ước 28/2 và sốt ruột đưa quân vào miền Bắc Việt Nam thay thế quân Tưởng từ 1/3 và hoàn tất chuyển giao ngày 31/3/1946 thì cá nhân Tổng Tư lệnh quân đội Tưởng ở Bắc Việt Nam Lư Hán rất bất bình với Hiệp định Hoa-Pháp, mặc dù quân Tưởng vẫn được nhiều lợi ích.

    Với ảo mộng bành trướng, Lư Hán cho rằng với tổ chức Việt Nam quốc dân đảng, ông ta sẽ dựng lên một chính quyền thân dân quốc tại Việt Nam nên cứ lờ đi yêu cầu của phía Pháp cho họ đổ quân vào Hải Phòng ngày 9/3. Do vậy, quan hệ giữa Pháp và Tưởng nhanh chóng trở nên căng thẳng.

    Trong bối cảnh đó, Đảng và Chính phủ đã xác định rõ lập trường: “Giảng hòa của ta đối với Pháp là độc lập nhưng liên minh với Pháp. Pháp thừa nhận quyền dân tộc tự quyết của dân ta và sự thống nhất quốc gia. Ta có thể cho Pháp quyền đóng quân trên đất nước ta nhưng chỉ tạm thời và có hạn”.

    Sáng ngày 4/3/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự cuộc họp đầu tiên của Chính phủ liên hiệp kháng chiến bàn về các vấn đề hệ trọng và các nguyên tắc đàm phán với Pháp trên cơ sở Việt Nam độc lập và Chính phủ cử ra một tiểu ban nghiên cứu những điều kiện của ta trong đàm phán. Chiều cùng ngày, Người họp với các phóng viên Việt Nam để bác bỏ những tin bịa đặt đồn đại về cuộc đàm phán Việt-Pháp đang gây hoang mang và kích động quần chúng. Người vẫn nhắc nhân dân phải luôn cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu và kháng chiến đến cùng.

    Trong ngày, Người cũng trao đổi với Sainteny về vấn đề Nam Bộ. Sáng ngày 5/3, báo Cứu Quốc đăng tuyên bố ba điểm trong chính sách đối ngoại của Chính phủ ta: “Đối với các nước Đồng minh, nước Việt Nam bao giờ cũng chủ trương thân thiện, nhất là đối với Trung Hoa; Đối với các quốc gia nhược tiểu đang chiến đấu giành độc lập thì dân tộc Việt Nam rất đồng tình; Đối với dân Pháp, dân Việt Nam không thù hằn gì nhưng cực lực phản đối chế độ thực dân và cương quyết giữ quyền độc lập. Chính phủ Việt Nam chỉ nhận điều đình với Chính phủ Pháp theo nguyên tắc “dân tộc tự quyết” của Hiến chương Đại Tây Dương”.

    Sáng cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh về làng Hậu Ái, Hoài Đức, Hà Tây dự hội nghị bất thường của BCH TƯ Đảng bàn về chủ trương thương lượng với Pháp. Buổi tối, Người làm việc rất khuya với J. Sainteny, ông này nhớ lại: “Theo dự kiến, Hiệp định sẽ được ký kết chậm nhất là vào đêm ngày 5 rạng ngày 6/3 nhưng mãi tới nửa đêm, các nhà thương lượng đôi bên vẫn còn sa lầy trong bế tắc. Pignon và tôi rút về nhà riêng sau khi đề nghị Hồ Chí Minh suy nghĩ thêm. Tôi cũng nói rất rõ với Hồ Chí Minh là để đến hôm sau nữa thì chắc chắn sẽ quá chậm vì các tàu chiến của Pháp chở Leclerc và đội quân viễn chinh tăng viện đã đến sát bờ biển Bắc kỳ. Trong khi đó chập tối 5/3, Leclerc đã cho người mang đến tôi một lá thư riêng, đề nghị tôi bằng bất cứ giá nào cũng phải đi đến ký kết vì Leclerc đã được mật báo về những ý đồ từ chỉ huy quân đội của Lư Hán chiếm giữ Bắc kỳ đang muốn chống lại quân Pháp đổ bộ”.

    Chủ tịch Hồ Chí Minh và J. Sainteny nghe đọc nội dung bản Hiệp định sơ bộ trước khi ký kết chính thức, ngày 6/3/1946.

    Sáng sớm ngày 6/3, quân Pháp đổ bộ vào Hải Phòng đã bị quân Tưởng ngăn cản và hai bên nổ súng bắn nhau đến tận đầu giờ chiều. 8 giờ 30 sáng cùng ngày tại Bộ Nội vụ, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì cuộc họp Hội đồng Chính phủ nghe báo cáo về công tác ngoại giao và Dự thảo nội dung Hiệp định sơ bộ sẽ ký với Pháp. Hội đồng Chính phủ đã ký một biên bản đặc biệt tán thành ký Hiệp định đình chiến và mở cuộc đàm phán chính thức với Chính phủ Pháp với điều kiện Pháp công nhận nước Việt Nam DCCH là một quốc gia tự do và Chính phủ Việt Nam bằng lòng để quân đội Pháp thay thế quân đội Trung Hoa.

    Lúc 12 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh và ông Hoàng Minh Giám gặp Sainteny và Pignon tiếp tục tranh luận về những điều khoản của bản Hiệp định và hai bên thống nhất buổi chiều sẽ ký kết chính thức. Lúc 16 giờ 30 tại số nhà 38 Lý Thái Tổ, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ Việt Nam DCCH và J. Sainteny đại diện Chính phủ Pháp đã ký vào bản Hiệp định sơ bộ. Hiệp định này khẳng định nước Việt Nam DCCH là quốc gia tự do, có Chính phủ, Quốc hội, quân đội, tài chính của mình; việc hợp nhất ba kỳ do nhân dân Việt Nam trực tiếp giải quyết.

    Kèm theo Hiệp định là một điều khoản phụ về các vấn đề quân sự gồm bốn điều quy định lực lượng tiếp phòng thay thế quân Trung Hoa gồm 15.000 quân Pháp và 10.000 quân Việt Nam. Số quân Pháp sẽ được quân Việt Nam thay thế theo tỷ lệ 1/5 mỗi năm và hoàn thành trong 5 năm. Chủ tịch Hồ Chí Minh phát biểu tại buổi lễ ký Hiệp định: “Chúng tôi không thỏa mãn vì chưa giành được hoàn toàn độc lập, nhưng chúng tôi sẽ giành được độc lập hoàn toàn”.

    J Sainteny kể lại: “Quan sát viên các nước Đồng minh: Anh, Mỹ, Hoa và cả Pháp nữa vì Hồ Chí Minh muốn, Caput cũng được mời tới dự. Tôi được cử thay mặt Cao ủy Pháp ở Đông Dương, cùng đi với tôi có tướng Salan, Pignon và vài cộng sự viên cơ quan Cao ủy Pháp tại Hà Nội. Bản Hiệp định được đọc to trước mặt cử tọa đứng trong phòng. Hồ Chí Minh ký đầu tiên, liền sau đó Vũ Hồng Khanh cũng đặt bút ký. Hồ Chí Minh đã buộc một người khét tiếng chống Pháp, cầm đầu một lực lượng đối lập hiếu chiến phải ký tên dưới chữ ký của ông để coi đó như một đảm bảo chống lại luận điệu tuyên truyền xuyên tạc là ông phản bội sự nghiệp giành độc lập của Việt Nam” rồi đến lượt tôi ký thay mặt nước Pháp”.

    Lúc 18 giờ tại Bắc Bộ Phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố với đại diện các báo hằng ngày về bản Hiệp định vừa ký. Và hồi 10 giờ ngày 7/3, tại cuộc mít tinh của đông đảo nhân dân Thủ đô trước Nhà hát lớn thành phố, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói về Hiệp định sơ bộ 6/3: “Nước ta đã độc lập thật sự từ tháng 8/1945 nhưng tới nay chưa một cường quốc nào công nhận nền độc lập của ta. Cuộc điều đình với nước Pháp sẽ mở ra con đường làm cho quốc tế thừa nhận ta. Nó sẽ dẫn ta đến một vị trí ngày càng chắc chắn trên trường quốc tế. Đó là một thắng lợi về mặt chính trị… Đồng bào nên bình tĩnh, đoàn kết, trọng kỷ luật…”.

    Người im lặng giây lát rồi tuyên bố: “Tôi, Chủ tịch Hồ Chí Minh suốt đời đã cùng đồng bào chiến đấu cho độc lập của Tổ quốc. Tôi thà chết chứ không bao giờ bán nước”.

    Cuộc đàm phán Việt-Pháp diễn ra từ cuối 1945 đến đầu 1946 và dẫn đến Hiệp định sơ bộ 6/3 là một quyết sách chiến lược của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cứu vãn tình thế nguy cấp, tránh được nguy cơ đất nước phải chống chọi với nhiều kẻ thù cùng một lúc, góp phần bảo vệ thành quả cách mạng mới giành được. Với bản Hiệp định sơ bộ này, chúng ta đã biến thỏa hiệp áp đặt Pháp-Hoa thành bản thỏa thuận tay ba, làm thất bại cuộc mặc cả bá quyền của hai nước lớn, khiến cuộc đổ bộ của quân Pháp xâm chiếm nước ta thành một cuộc hành quân được sự dồng ý của Chính phủ Việt Nam.

    Hiệp định này đã cho chúng ta thêm một khoảng thời gian hòa hoãn với Pháp để củng cố chính quyền, xây dựng lực lượng và đẩy nhanh 20 vạn quân Tưởng cùng bè lũ tay sai ra khỏi đất nước. Hiệp định 6/3 là văn bản pháp lý đầu tiên mà nước Việt Nam DCCH ký với nước ngoài với tư cách là một nhà nước có chủ quyền, mở ra phương thức giao tiếp, thương lượng bình đẳng giữa Việt Nam với Pháp về sau và thực tế chỉ hai tháng sau, lá cờ đỏ sao vàng của ta đã tung bay tại Paris, thủ đô nước Pháp.

    Tác giả Đỗ Hoàng Linh là Phó Giám đốc Khu di tích Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch. Hình: Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các đại diện quốc tế tham dự lễ ký Hiệp định sơ bộ chụp ảnh lưu niệm trước nhà 38 Lý Thái Tổ sau lễ ký. Nguồn: ANTG

    --- Bài cũ hơn ---

  • Công Văn, Văn Kiện Ngoại Giao
  • Phân Tích Các Văn Bản Ngoại Giao Trong Quân Trung Từ Mệnh Tập Nhom 6 Lp Qth K38B Hist110802 Docx
  • Bài 16. Định Dạng Văn Bản
  • Cách Copy Tin Nhắn Trên Facebook, Sao Chép Tin Nhắn Facebook
  • Phân Biệt Tin Nhắn Sms Và Mms Khác Nhau Như Thế Nào ?
  • Văn Bản Thuyết Minh Là Gì

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Miêu Tả Là Gì? Khái Niệm Về Miêu Tả Và Mục Đích
  • Khái Niệm Về Văn Miêu Tả
  • Khái Quát Về Văn Miêu Tả
  • Bài 6. Miêu Tả Trong Văn Bản Tự Sự
  • Miêu Tả Nội Tâm Trong Văn Bản Tự Sự
  • Cớm Đại Học Thuyết Minh, Thuyết Minh Ve Mon Rau Cau Dua, Khế ước Của Quỷ Thuyết Minh, Dàn ý Văn Thuyết Minh, Dàn ý Văn Bản Thuyết Minh, 1 Số Văn Bản Thuyết Minh, Văn Bản Thuyết Minh, 1 Văn Bản Thuyết Minh Là Gì, Dàn Bài Bài Văn Thuyết Minh, Thuyết Minh Về Rau Câu, Thuyết Minh Về Tác Giả Nam Cao, Mẫu Bìa Thuyết Minh Đề Tài, Yêu Cầu Của Văn Bản Thuyết Minh, Mẫu Bìa Thuyết Minh Đề Tài Đại Học Cần Thơ, Thuyết Minh Về Rác, Đào Minh Thuyết, Tóm Tắt Văn Bản Thuyết Minh, Bài ôn Tập Về Văn Bản Thuyết Minh, Bài Tóm Tắt Văn Bản Thuyết Minh, Dàn ý Thuyết Minh Lớp 9, Dàn ý Thuyết Minh, Dàn Bài Văn Thuyết Minh 8, Dàn Bài Thuyết Minh Lớp 9, Dàn Bài 1 Bài Văn Thuyết Minh, Dàn ý Bài Văn Thuyết Minh, Dàn ý 1 Bài Văn Thuyết Minh, Văn 9 Dàn ý Thuyết Minh Cái Nón, Dàn ý 1 Bài Thuyết Minh, Dàn Bài Văn Thuyết Minh, Thuyết Minh Đề Tài, Đề Bài Thuyết Minh Về Cây Lúa, Thuyết Minh Đề Tài Y Học, Văn Bản Thuyết Minh Là Gì, Dàn ý Một Bài Văn Thuyết Minh, Dàn ý Làm Bài Văn Thuyết Minh, Dàn Bài Thuyết Minh, Văn 8 Bài ôn Tập Về Văn Bản Thuyết Minh, Văn 8 Dàn ý Thuyết Minh Về Cây Bút Bi, Soạn Bài ôn Tập Văn Bản Thuyết Minh, Thuyết Minh Về Ngôi Nhà Tái Chế, B06 H Thuyết Minh Báo Cáo Tài Chính, Mẫu Thuyết Minh Báo Cáo Tài Chính 09, Báo Cáo Thuyết Minh Tài Chính, Dàn ý Thuyết Minh Về Hồ Gươm, Báo Cáo Thuyết Minh Tổng Hợp, Thuyết Minh Quy Hoạch, Thuyết Minh Báo Cáo Tài Chính 48, Thuyết Minh Về Chiếc áo Dài, Thuyết Minh Về Dự án Luật Thú Y, Thuyết Minh Về Rau Câu Trai Cây, Thuyết Minh Bãi Đỗ Xe Tự Động, Yêu Cầu Chung Của Văn Bản Thuyết Minh, Bản Thuyết Minh Báo Cáo Tài Chính (mẫu Số B09 – Htx), Bài Văn Mẫu Thuyết Minh Về áo Dài Việt Nam, Bìa Thuyết Mình Thiết Kế, Bản Cam Kết Oan Nghiệt Thuyết Minh, Kế Hoạch X Thuyết Minh, Thuyết Minh Mô Hình Nhà Gôc, Báo Cáo Thuyết Minh Thống Kê Đất Đai, Mẫu B06 H Thuyết Minh Báo Cáo Tài Chính, Giáo án Tóm Tắt Văn Bản Thuyết Minh, Học Thuyết Đa Trí Thông Minh, Đêm ở Trường Học Thuyết Minh, Thuyết Minh Đề Tài Nghiên Cứu Giáo Dục, Thuyết Minh Sử Dụng Đất Huyện Gia Lâm, Phim Bản Cam Kết Oan Nghiệt Thuyết Minh, Thuyết Minh Báo Cáo Tài Chính Qd19, Thuyết Minh Diễn Tập Phòng Thủ , Thuyết Minh Thiết Kế Bản Vẽ Thi Công, Thuyết Minh Quy Hoạch Hà Giang, Thuyết Minh Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học Cấp Cơ Sở, Báo Cáo Thuyết Minh Kế Hoạch Sử Dụng Đất, Thuyết Minh Quy Hoạch ở Hà Giang, Thuyết Minh Điện Lực ở Hà Giang, Thuyết Minh Năng Lực Tài Chính, Thuyết Minh Quy Hoạch Bắc Ninh, Thuyết Minh Dự Thảo Thông Tư, Học Thuyết Giấu Mình Chờ Thời, Thuyết Minh Sửa Đổi Bộ Luật Lao Động, Tiểu Thuyết Minh Thanh, Soan Văn 8 Bài Đề Văn Thuyết Minh Và Cách Làm, Tiểu Thuyết Rừng U Minh, Bản Nhận Xét Thuyết Minh Đề Tài Khoa Học, Thuyết Minh Đề Cương Nghiên Cứu, Thuyết Minh Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học, Tiểu Thuyết 999 Lá Thư Gửi Cho Chính Mình, Thuyết Minh Bộ Luật Dân Sự 2022, Cách Viết Văn Thuyết Minh, ý Nghĩa Thuyết Minh Báo Cáo Tài Chính, Bài Thuyết Minh Sản Phẩm Sáng Tạo, Không Nộp Thuyết Minh Báo Cáo Tài Chính, Thuyết Minh Về Nhôi Nhà Bằng Que Kem, Khái Niệm Văn Thuyết Minh, Thuyết Minh Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học Cấp Quốc Gia, Văn Bản Thuyết Minh Có Vai Trò Và Tác Dụng Như Thế Nào Trong Đời Sống, Giáo án Phương Pháp Thuyết Minh, Thuyết Minh Luật Doanh Nghiệp, Giải Bài Tập Phương Pháp Thuyết Minh, Những Bài Văn Mẫu Lớp 8 Nghị Luận Thuyết Minh, Thuyết Minh Quy Hoạch Trường Tiểu Học,

    Cớm Đại Học Thuyết Minh, Thuyết Minh Ve Mon Rau Cau Dua, Khế ước Của Quỷ Thuyết Minh, Dàn ý Văn Thuyết Minh, Dàn ý Văn Bản Thuyết Minh, 1 Số Văn Bản Thuyết Minh, Văn Bản Thuyết Minh, 1 Văn Bản Thuyết Minh Là Gì, Dàn Bài Bài Văn Thuyết Minh, Thuyết Minh Về Rau Câu, Thuyết Minh Về Tác Giả Nam Cao, Mẫu Bìa Thuyết Minh Đề Tài, Yêu Cầu Của Văn Bản Thuyết Minh, Mẫu Bìa Thuyết Minh Đề Tài Đại Học Cần Thơ, Thuyết Minh Về Rác, Đào Minh Thuyết, Tóm Tắt Văn Bản Thuyết Minh, Bài ôn Tập Về Văn Bản Thuyết Minh, Bài Tóm Tắt Văn Bản Thuyết Minh, Dàn ý Thuyết Minh Lớp 9, Dàn ý Thuyết Minh, Dàn Bài Văn Thuyết Minh 8, Dàn Bài Thuyết Minh Lớp 9, Dàn Bài 1 Bài Văn Thuyết Minh, Dàn ý Bài Văn Thuyết Minh, Dàn ý 1 Bài Văn Thuyết Minh, Văn 9 Dàn ý Thuyết Minh Cái Nón, Dàn ý 1 Bài Thuyết Minh, Dàn Bài Văn Thuyết Minh, Thuyết Minh Đề Tài, Đề Bài Thuyết Minh Về Cây Lúa, Thuyết Minh Đề Tài Y Học, Văn Bản Thuyết Minh Là Gì, Dàn ý Một Bài Văn Thuyết Minh, Dàn ý Làm Bài Văn Thuyết Minh, Dàn Bài Thuyết Minh, Văn 8 Bài ôn Tập Về Văn Bản Thuyết Minh, Văn 8 Dàn ý Thuyết Minh Về Cây Bút Bi, Soạn Bài ôn Tập Văn Bản Thuyết Minh, Thuyết Minh Về Ngôi Nhà Tái Chế, B06 H Thuyết Minh Báo Cáo Tài Chính, Mẫu Thuyết Minh Báo Cáo Tài Chính 09, Báo Cáo Thuyết Minh Tài Chính, Dàn ý Thuyết Minh Về Hồ Gươm, Báo Cáo Thuyết Minh Tổng Hợp, Thuyết Minh Quy Hoạch, Thuyết Minh Báo Cáo Tài Chính 48, Thuyết Minh Về Chiếc áo Dài, Thuyết Minh Về Dự án Luật Thú Y, Thuyết Minh Về Rau Câu Trai Cây,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Bản Thuyết Minh Là Gì? Đặc Điểm
  • Kỹ Năng Mềm Là Gì ?
  • File Mềm Là Gì? Các Định Dạng Của File Mềm
  • Nước Mềm Là Gì? Nước Cứng Là Gì?
  • Tội Vô Ý Làm Lộ Bí Mật Nhà Nước; Tội Làm Mất Vật, Tài Liệu Bí Mật Nhà Nước
  • Văn Bản Hành Chính Là Gì

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Bản Xử Phạt Hành Chính Về Môi Trường
  • Quy Định Về Xử Phạt Vi Phạm Hành Chính Trong Lĩnh Vực Bảo Vệ Môi Trường
  • Văn Bản Xử Phạt Hành Chính Về Đất Đai
  • Quyết Định 1118/qđ Năm 1996 Ban Hành Các Mẫu Văn Bản Thanh Tra, Xử Phạt Vi Phạm Hành Chính Về Bảo Vệ Môi Trường Do Bộ Trưởng Bộ Khoa Học, Công Nghệ Và Môi Trường Ban Hành
  • Văn Bản Xử Phạt Hành Chính
  • Hằng ngày, chúng ta tiếp xúc với hàng hoạt văn bản như quyết định nâng lương, quyết định kỷ luật hoặc giấy mời họp, thông báo,…căn cứ vào nội dung của các văn bản đó mà chúng ta phải thi hành áp dụng theo, đó là loại văn bản hành chính. Bài viết sau đây, Việt Nam Sau Tay Lái sẽ giải thích chi tiết văn bản hành chính là gì cho bạn đọc một cách chi tiết nhất!

    Văn bản hành chính là loại văn bản mang tính thông tin quy phạm Nhà nước, cụ thể hóa việc thi hành văn bản pháp quy, giải quyết những vụ việc cụ thể trong khâu quản lý.

    Các loại văn bản hành chính

    Văn bản hành chính thông thường

    Là những văn bản mang tính thông tin điều hành nhằm thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật khác hoặc dùng để giải quyết các công việc cụ thể, phản ánh tình hình, giao dịch, trao đổi, ghi chép công việc trong cơ quan, tổ chức. Hệ thống loại văn bản này rất đa dạng và phức tạp, có thể phân thành 2 loại chính:

    Văn bản có tên gọi: Thông báo, báo cáo, biên bản, tờ trình, đề án, chương trình, kế hoạch, hợp đồng, các loại giấy (giấy đi đường, giấy giới thiệu, giấy nghỉ phép, giấy ủy nhiệm,…) các loại phiếu (phiếu gửi, phiếu báo, phiếu trình…). Những văn bản loại này thường thể hiện loại tên gọi cụ thể. Ví dụ:

    • Báo cáo: Dùng để trình bày cho rõ tình hình hay sự việc. Ví dụ: Báo cáo tuần, báo cáo tháng, báo cáo quý, báo cáo năm, báo cáo định kỳ, báo cáo đột xuất, báo cáo chuyên đề, báo cáo hội nghị;
    • Biên bản: Bản ghi chép lại những gì đã xảy ra hoặc tình trạng của một sự việc để làm chứng về sau. Ví dụ: biên bản hội nghị, biên bản nghiệm thu, biên bản hợp đồng, biên bản bàn giao.

    Văn bản không có tên gọi: Công văn là văn bản dùng để giao dịch về công việc giữa các cơ quan đoàn thể. Đối với loại văn bản này thì ở đầu văn bản không thể hiện tên loại văn bản. Đây cũng là cách để phân biệt công văn với loại văn bản hành chính khác.

    Ví dụ: Công văn đôn đốc, công văn trả lời, công văn mời họp, công văn giải thích, công văn yêu cầu, công văn kiến nghị, công văn chất vấn.

    Văn bản hành chính cá biệt

    Là phương tiện thể hiện các quyết định quản lý của cơ quan quản lý hành chính nhà nước có thẩm quyền trên cơ sở những quy định chung, quyết định quy phạm của cơ quan nhà nước cấp trên hoặc quy định quy phạm của cơ quan mình nhằm giải quyết các công việc cụ thể.

    Văn bản hành chính có vai trò chủ yếu là cụ thể hóa văn bản quy phạm pháp luật, hướng dẫn cụ thể các chủ trương, chính sách của nhà nước, hỗ trợ cho quá trình quản lý hành chính nhà nước và thông tin pháp luật.

    Chúng ta cần phải phân biệt rõ ràng văn bản hành chính với văn bản quy phạm pháp luật. Theo đó, văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo thủ tục, trình tự luật định, trong đó có quy tắc xử sự chung, được nhà nước đảm bảo thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội, được quy định cụ thể tại Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2022.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Thể Thức Và Kỹ Thuật Trình Bày, Soạn Thảo Văn Bản Hành Chính Trong Các Cơ Quan, Đơn Vị Tuyển Chọn, Tham Khảo Các Mẫu Hợp Đồng
  • Điều Khoản Về Giá Trong Hợp Đồng Mua Bán Tài Sản
  • Công Chứng Văn Bản Chuyển Nhượng Hợp Đồng Mua Bán Nhà Ở
  • Văn Bản Hành Chính Thông Báo
  • Văn Bản Hành Chính Thông Thường Là Gì
  • Phê Bình Văn Bản Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Kỹ Thuật Trình Bày Văn Bản Hành Chính Là Gì?
  • Soạn Bài: Văn Bản Báo Cáo
  • Giúp Em Học Tốt Ngữ Văn Lớp 7 Tập Hai
  • Mẫu Báo Cáo Công Việc Theo Tháng, Tuần, Ngày
  • Pháp Luật Và Văn Bản Quy Phạm Nội Bộ
  • Câu hỏi: Phê bình văn bản là gì?

    Trả lời: Nói một cách đơn giản, phê bình văn bản là một phương pháp được sử dụng để xác định điều bản thảo gốc của Kinh Thánh nói. Bản thảo gốc của Kinh Thánh đã bị mất, che giấu, hoặc không còn tồn tại nữa. Những gì chúng ta có là hàng chục ngàn bản sao của những bản thảo gốc có niên đại từ thế kỷ thứ hai đến thế kỷ thứ 15 sau Công Nguyên (cho Tân Ước) và có niên đại từ thế kỷ thứ 4 trước Công Nguyên đến thế kỷ thứ 15 sau Công Nguyên (cho Cựu Ước). Trong những bản thảo này, có nhiều sự khác biệt nhỏ và một vài khác biệt đáng kể. Phê bình văn bản là sự nghiên cứu của những bản thảo này nhằm xác định xem bản gốc thực sự là gì.

    Có ba phương pháp chính để phê bình văn bản. Đầu tiên là Textus Receptus. Textus Receptus là một bản thảo của Kinh Thánh được biên soạn bởi một người tên là Erasmus vào những năm 1500 sau Công Nguyên. Ông lấy số lượng bản thảo có giới hạn mà ông đã truy cập và biên soạn chúng thành thứ cuối cùng được gọi là Textus Receptus.

    Phương pháp thứ hai được gọi là Majority Text. The Majority Text lấy tất cả các bản thảo có sẵn ngày nay, so sánh sự khác biệt và chọn bản có khả năng chính xác dựa trên việc bản nào xuất hiện nhiều nhất. Ví dụ, nếu 748 bản thảo đọc “ông ấy nói” và 1429 bản thảo đọc “họ nói” thì Majority Text sẽ chọn “họ nói” là bản gốc có khả năng. Không có bản dịch Kinh Thánh chính nào dựa trên Majority Text.

    Phương pháp thứ ba được gọi là phương pháp phê bình hoặc chiết trung. Phương pháp chiết trung bao gồm việc xem xét các bằng chứng bên ngoài và bên trong để xác định văn bản gốc có khả năng. Bằng chứng bên ngoài làm cho chúng ta hỏi những câu hỏi này: trong đó có bao nhiêu bản thảo có bài đọc xuất hiện? Niên đại của những bản thảo này là gì? những bản thảo này được tìm thấy ở những khu vực nào trên thế giới? Bằng chứng bên trong nhắc nhở những câu hỏi này: điều gì có thể đã gây ra những bài đọc khác nhau? Bài đọc nào có thể có khả năng giải thích nguồn gốc của các bài đọc khác?

    Phương pháp nào là chính xác nhất? Đó là nơi cuộc tranh luận bắt đầu. Khi các phương pháp được mô tả lần đầu tiên cho một người nào đó, thì người đó thường chọn phương pháp Majority Text làm phương pháp nên được sử dụng. Về cơ bản nó là “quy tắc đa số” và phương pháp “dân chủ”. Tuy nhiên, có một vấn đề khu vực để xem xét ở đây. Trong vài thế kỷ đầu tiên của Hội Thánh, đại đa số các Cơ Đốc nhân đã nói và viết bằng tiếng Hy Lạp. Bắt đầu từ thế kỷ thứ 4 sau Công Nguyên, tiếng La-tin bắt đầu trở thành ngôn ngữ phổ biến nhất, đặc biệt là trong nhà thờ. Bắt đầu với bản Latin Vulgate, Tân Ước bắt đầu được sao chép bằng tiếng La-tin thay vì tiếng Hy Lạp.

    Tuy nhiên, trong thế giới Cơ Đốc phương đông, tiếng Hy Lạp tiếp tục là ngôn ngữ chủ đạo của nhà thờ trong hơn 1.000 năm nữa. Kết quả là, phần lớn các bản thảo tiếng Hy Lạp đến từ khu vực phương Đông/Đế quốc Đông La Mã. Những bản thảo Đế quốc Đông La Mã này đều rất giống nhau. Tất cả chúng đều có nguồn gốc từ cùng một vài bản thảo tiếng Hy Lạp. Mặc dù rất giống nhau, nhưng các bản thảo Đế quốc Đông La Mã có nhiều sự khác biệt so với các bản thảo được tìm thấy ở các khu vực phía Tây và trung tâm của nhà thờ. Tóm lại: nếu bạn bắt đầu với ba bản thảo, và một bản được sao chép 100 lần, một bản khác được sao chép 200 lần, và bản thứ ba được sao chép 5.000 lần, nhóm nào sẽ có quy tắc đa số? Tất nhiên là nhóm thứ ba. Tuy nhiên, nhóm thứ ba không có khả năng có bản gốc nhiều hơn nhóm thứ nhất hoặc nhóm thứ hai. Nó chỉ có nhiều bản sao hơn. Phương pháp phê bình/chiết trung của phê bình văn bản đưa ra “trọng lượng” bằng nhau cho các bản thảo từ các vùng khác nhau, mặc dù các bản thảo từ phương Đông có đa số áp đảo.

    Phương pháp phê bình/chiết trung hoạt động như thế nào trong thực tế? Nếu bạn so sánh Giăng 5:1-9 trong nhiều bản dịch khác nhau, bạn sẽ nhận thấy rằng câu 4 bị thiếu trong các bản dịch dựa theo phương pháp chiết trung. Trong phương pháp Textus Receptus, Giăng 5:4 đọc, “Vì một thiên sứ thỉnh thoảng giáng xuống trong ao, làm cho nước động, lúc nước đã động rồi, ai xuống ao trước hết, bất kì mắc bệnh gì, cũng được lành”. Tại sao câu này lại thiếu trong bản dịch Kinh Thánh sử dụng phương pháp chiết trung? Phương pháp chiết trung hoạt động như sau: (1) Bản văn của Giăng 5:4 không xảy ra trong hầu hết các bản thảo cổ nhất. (2) Bản văn của Giăng 5:4 xảy ra trong tất cả các bản thảo của Đế quốc Đông La Mã, nhưng không có nhiều bản thảo không phải của phương Đông. (3) Có khả năng là người sao chép bản thảo sẽ thêm một lời giải thích hơn là sẽ loại bỏ một lời giải thích. Giăng 5:4 làm cho nó rõ ràng hơn tại sao người bại muốn vào trong ao. Tại sao người sao chép bản thảo lại xóa câu này? Điều đó không có ý nghĩa. Nó có ý nghĩa về mặt truyền thống của lý do tại sao người bại muốn đi xuống ao sẽ được thêm vào. Theo kết quả của những khái niệm này, phương pháp phê bình/chiết trung không bao gồm Giăng 5:4.

    Trở lại trang chủ tiếng Việt Phê bình văn bản là gì?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nguồn Gốc Của Văn Bản Là Gì
  • Thông Báo Là Gì? Mẫu Thông Báo Và Hướng Dẫn Cách Viết Thông Báo?
  • Thông Báo Là Gì? Các Loại Thông Báo?
  • Bố Cục Của Văn Bản
  • Soạn Bài : Bố Cục Trong Văn Bản
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100