Văn Phòng Luật Sư Phạm Công Hùng / TOP #10 Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 8/2022 # Top View | Bac.edu.vn

Văn Phòng Luật Sư Phạm Văn Út

--- Bài mới hơn ---

  • Luật Sư Phạm Công Út Bị Kỷ Luật, Xóa Tên
  • Luật Sư Trần Minh Hùng Trả Lời Báo Chí Về Hành Vi Xúc Phạm Nhân Phạm, Danh Dự…trên Faceook
  • Tội Phạm Là Gì? Có Bao Nhiêu Loại Tội Phạm?
  • Từ 01/01/2018 Trường Hợp Nào Người Chuẩn Bị Phạm Tội Phải Chịu Trách Nhiệm Hình Sự ?
  • Luật Sư Trần Minh Hùng Trả Lời Báo Chí Vụ Cháu Đỗ Đăng Dư Bị Chết Tại Trại Tạm Giam
  • (1) Điểm b, Khoản 4, điều 63 Nghị định 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 của Chính phủ quy định: Doanh nghiệp báo cáo và thực hiện việc đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp trong thời hạn ba tháng, kể từ ngày nhận được thông báo trong trường hợp nội dung đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế của doanh nghiệp chưa thống nhất. Trường hợp doanh nghiệp không thực hiện theo yêu cầu tại điểm này thì sẽ bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 165 Luật Doanh nghiệp.

    (2) Điểm a, Khoản 2, Điều 47, Thông tư 01/2013/TT-BKHĐT ngày 21/01/2013 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư quy định: Trường hợp doanh nghiệp chỉ cập nhật, bổ sung những thông tin về số điện thoại, số fax, email, website, địa chỉ của doanh nghiệp do thay đổi về địa giới hành chính, thông tin về chứng minh nhân dân, địa chỉ của cá nhân trong Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp thì doanh nghiệp gửi Thông báo theo mẫu quy định tại Phụ lục II-5 ban hành kèm theo Thông tư này đến Phòng Đăng ký kinh doanh cấp tỉnh nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính. Phòng Đăng ký kinh doanh nhận thông báo và cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho doanh nghiệp. Trong trường hợp này, doanh nghiệp không phải trả phí.

    (3) Điểm b, Khoản 2, Điều 47, Thông tư 01/2013/TT-BKHĐT ngày 21/01/2013 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư quy định: Trường hợp doanh nghiệp chỉ cập nhật, bổ sung các thông tin trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp mà không làm thay đổi nội dung của Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp thì doanh nghiệp gửi Thông báo theo mẫu quy định tại Phụ lục II-5 ban hành kèm theo Thông tư này đến Phòng đăng ký kinh doanh cấp tỉnh nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính. Phòng Đăng ký kinh doanh bổ sung thông tin vào hồ sơ của doanh nghiệp và cập nhật thông tin vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. Trong trường hợp này, doanh nghiệp không phải trả phí.

    (4) Điều 23, Thông tư 01/2013/TT-BKHĐT ngày 21/01/2013 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư quy định: Trường hợp doanh nghiệp thay đổi nội dung đăng ký thuế mà không thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh thì doanh nghiệp thông báo thay đổi nội dung đăng ký thuế theo mẫu quy định tại Phụ lục II-6 ban hành kèm theo Thông tư này.

    (5) Đề nghị Quý Doanh nghiệp khi thực hiện đính hoặc bổ sung thông tin về đăng ký doanh nghiệp mang theo thông báo “V/v rà soát, cập nhật thông tin về đăng ký doanh nghiệp” trên website https://hieudinh.dangkykinhdoanh.gov.vn/ và bản sao Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc bản sao Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh,đăng ký thuế.

    (6) Quý Doanh nghiệp có thể truy cập theo địa chỉ https://hieudinh.dangkykinhdoanh.gov.vn/ hoặc https://dangkykinhdoanh.gov.vn/ để biết thêm thông tin chi tiết và tải các mẫu thông báo:

    1. Thông báo cập nhật thông tin về đăng ký doanh nghiệp;
    2. Phụ lục II-5;
    3. Phụ lục II-6.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nguyên Phó Chánh Văn Phòng Thành Ủybị Kỷ Luật Đảng
  • Bộ Chính Trị Kỷ Luật Cảnh Cáo Ông Nguyễn Văn Bình
  • Hàng Loạt Sai Phạm Rất Nghiêm Trọng Của Phó Chánh Vp Thành Ủyphạm Văn Thông
  • ‘dính’ Sai Phạm Đất Đai, Nguyên Phó Chánh Văn Phòng Thành Uỷbị Kỷ Luật
  • Cách Hết Chức Vụ Trong Đảng Với Ông Phạm Văn Thông
  • Văn Phòng Luật Sư Phạm Hải

    --- Bài mới hơn ---

  • Tư Vấn Luật Hình Sự, Dân Sự Tại Hải Phòng
  • Người Bào Chữa Tham Gia Tố Tụng Hình Sự
  • Một Số Quy Định Của Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự Về Người Tiến Hành Tố Tụng Và Người Tham Gia Tố Tụng
  • Phuong Kim Nguyen # 246471
  • Nghề Luật Sư Trong Bối Cảnh Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế
  • * Lưu ý:

      Các thông tin trên chỉ mang tính tham khảo!

    Thông tin Văn phòng luật sư Phạm hải hiện có thể đã thay đổi!

      Để liên hệ với Văn phòng luật sư Phạm hải ở Quận Long Biên, Hà Nội, quý khách vui lòng

    đến trực tiếp địa chỉ Số 35E, Ngõ 412 Phố Ngọc Thụy, Phường Ngọc Thuỵ, Quận Long Biên, Hà Nội.

      Ngoài ra, quý khách có thể liên hệ với ông/bà Phạm Duy Bình tại địa chỉ để được hỗ trợ.

    Thông tin trên được cập nhật tự động từ Tổng cục thuế bởi chúng tôi – website tra cứu thông tin doanh nghiệp, tra cứu thông tin công ty, tra cứu mã số thuế nhanh chóng và chính xác nhất!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Công Ty Luật, Văn Phòng Luật Sư Giỏi, Uy Tín Tại Hải Phòng
  • Thông Báo Chiêu Sinh Lớp Đào Tạo Nghề Công Chứng Và Nghề Luật Sư
  • Chương Trình Đào Tạo Nghề Luật Sư
  • Danh Sách Các Tổ Chức Hành Nghề Luật Sư Tại Hải Dương
  • Văn Phòng Luật Sư Hải An, Hải Phòng
  • Văn Phòng Luật Sư Nguyễn Phạm

    --- Bài mới hơn ---

  • Người Việt Là Dân Tộc Đông Nhất Đang Đón Chờ Đức Thánh Cha Ở Philadelphia.
  • Trò Chuyện Cùng Các Nghị Viên Tái Đắc Cử Tại Quận Cam California
  • Phụ Nữ Mỹ Gốc Việt Năm 2022
  • Thành Công Chính Trị Của Phụ Nữ Mỹ Gốc Việt Trong Năm 2022
  • 2016, Năm Thành Công Nhất Của Phụ Nữ Gốc Việt Trong Chính Trường Mỹ
  • (1) Điểm b, Khoản 4, điều 63 Nghị định 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 của Chính phủ quy định: Doanh nghiệp báo cáo và thực hiện việc đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp trong thời hạn ba tháng, kể từ ngày nhận được thông báo trong trường hợp nội dung đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế của doanh nghiệp chưa thống nhất. Trường hợp doanh nghiệp không thực hiện theo yêu cầu tại điểm này thì sẽ bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 165 Luật Doanh nghiệp.

    (2) Điểm a, Khoản 2, Điều 47, Thông tư 01/2013/TT-BKHĐT ngày 21/01/2013 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư quy định: Trường hợp doanh nghiệp chỉ cập nhật, bổ sung những thông tin về số điện thoại, số fax, email, website, địa chỉ của doanh nghiệp do thay đổi về địa giới hành chính, thông tin về chứng minh nhân dân, địa chỉ của cá nhân trong Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp thì doanh nghiệp gửi Thông báo theo mẫu quy định tại Phụ lục II-5 ban hành kèm theo Thông tư này đến Phòng Đăng ký kinh doanh cấp tỉnh nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính. Phòng Đăng ký kinh doanh nhận thông báo và cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho doanh nghiệp. Trong trường hợp này, doanh nghiệp không phải trả phí.

    (3) Điểm b, Khoản 2, Điều 47, Thông tư 01/2013/TT-BKHĐT ngày 21/01/2013 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư quy định: Trường hợp doanh nghiệp chỉ cập nhật, bổ sung các thông tin trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp mà không làm thay đổi nội dung của Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp thì doanh nghiệp gửi Thông báo theo mẫu quy định tại Phụ lục II-5 ban hành kèm theo Thông tư này đến Phòng đăng ký kinh doanh cấp tỉnh nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính. Phòng Đăng ký kinh doanh bổ sung thông tin vào hồ sơ của doanh nghiệp và cập nhật thông tin vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. Trong trường hợp này, doanh nghiệp không phải trả phí.

    (4) Điều 23, Thông tư 01/2013/TT-BKHĐT ngày 21/01/2013 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư quy định: Trường hợp doanh nghiệp thay đổi nội dung đăng ký thuế mà không thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh thì doanh nghiệp thông báo thay đổi nội dung đăng ký thuế theo mẫu quy định tại Phụ lục II-6 ban hành kèm theo Thông tư này.

    (5) Đề nghị Quý Doanh nghiệp khi thực hiện đính hoặc bổ sung thông tin về đăng ký doanh nghiệp mang theo thông báo “V/v rà soát, cập nhật thông tin về đăng ký doanh nghiệp” trên website https://hieudinh.dangkykinhdoanh.gov.vn/ và bản sao Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc bản sao Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh,đăng ký thuế.

    (6) Quý Doanh nghiệp có thể truy cập theo địa chỉ https://hieudinh.dangkykinhdoanh.gov.vn/ hoặc https://dangkykinhdoanh.gov.vn/ để biết thêm thông tin chi tiết và tải các mẫu thông báo:

    1. Thông báo cập nhật thông tin về đăng ký doanh nghiệp;
    2. Phụ lục II-5;
    3. Phụ lục II-6.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vụ Kỷ Luật Ông Nguyễn Văn Hiến: Liên Quan Gì Đến Đất Vàng Và Út “trọc”?
  • Thi Hành Kỷ Luật Khai Trừ Khỏi Đảng Cựu Thứ Trưởng Nguyễn Văn Hiến
  • Bộ Quốc Phòng Đang Làm Các Bước Để Xử Lý Kỷ Luật Ông Nguyễn Văn Hiến
  • Bộ Quốc Phòng Đang Làm Các Thủ Tục Xử Lý Kỷ Luật Ông Nguyễn Văn Hiến
  • Phó Đô Đốc Hải Quân Nguyễn Văn Tình Bị Kỷ Luật Cảnh Cáo
  • Văn Phòng Luật Sư Phạm Duy

    --- Bài mới hơn ---

  • Luật Sư Phạm Duy Khương, Giám Đốc Shtt Sblaw
  • Luật Sư Phạm Duy Khương Tham Dự Hội Nghị Châu Á Thái Bình Dương Về Quyền Sao Chép
  • ‘vi Phạm Pháp Luật Dân Sự’!
  • Khái Niệm Và Đặc Điểm Của Trách Nhiệm Dân Sự
  • Mẫu Đơn Tố Cáo Xúc Phạm Danh Dự
  • (1) Điểm b, Khoản 4, điều 63 Nghị định 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 của Chính phủ quy định: Doanh nghiệp báo cáo và thực hiện việc đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp trong thời hạn ba tháng, kể từ ngày nhận được thông báo trong trường hợp nội dung đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế của doanh nghiệp chưa thống nhất. Trường hợp doanh nghiệp không thực hiện theo yêu cầu tại điểm này thì sẽ bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 165 Luật Doanh nghiệp.

    (2) Điểm a, Khoản 2, Điều 47, Thông tư 01/2013/TT-BKHĐT ngày 21/01/2013 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư quy định: Trường hợp doanh nghiệp chỉ cập nhật, bổ sung những thông tin về số điện thoại, số fax, email, website, địa chỉ của doanh nghiệp do thay đổi về địa giới hành chính, thông tin về chứng minh nhân dân, địa chỉ của cá nhân trong Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp thì doanh nghiệp gửi Thông báo theo mẫu quy định tại Phụ lục II-5 ban hành kèm theo Thông tư này đến Phòng Đăng ký kinh doanh cấp tỉnh nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính. Phòng Đăng ký kinh doanh nhận thông báo và cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho doanh nghiệp. Trong trường hợp này, doanh nghiệp không phải trả phí.

    (3) Điểm b, Khoản 2, Điều 47, Thông tư 01/2013/TT-BKHĐT ngày 21/01/2013 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư quy định: Trường hợp doanh nghiệp chỉ cập nhật, bổ sung các thông tin trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp mà không làm thay đổi nội dung của Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp thì doanh nghiệp gửi Thông báo theo mẫu quy định tại Phụ lục II-5 ban hành kèm theo Thông tư này đến Phòng đăng ký kinh doanh cấp tỉnh nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính. Phòng Đăng ký kinh doanh bổ sung thông tin vào hồ sơ của doanh nghiệp và cập nhật thông tin vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. Trong trường hợp này, doanh nghiệp không phải trả phí.

    (4) Điều 23, Thông tư 01/2013/TT-BKHĐT ngày 21/01/2013 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư quy định: Trường hợp doanh nghiệp thay đổi nội dung đăng ký thuế mà không thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh thì doanh nghiệp thông báo thay đổi nội dung đăng ký thuế theo mẫu quy định tại Phụ lục II-6 ban hành kèm theo Thông tư này.

    (5) Đề nghị Quý Doanh nghiệp khi thực hiện đính hoặc bổ sung thông tin về đăng ký doanh nghiệp mang theo thông báo “V/v rà soát, cập nhật thông tin về đăng ký doanh nghiệp” trên website https://hieudinh.dangkykinhdoanh.gov.vn/ và bản sao Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc bản sao Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh,đăng ký thuế.

    (6) Quý Doanh nghiệp có thể truy cập theo địa chỉ https://hieudinh.dangkykinhdoanh.gov.vn/ hoặc https://dangkykinhdoanh.gov.vn/ để biết thêm thông tin chi tiết và tải các mẫu thông báo:

    1. Thông báo cập nhật thông tin về đăng ký doanh nghiệp;
    2. Phụ lục II-5;
    3. Phụ lục II-6.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hồ Duy Hải Còn Quyền Gửi Đơn Xin Ân Giảm Án Tử Hình Lên Chủ Tịch Nước?
  • Lịch Sử Phát Triển Của Ngành Thực Phẩm Chức Năng (Tpcn) Trên Thế Giới
  • Tổng Hợp Các Quy Định Về Thực Phẩm Chức Năng Tại Việt Nam
  • Xử Lý Vi Phạm Hành Chính Về Cư Trú
  • Xử Lý Vi Phạm Pháp Luật Cạnh Tranh
  • Văn Phòng Luật Sư Phạm Quốc Hưng

    --- Bài mới hơn ---

  • Luật Sư Từ Chối Bào Chữa Cho Kẻ Giết Phó Bí Thư Quận Ủy
  • Vụ Dùng Nhục Hình Ở Sóc Trăng: Lẽ Nào Bộ Công An Bao Che Cho Tôi?
  • Công Ty Cổ Phần Kosy Và Văn Phòng Luật Sư Phạm Hồng Hải Ký Hợp Đồng Tư Vấn Pháp Lý
  • Ls Phạm Hồng Hải: Luật Sư Của Những Thân Phận Đặc Biệt
  • Luật Sư Phạm Thanh Bình: Việc Tháo Còng Tay Cho Ông Đinh La Thăng Là Cần Thiết.
  • Lớp học buổi tối giành cho các đối tượng chuẩn bị thi hết tập sự, các đối tượng đang học đào tạo luật sư, những đối tượng khác có nhu cầu học tập năng cao kiến thức pháp lý để chuẩn bị thi hết tập sự kỳ 2 năm 2022 bắt đầu học lúc 18g30 thứ 2 ngày 05/10/2020. Các anh/ chị có nguyện vọng vui lòng đăng ký học. Chi tiết như sau:

    Về việc mở lớp Ôn thi hết tập sự luật sư – Đợt 2/2020

    Theo kế hoạch hoạt động năm 2022, để trang bị cho Học viên kiến thức dự thi hết tập sự đợt 2/2020, ngày 22/9/2020 Văn phòng Luật sư (VPLS) Phạm Quốc Hưng quyết định mở lớp ” Ôn thi hết tập sự luật sư – Đợt 2/2020 ” như sau:

    VPLS Phạm Quốc Hưng. Địa chỉ: 386/3D Lê Văn Sỹ, Phường 14, Quận 3, chúng tôi (Gửi xe ở Trường Bạch Đằng, cách Văn phòng 50m, gửi 5.000 đồng/chiếc xe máy).

    Tối Thứ 2, 3, 5 (Đây là thời gian dự kiến, sẽ thống nhất cụ thể vào ngày mở lớp học). Bắt đầu lúc 18h30′.

    VPLS Phạm Quốc Hưng không thu thù lao, học phí của Học viên.

    Tất cả các đối tượng chuẩn bị thi hết tập sự Đợt 2/2020 , các đối tượng đang học đào tạo luật sư ở Học viện Tư pháp, những đối tượng khác có nhu cầu học tập năng cao kiến thức pháp lý.

    6. Quyền và Nghĩa vụ của Học viên: a. Quyền của Học viên:

    – Được tham gia đầy đủ các buổi học; trình bày ý kiến, tranh luận về các vấn đề pháp lý được nêu ra tại buổi học.

    – Được đề xuất các đề tài, vấn đề pháp lý cho từng buổi học.

    b. Nghĩa vụ của Học viên:

    – Đảm bảo tham gia đầy đủ các buổi học quy định, trừ trường hợp bất khả kháng được sự chấp thuận của Trưởng VPLS và thông báo trước 01 ngày cho Thường trực VPLS.

    – Học viên tham gia lớp học phải đóng góp vào Quỹ Xã hội – Từ thiện số tiền 50.000 đồng/Học viên/Buổi học. Số tiền này do các Học viên tự quản lý để sử dụng vào công tác xã hội – từ thiện (trường hợp Học viên có hoàn cảnh khó khăn thì không cần phải đóng số tiền trên).

    – Học viên có nghĩa vụ tìm kiếm và cung cấp thông tin về những hoàn cảnh khó khăn, bất hạnh để xem xét, hỗ trợ số tiền nêu trên.

    Học viên đăng ký học bằng cách gửi đầy đủ thông tin như sau:

    Họ và Tên _Số điện thoại_Email_Khóa học ở Học viện Tư pháp. Hạn chót 17h00′ ngày 07/10/ 2020

    Thông tin gửi về SĐT: 03 7777 5689 (Mr Thân) – 07 0811 6618 (Miss. Cẩm) – 03 7921 5328 (Mr Đạt)

    Văn phòng Luật sư Phạm Quốc Hưng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Người Trong Cuộc Nói Gì Về Việc Tung Tin Giả ‘nữ Luật Sư Phạm Thị Hồng Thêu’ Tự Vẫn Vì Vụ Đồng Tâm
  • Hé Lộ Kẻ Thực Hiện Âm Mưu Sau Cái Chết Của Nữ Luật Sư Phạm Thị Hồng Thêu Bị Đổ Vấy Tự Vẫn Do Vụ Đồng Tâm
  • Thương Tiếc Nữ Luật Sư Phạm Thị Hồng Thêu.
  • Kẻ Táng Tận Lương Tâm Nguyễn Thúy Hạnh Tung Tin Giả Nữ Luật Sư Phạm Thị Hồng Thêu Đã Nhảy Cầu Tự Vẫn Vì Vụ Đồng Tâm
  • Lộ ‘bàn Tay Đạo Diễn Kịch Bản Truyền Thông Bẩn’ Về Nữ Luật Sư Phạm Thị Hồng Thêu Và Vụ Án Đồng Tâm
  • Văn Phòng Luật Sư Phạm Tiến Mạnh

    --- Bài mới hơn ---

  • Quảng Ninh:kiểm Sát Viên Bị Kiểm Điểm Vì Nói Cùn Với… Luật Sư
  • Sắc Lệnh ‘không Cấp Visa Vào Mỹ Cho Người Không Có Bảo Hiểm Y Tế’: ‘chưa Rõ Ràng, Chờ Hướng Dẫn’
  • Luật Sư Lên Tiếng Vụ Công Ty An Thịnh Phát Thuê Xe Rồi Chiếm Đoạt
  • Vụ Võ Sư Phạm Đức Vượng Hành Hung Người: Không Chấp Nhận Hành Vi Côn Đồ
  • Ethan Phạm, Luật Sư Gốc Việt Đầu Tiên Ở Georgia Tranh Cử Vào Quốc Hội Hoa Kỳ
  • (1) Điểm b, Khoản 4, điều 63 Nghị định 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 của Chính phủ quy định: Doanh nghiệp báo cáo và thực hiện việc đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp trong thời hạn ba tháng, kể từ ngày nhận được thông báo trong trường hợp nội dung đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế của doanh nghiệp chưa thống nhất. Trường hợp doanh nghiệp không thực hiện theo yêu cầu tại điểm này thì sẽ bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 165 Luật Doanh nghiệp.

    (2) Điểm a, Khoản 2, Điều 47, Thông tư 01/2013/TT-BKHĐT ngày 21/01/2013 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư quy định: Trường hợp doanh nghiệp chỉ cập nhật, bổ sung những thông tin về số điện thoại, số fax, email, website, địa chỉ của doanh nghiệp do thay đổi về địa giới hành chính, thông tin về chứng minh nhân dân, địa chỉ của cá nhân trong Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp thì doanh nghiệp gửi Thông báo theo mẫu quy định tại Phụ lục II-5 ban hành kèm theo Thông tư này đến Phòng Đăng ký kinh doanh cấp tỉnh nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính. Phòng Đăng ký kinh doanh nhận thông báo và cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho doanh nghiệp. Trong trường hợp này, doanh nghiệp không phải trả phí.

    (3) Điểm b, Khoản 2, Điều 47, Thông tư 01/2013/TT-BKHĐT ngày 21/01/2013 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư quy định: Trường hợp doanh nghiệp chỉ cập nhật, bổ sung các thông tin trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp mà không làm thay đổi nội dung của Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp thì doanh nghiệp gửi Thông báo theo mẫu quy định tại Phụ lục II-5 ban hành kèm theo Thông tư này đến Phòng đăng ký kinh doanh cấp tỉnh nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính. Phòng Đăng ký kinh doanh bổ sung thông tin vào hồ sơ của doanh nghiệp và cập nhật thông tin vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. Trong trường hợp này, doanh nghiệp không phải trả phí.

    (4) Điều 23, Thông tư 01/2013/TT-BKHĐT ngày 21/01/2013 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư quy định: Trường hợp doanh nghiệp thay đổi nội dung đăng ký thuế mà không thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh thì doanh nghiệp thông báo thay đổi nội dung đăng ký thuế theo mẫu quy định tại Phụ lục II-6 ban hành kèm theo Thông tư này.

    (5) Đề nghị Quý Doanh nghiệp khi thực hiện đính hoặc bổ sung thông tin về đăng ký doanh nghiệp mang theo thông báo “V/v rà soát, cập nhật thông tin về đăng ký doanh nghiệp” trên website https://hieudinh.dangkykinhdoanh.gov.vn/ và bản sao Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc bản sao Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh,đăng ký thuế.

    (6) Quý Doanh nghiệp có thể truy cập theo địa chỉ https://hieudinh.dangkykinhdoanh.gov.vn/ hoặc https://dangkykinhdoanh.gov.vn/ để biết thêm thông tin chi tiết và tải các mẫu thông báo:

    1. Thông báo cập nhật thông tin về đăng ký doanh nghiệp;
    2. Phụ lục II-5;
    3. Phụ lục II-6.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tưởng Nhớ Ls Lê Đình Hồ…
  • Vụ Bắn Chết Ls Lê Đình Hồ: Nguyên Nhân Nào?
  • Nghi Phạm Bắn Chết Một Luật Sư Úc Gốc Việt Bị Bắt
  • Luật Sư Gốc Việt Lê Đình Hồ Được Xác Nhận Là Nạn Nhân Của Vụ Nổ Súng Ở Bankstown Hôm Qua
  • Top 5 Văn Phòng, Công Ty Luật Tư Vấn Về Tranh Chấp Đất Đai Uy Tín Nhất Hà Nội 2022
  • Văn Phòng Luật Sư Phạm Khắc Phương

    --- Bài mới hơn ---

  • Nhắn Tin, Gọi Điện Xúc Phạm Người Khác Xử Lý Thế Nào ?
  • Nhắn Tin Xúc Phạm Người Khác Có Vi Phạm Pháp Luật Không?
  • Quyền Được Bảo Vệ Danh Dự, Nhân Phẩm Và Uy Tín Trong Hôn Nhân
  • Đá Cầu Tiếng Anh Là Gì? Nghĩa Tiếng Anh Chuẩn Của Từ Đá Cầu
  • Cầu Thủ Bóng Đá Tiếng Anh Là Gì? Một Số Thuật Ngữ Phổ Biến Trong Bóng Đá
  • (1) Điểm b, Khoản 4, điều 63 Nghị định 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 của Chính phủ quy định: Doanh nghiệp báo cáo và thực hiện việc đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp trong thời hạn ba tháng, kể từ ngày nhận được thông báo trong trường hợp nội dung đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế của doanh nghiệp chưa thống nhất. Trường hợp doanh nghiệp không thực hiện theo yêu cầu tại điểm này thì sẽ bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 165 Luật Doanh nghiệp.

    (2) Điểm a, Khoản 2, Điều 47, Thông tư 01/2013/TT-BKHĐT ngày 21/01/2013 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư quy định: Trường hợp doanh nghiệp chỉ cập nhật, bổ sung những thông tin về số điện thoại, số fax, email, website, địa chỉ của doanh nghiệp do thay đổi về địa giới hành chính, thông tin về chứng minh nhân dân, địa chỉ của cá nhân trong Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp thì doanh nghiệp gửi Thông báo theo mẫu quy định tại Phụ lục II-5 ban hành kèm theo Thông tư này đến Phòng Đăng ký kinh doanh cấp tỉnh nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính. Phòng Đăng ký kinh doanh nhận thông báo và cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho doanh nghiệp. Trong trường hợp này, doanh nghiệp không phải trả phí.

    (3) Điểm b, Khoản 2, Điều 47, Thông tư 01/2013/TT-BKHĐT ngày 21/01/2013 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư quy định: Trường hợp doanh nghiệp chỉ cập nhật, bổ sung các thông tin trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp mà không làm thay đổi nội dung của Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp thì doanh nghiệp gửi Thông báo theo mẫu quy định tại Phụ lục II-5 ban hành kèm theo Thông tư này đến Phòng đăng ký kinh doanh cấp tỉnh nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính. Phòng Đăng ký kinh doanh bổ sung thông tin vào hồ sơ của doanh nghiệp và cập nhật thông tin vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. Trong trường hợp này, doanh nghiệp không phải trả phí.

    (4) Điều 23, Thông tư 01/2013/TT-BKHĐT ngày 21/01/2013 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư quy định: Trường hợp doanh nghiệp thay đổi nội dung đăng ký thuế mà không thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh thì doanh nghiệp thông báo thay đổi nội dung đăng ký thuế theo mẫu quy định tại Phụ lục II-6 ban hành kèm theo Thông tư này.

    (5) Đề nghị Quý Doanh nghiệp khi thực hiện đính hoặc bổ sung thông tin về đăng ký doanh nghiệp mang theo thông báo “V/v rà soát, cập nhật thông tin về đăng ký doanh nghiệp” trên website https://hieudinh.dangkykinhdoanh.gov.vn/ và bản sao Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc bản sao Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh,đăng ký thuế.

    (6) Quý Doanh nghiệp có thể truy cập theo địa chỉ https://hieudinh.dangkykinhdoanh.gov.vn/ hoặc https://dangkykinhdoanh.gov.vn/ để biết thêm thông tin chi tiết và tải các mẫu thông báo:

    1. Thông báo cập nhật thông tin về đăng ký doanh nghiệp;
    2. Phụ lục II-5;
    3. Phụ lục II-6.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chi Nhánh Văn Phòng Luật Sư Phạm Khắc Phương
  • Thắc Mắc Về Vi Phạm Chế Độ Hôn Nhân Gia Đình
  • Một Số Hành Vi Vi Phạm Pháp Luật Hôn Nhân Và Gia Đình
  • Hoãn Phiên Xử Vụ Chống Người Thi Hành Công Vụ Vì Bị Cáo… Nhập Viện
  • Luật Sư Bỏ Về, Bị Cáo Bật Khóc
  • Luật Sư Phạm Công Hùng: Luôn Đặt Nhiệm Vụ “phụng Sự Công Lý” Lên Hàng Đầu

    --- Bài mới hơn ---

  • Ca Sĩ Lệ Quyên Cho Con Tè Vào Túi Nôn Không Phải Là Vi Phạm Hành Chính
  • Sau Tin Đồn “cặp Kè” Trai Trẻ, Ca Sĩ Lệ Quyên Chính Thức Ly Hôn
  • Liên Đoàn Luật Sư Việt Nam Kiến Nghị Yêu Cầu Của Luật Sư Được Sao Chụp Hồ Sơ Vụ Án ‘giết Người; Chống Người Thi Hành Công Vụ’ Ở Đồng Tâm
  • Sử Dụng 2 Hộ Chiếu, Có Dấu Hiệu Khai Báo Thiếu Trung Thực: Bệnh Nhân Thứ 17 Nhiễm Covid
  • Bắt Tạm Giam Nguyên Tổng Giám Đốc Vn Pharma ‘hơi Muộn’
  • Phóng viên: Tại sao ông lại chọn nghề Luật sư (LS) sau khi nghỉ hưu. Điều này có khiến ông cảm thấy lấn cấn khi trước đây mình đã từng là một thẩm phán không, thưa ông?

    LS Phạm Công Hùng: Tôi không thấy lấn cấn gì hết, vì thực tế trong tố tụng, chúng ta biết Luật sư, Kiểm sát viên và HĐXX đều có chức năng khác nhau. HĐXX thì nhân danh nhà nước, trực tiếp xét xử tại các phiên tòa, ra bản án hoặc các quyết định đối với các bản án. Kiểm sát viên thì giữ quyền công tố, còn LS thì thực hiện chức năng “gỡ tội”, phản biện để làm sáng tỏ sự thật khách quan trong các phiên tòa.

    Nói thì rạch ròi như vậy, nhưng tựu chung lại, dù là HĐXX, kiểm sát viên hay LS đều có chung một mục đích là “phụng sự công lý”.

    Phóng viên: Theo ông, khi làm LS, ông có khó chịu khi luôn phải kính thưa HĐXX, trong khi trước đó, bản thân lại ở vị trí HĐXX?

    LS Phạm Công Hùng: Như tôi đã nói, đích của bất kể thành phần nào trong tố tụng cũng là “phụng sự công lý”. Vì thế, việc tôi được tham gia HĐXX hay với tư cách LS không phải vấn đề.

    Khi tham gia các phiên tòa với tư cách LS, ngồi ở HĐXX có khi là những thẩm phán ít tuổi hơn tôi, hay là các học trò của tôi, tôi đều “kính thưa HĐXX…” một cách đúng quy định và đúng lòng mình, vì khi đó, HĐXX là nhân danh nhà nước để xét xử, chứ không phải nhân danh cá nhân họ. Tôi “thưa HĐXX…” là theo quy định và với một chủ thể được pháp luật trao quyền nhân danh nhà nước.

    Ngay cả tôi khi còn là thẩm phán, ngồi ở HĐXX, lắng nghe các LS và kiểm sát viên, bị cáo “kính thưa HĐXX…” thì tôi cũng ý thức rằng: họ đang “kính thưa…” một chủ thể được nhà nước trao quyền chứ không phải “kính thưa” cá nhân tôi với tư cách là thẩm phán chủ tọa.

    Phóng viên: Thời gia hành nghề mới chỉ vỏn vẹn được 5 năm, ông có nghĩ mình là một “LS trẻ” không?

    LS Phạm Công Hùng: Tôi quan niệm rằng, chừng nào còn có thể cống hiến, phục vụ lợi ích chung bằng khả năng của mình thì tôi còn cố gắng.

    Sự thật là quyết định làm LS của tôi cũng nhẹ nhàng, không có gì khó khăn hay phải suy nghĩ nhiều. Đơn giản bởi vì trong quá trình làm thẩm phán, tôi nhận thấy chỉ khi nào người dân tiếp cận được công lý thì khi đó xã hội mới an toàn, kinh tế mới phát triển bền vững.

    Giúp người dân hoặc những người không may vướng vào “lao lý” có thể là một sứ mạng, một “cái nghiệp” đã đeo đuổi tôi từ lâu.

    Phóng viên: Thật ra, nghĩ tới luật sư, công chúng hay nghĩ tới việc tranh tụng tại các phiên tòa. Ông nghĩ sao?

    LS Phạm Công Hùng: Thì đó là hình ảnh tiêu biểu của nghề luật sư. Còn thực tế, với các chính sách đã có của Đảng, Nhà nước về tư pháp và chế định bổ trợ tư pháp, tôi nghĩ nhiều lĩnh vực LS đã có đóng góp đáng kể.

    Mỗi vụ án, mỗi tranh chấp… nếu vai trò của LS là thúc đẩy công lý, thậm chí là hòa giải, được thực hiện thành công, thì khi đó, đóng góp của LS vào trật tự, an toàn xã hội, thúc đẩy môi trường kinh doanh bình đẳng, công bằng… còn lớn hơn những con số chúng ta đã được nghe qua các báo cáo.

    Từ thẩm phán TAND Tối cao trở thành LS ở một thành phố sôi động nhất nước, ông thấy mình có chịu nhiều sức ép không?

    LS Phạm Công Hùng: Bạn biết đấy, tại TP HCM có tới gần 1.500 tổ chức hành nghề LS với nhiều loại hình. Hơn 5.654 LS hoạt động trên các lĩnh vực. Tôi ý thức rằng: khi hàng nghìn LS tại thành phố này cung cấp được dịch vụ pháp lý tốt, tin cậy… thì chính là góp phần quan trọng vào việc bảo vệ công lý, bảo vệ quyền tự do, dân chủ của cá nhân, cơ quan, tổ chức… và góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN.

    Tôi nghĩ mình cần phải góp phần vào công cuộc ấy, nên sức ép cũng không hẳn là vấn đề. Nếu có một sức ép nào đó, thì chính là đòi hỏi về việc một LS như tôi phải có đóng góp đáng kể hơn đối với các đồng nghiệp hiện nay, đối với Đoàn LS TP. HCM và cách chung đối với nhiệm vụ “phụng sự công lý” mà tôi đã đề cập ngay từ đầu.

    Phóng viên: Ông trăn trở điều gì về nghề, về cộng sự hay về các tổ chức xã hội nghề nghiệp như Đoàn LS TP HCM, thưa ông?

    LS Phạm Công Hùng: Có một từ thời thượng mà chúng ta được nghe nhiều trong những năm qua, đó là “khởi nghiệp”. Tôi nghĩ “khởi nghiệp” đối với nghề LS cũng đang gặp nhiều thách thức, nhất là đối với các LS trẻ, trong khi họ chính là đội ngũ bổ sung cho lực lượng LS theo nguyên lý “tre già măng mọc”.

    Tôi trăn trở thì nhiều, nhưng điều làm tôi trăn trở nhất khi nhìn thấy số lượng các LS bị xóa tên vì nợ phí LS cứ tăng dần lên theo mỗi năm. Năm 2022, Đoàn LS TP HCM có 56 người bị xóa tên, đến năm 2022 thì lại có thêm 320 LS nữa bị xóa tên cũng vì lý do nợ phí luật sư.

    Đương nhiên, có thể có nhiều lý do khiến một LS nợ phí, nhưng với các LS trẻ, tôi tin phần lớn là do bước đường “khởi nghiệp” còn khó khăn.

    Phóng viên: Vậy phải chăng đây là một thực tế mà Đoàn LS TP HCM cần phải nhìn nhận thấu đáo hơn để có giải pháp?

    LS Phạm Công Hùng: Tôi nghĩ cần phải có một chính sách hỗ trợ cho các LS trẻ khởi nghiệp theo hướng: giao cho Ban chủ nhiệm Đoàn LS Tp. Hồ Chí Minh thành lập quỹ hỗ trợ khởi nghiệp cho các LS trẻ bằng cách vận động sự đóng góp của các tổ chức hành nghề LS và các cá nhân LS có điều kiện.

    Theo đó, trước mắt hỗ trợ cho các LS trẻ có hoàn cảnh khó khăn khoản phí thành viên, để họ có điều kiện tiếp tục ở lại đội ngũ LS trong giai đoạn khởi nghiệp, giúp họ phấn đấu, tu nghiệp chuyên môn, trở thành LS thành đạt trong tương lai.

    Nếu làm được như vậy, tôi tin Đoàn LS TP HCM sẽ tiếp tục duy trì là một tổ chức xã hội nghề nghiệp mạnh, có uy tín và phát triển bền vững trong cả nước.

    .Xin cảm ơn Luật sư!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Công Ty Luật Tnhh Mtv Công Hùng: Công Ty Luật Của Nhân Dân
  • Luật Sư Phạm Thanh Bình Tư Vấn Trực Tiếp Trên Sóng Vov1
  • Luật Sư Phạm Thanh Bình: Việc Tháo Còng Tay Cho Ông Đinh La Thăng Là Cần Thiết.
  • Ls Phạm Hồng Hải: Luật Sư Của Những Thân Phận Đặc Biệt
  • Công Ty Cổ Phần Kosy Và Văn Phòng Luật Sư Phạm Hồng Hải Ký Hợp Đồng Tư Vấn Pháp Lý
  • Văn Phòng Luật Sư Công Chứng

    --- Bài mới hơn ---

  • 1986 Nghị Quyết Số 04
  • Hội Nghị Tổng Kết Thực Hiện Nghị Quyết 04
  • Ninh Phước: Tổng Kết 10 Năm Thực Hiện Nghị Quyết 08
  • Lực Lượng Công An Nhân Dân Hưởng Ứng Ngày Pháp Luật Nước Chxhcn Việt Nam 2022
  • Sở Và Truyền Thông Hà Nội
  • NGHỊ QUYẾT

    CỦA HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO HƯỚNG DẪN ÁP DỤNG MỘT SỐ QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ

    Bắt đầu từ ngày 1-1-1986, Bộ luật hình sự được thi hành trong cả nước. Phần chung của Bộ luật hình sự rất quan trọng vì đó là những chính sách, quan điểm cơ bản về hình sự của Đảng và Nhà nước ta. Vì vậy, căn cứ vào Điều 24 Luật tổ chức Tòa án nhân dân, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao họp trong ba ngày 3, 4 và 5 tháng 1 năm 1986 với sự tham gia của đồng chí Trần Tê – Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đồng chí Phùng Văn Tửu – Thứ trưởng Bộ Tư pháp, hướng dẫn Tòa án các cấp quán triệt áp dụng thống nhất một số quy định sau đây trong phần chung của Bộ luật hình sự.

    I- HIỆU LỰC CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VỀ THỜI GIAN (ĐIỀU 7 BLHS)

    1) Đây là một trong những vấn đề rất quan trọng mà các Tòa án cần nắm vững để áp dụng nghiêm chỉnh Bộ luật hình sự vì khoản 1 của Điều 7 đã quy định nguyên tắc chung trong áp dụng luật hình sự là: “Điều luật áp dụng đối với một hình sự có hiệu lực thi hành từ ngày 1-1-1986 cho nên mọi hành vi phạm tội được thực hiện từ ngày 1-1-1986 trở về sau đều phải xử lý theo những quy định của Bộ luật hình sự.

    Những hành vi nào mà Bộ luật hình sự không quy định là tội phạm thì không được đưa ra truy tố, xét xử. Việc trừng trị một số tội phạm trước đây tuy không có luật nào quy định nhưng đã truy tố, xét xử theo đường lối chính sách hoặc áp dụng nguyên tắc tương tự, nay không được áp dụng nữa.

    2) Từ nguyên tắc chung về áp dụng pháp luật hình sự đã nói trên, khoản 2 Điều 7 Bộ luật hình sự đã quy định: “Điều luật quy định một tội phạm mới hoặc một hình phạt nặng hơn không áp dụng đối với hành vi phạm tội trước khi điều luật đó được ban hành, trừ trường hợp luật quy định khác”. Vì Bộ luật hình sự được áp dụng đối với tất cả những hành vi phạm tội được thực hiện từ ngày 1-1-1986 trở về sau, cho nên khoản 2 của Điều 7 nói trên được áp dụng đối với “những hành vi phạm tội xảy ra trước ngày 1-1-1986” như sau:

    + Đối với những tội mà Bộ luật hình sự mới quy định thì cần thấy rằng trước đây, vì ta mới chỉ có một số luật và pháp lệnh quy định việc trừng trị một số tội, cho nên ngoài việc áp dụng những luật và pháp lệnh đó, căn cứ vào ý thức pháp chế xã hội chủ nghĩa, các cơ quan Công an, Viện kiểm sát và Tòa án còn truy cứu trách nhiệm hình sự cả đối với một số hành vi phạm tội theo đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước như: tội tổ chức, cưỡng ép người trốn đi nước ngoài không có mục đích phản cách mạng; tội cưỡng dâm; tội giao cấu với người chưa thành niên dưới 16 tuổi; tội vi phạm chế độ một vợ một chồng; tội dụ dỗ hoặc chức chấp người chưa thành niên phạm pháp; tội bắt trộm, mua bán hoặc đánh tráo trẻ em v.v… Việc xử lý về hình sự những hành vi nói trên mặc dầu chưa có pháp luật quy định trong một điều cụ thể, nhưng đã được Nhà nước và xã hội thừa nhận, cho nên không coi là tội mới. Những hành vi nói trên, nếu xảy ra trước ngày 1-1-1986 mà nay mới đưa ra truy tố, xét xử, thì áp dụng những điều luật tương ứng được quy định trong Bộ luật hình sự. Vì vậy, chỉ coi là tội mới những hành vi mà trước đây Nhà nước ta chưa coi là tội phạm, chưa đưa ra xét xử bao giờ mà nay Bộ luật hình sự mới quy định là tội phạm. Thí dụ: tội vi phạm các quy định về hàng không (Điều 90); tội vi phạm các quy định về hàng hải (Điều 91); tội báo cáo sai trong quản lý kinh tế (Điều 176); tội lưu hành sản phẩm kém phẩm chất (Điều 177) v.v… Đối với những hành vi nói trên, nếu xảy ra trước ngày 1-1-1986 thì không được đưa ra truy tố, xét xử.

    + Đối với những tội phạm mà Bộ luật hình sự quy định “một hình phạt nặng hơn” thì không áp dụng quy định mới về hình phạt của Bộ luật hình sự mà vẫn áp dụng luật cũ đối với những tội được thực hiện trước ngày 1-1-1986.

    Căn cứ để so sánh một hình phạt mới nặng hơn một hình phạt cũ là lấy mức hình phạt tối đa của khung hình phạt cao nhất của cùng một tội trong Bộ luật hình sự và trong luật cũ. Nếu mức tối đa của hình phạt mới quy định cao hơn mức tối đa của cùng tội trong luật cũ thì đó là hình phạt mới nặng hơn; ngược lại là nhẹ hơn. Thí dụ: Điều 82 Bộ luật hình sự quy định hình phạt cao nhất đối với tội tuyên truyền chống chế độ xã hội chủ nghĩa là 20 năm tù, nhưng Điều 15 Pháp lệnh ngày 30-10-1967 quy định hình phạt cao nhất đối với tội này chỉ là 12 năm tù. Do đó, nếu tội này xảy ra trước ngày 1-1-1986 thì vẫn áp dụng Điều 15 Pháp lệnh ngày 30-10-1967.

    3) Khoản 3 của Điều 7 còn quy định: “Điều luật xóa bỏ một tội phạm hoặc quy định một hình phạt nhẹ hơn được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó được ban hành”.

    Do đó, những hành vi trước đây bị coi là tội phạm, nay Bộ luật hình sự không quy định là tội phạm, là “những tội phạm được Bộ luật hình sự xóa bỏ”. Thí dụ: tội thông gian gây hậu quả nghiêm trọng; tội dâm ô; tội phá thai trái phép v.v… Nếu những hành vi này đã thực hiện trước ngày 1-1-1986 thì không được đưa ra truy tố, xét xử nữa.

    Những điều của Bộ luật hình sự quy định tội phạm cũ có “hình phạt nhẹ hơn” hình phạt trong luật cũ thì được áp dụng đối với cả những tội thực hiện trước ngày 1-1-1986. Thí dụ: Pháp lệnh ngày 30-6-1982 quy định hình phạt nặng nhất đối với tội đầu cơ có thể đến tử hình, nhưng Điều 165 Bộ luật hình sự quy định hình phạt cao nhất là chung thân, do đó, Điều 165 được áp dụng đối với tội đầu cơ được thực hiện trước ngày 1-1-1986 mà nay mới đưa ra xét xử.

    Nếu một tội có nội dung và hình phạt quy định trong luật mới và luật cũ giống nhau thì định tội và áp dụng hình phạt theo luật mới để xét xử.

    Đối với những vụ án sơ thẩm trước ngày 1-1-1986 mà sau ngày này mới xử phúc thẩm phải căn cứ vào khoản 2 hoặc khoản 3 của Điều 7 Bộ luật hình sự và điều luật trong luật cũ hoặc luật mới quy định tội phạm đó để xét xử.

    Đối với những bản án đã có hiệu lực pháp lâụt trước ngày 1-1-1986, nói chung, không kháng nghị và xét xử lại theo trình tự giám đốc thẩm để sửa lại nặng hơn hoặc nhẹ hơn theo Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, nếu đối chiếu với luật cũ mà thấy bản án đã có hiệu lực pháp luật có sai lầm nghiêm trọng thì vẫn phải giám đốc thẩm và khi giám đốc thẩm thì xử theo tinh thần của Bộ luật hình sự về những trường hợp có thể xử nhẹ hơn.

    Căn cứ vào điều 7 Bộ luật hình sự, Tòa án nhân dân tối cao đã liệt kê những trường hợp còn được áp dụng luật cũ hoặc áp dụng ngay Bộ luật hình sự đối với những hành vi xảy ra trước ngày 1-1-1986. Bản phụ lục của nghị quyết này cần được áp dụng trong công tác xét xử của Tòa án nhân dân các cấp.

    II- PHÒNG VỆ CHÍNH ĐÁNG (ĐIỀU 12 BLHS)

    Điều 13 của Bộ luật hình sự đã quy định:

    1) Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác, mà chống trả lại một cách tương xứng người có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên. Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm.

    2) Nếu hành vi chống trả rõ ràng là quá đáng, tức là vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, thì người có hành vi đó phải chịu trách nhiệm hình sự.

    Việc xem xét những trường hợp phòng vệ chính đáng thường khó khăn, cho nên, Tòa án nhân dân tối cao đã tổng kết thực tiễn xét xử và có Chỉ thị số 07 ngày 22-12-1983 về việc xét xử các hành vi xâm phạm tính mạng hoặc sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc trong khi thi hành công vụ. Nội dung Chỉ thị nói trên phù hợp với Điều 13 của Bộ luật hình sự. Hành vi xâm phạm tính mạng hoặc sức khỏe của người khác được coi là phòng vệ chính đáng khi có đủ các điều kiện sau đây:

    a) Hành vi xâm hại những lợi ích cần phải bảo vệ là hành vi phạm tội hoặc rõ ràng là có tính chất nguy hiểm cho xã hội.

    b) Hành vi nguy hiểm cho xã hội đang gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại thực sự và ngay tức khắc cho những lợi ích cần phải bảo vệ.

    c) Phòng vệ chính đáng không chỉ gạt bỏ sự đe dọa, đẩy lùi sự tấn công, mà còn có thể tích cực chống lại sự xâm hại, gây thiệt hại cho chính người xâm hại.

    d) Hành vi phòng vệ phải tương xứng với hành vi xâm hại, tức là không có sự chênh lệch quá đáng giữa hành vi phòng vệ với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi xâm hại.

    Tương xứng không có nghĩa là thiệt hại do người phòng vệ gây ra cho người xâm hại phải ngang bằng hoặc nhỏ hơn thiệt hại do người xâm hại đe dọa gây ra hoặc đã gây ra cho người phòng vệ.

    Sau khi đã xem xét một cách đầy đủ, khách quan tất cả các mặt nói trên mà nhận thấy rõ ràng là trong hoàn cảnh sự việc xảy ra, người phòng vệ đã sử dụng những phương tiện, phương pháp rõ ràng quá đáng và gây thiệt hại rõ ràng quá mức (như: gây thương tích nặng, làm chết người) đối với người có hành vi xâm hại thì coi hành vi chống trả là không tương xứng và là vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng. Ngược lại, nếu hành vi chống trả là tương xứng thì đó là phòng vệ chính đáng.

    III- CHUẨN BỊ PHẠM TỘI VÀ PHẠM TỘI CHƯA ĐẠT (ĐIỀU 15 BLHS)

    Xác định hai giai đoạn này của tội phạm có ý nghĩa rất quan trọng trong việc quy trách nhiệm hình sự và quyết định hình phạt.

    Chỉ đối với những tội phạm thực hiện do cố ý thì mới có giai đoạn chuẩn bị phạm tội, vì khi cố ý phạm tội thì người phạm tội mới thường tiến hành một số hoạt động như: bàn bạc với người khác, tìm kiếm, sửa soạn phương tiện phạm tội hoặc tạo những điều kiện cần thiết khác cho việc thực hiện tội phạm. Khoản 1 Điều 15 Bộ luật hình sự quy định: Chỉ chuẩn bị phạm một tội nghiêm trọng thì người chuẩn bị phạm tội mới phải chịu trách nhiệm hình sự, tức là chỉ đối với những tội phạm gây nguy hiểm lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên 5 năm tù, thì người chuẩn bị phạm tội mới phải chịu trách nhiệm hình sự.

    Khi hành vi của người phạm tội đã chuyển sang giai đoạn thực hiện thì hành vi đó đã thực sự nguy hiểm cho xã hội. Vì vậy, khoản 2 điều 14 Bộ luật hình sự quy định trừng trị cả trường hợp phạm tội chưa đạt, không phân biệt tội nghiêm trọng hay ít nghiêm trọng. Phạm tội chưa đạt là những hành vi đã tiến hành tội phạm, nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội.

    Trong thực tế đấu tranh chống tội phạm, phạm tội chưa đạt có hai dạng: phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành vì không có điều kiện thực hiện đầy đủ hành vi phạm tội, thí dụ: A đã trèo tường vào nhà B để trộm tài sản, nhưng thấy động nên phải rút lui; và phạm tội chưa đạt đã hoàn thành vì đã thực hiện đến cùng tội phạm nhưng không đạt được mục đích, thí dụ: kẻ giết người đã bắn vào người bị hại, nhưng bắn không trúng, hoặc y đã cho người khác uống thuốc độc, nhưng do liều lượng quá nhẹ nên người bị hại không chết.

    Thông thường thì trường hợp thứ hai nguy hiểm hơn trường hợp thứ nhất, cho nên phải xử phạt nặng hơn.

    Bản án xử những trường hợp phạm tội chưa đạt phải định tội danh là phạm tội chưa đạt về tội gì (thí dụ: giết người chưa đạt) và phải viện dẫn điều luật quy định về tội đó (như: Điều 101 về tội giết người…) và khoản 2 Điều 15 về phạm tội chưa đạt.

    IV- TỰ Ý NỬA CHỪNG CHẤM DỨT VIỆC PHẠM TỘI (ĐIỀU 15 Bộ luật hình sự)

    Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng tuy không có gì ngăn cản. Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm. Thí dụ: B đã chuẩn bị dao găm, bao tải để giết người và cướp của ở nhà ông A, B đến nhà ông A nhưng B nghĩ lại và thấy rằng ông A đã là người tốt đối với mình nên B quay về, không giết người, cướp của ở nhà ông A nữa.

    Điều kiện cơ bản để được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là người phạm tội tự mình không thực hiện tội phạm nữa mặc dù không có gì ngăn cản. Do đó, nếu do điều kiện khách quan mà người phạm tội không thực hiện tội phạm nữa thì không được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội. Thí dụ: trong trường hợp trên, nếu B quay về vì không cậy được cửa, vì có tiếng động trong nhà làm cho y sợ hãi, hoặc vì nhà ông A vẫn còn thức v.v… thì việc B quay về không được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội và B vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 15 Bộ luật hình sự về phạm tội chưa đạt.

    Trong thực tế, việc tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội có thể do nhiều nguyên nhân như: hối hận, lo sợ, sợ bị trừng trị, không muốn thực hiện tội phạm đối với người quen biết v.v… Dó đó, chúng ta không nên đòi hỏi người có hành vi nguy hiểm phải tỉnh ngộ, hối hận mà chỉ cần họ đã thực hiện sự tự nguyện và dứt khoát không thực hiện tội phạm nữa thì được coi là đã tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội.

    Trong trường hợp người phạm tội là người tổ chức tội phạm thì mặc dầu họ đã tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội nhưng vẫn để mặc cho đồng bọn thực hiện tội phạm, thì người đó không được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội. Thí dụ: người đã đề xuất ra việc trộm cắp, đã vạch ra kế họach đi ăn trộm, đã vẽ sơ đồ cho đồng bọn, mặc dầu người đó đã tự ý không tham gia trộm nữa mà cứ để mặc đồng bọn thực hiện trộm cắp. Trong trường hợp này, người tự ý không tham gia trộm nữa không được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội.

    Trong trường hợp tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội, những hành vi thực tế đã thực hiện có đủ yếu tố cấu thành một tội phạm khác thì người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi đã thực hiện. Thí dụ: một người đã mua lựu đạn để giết người, mặc dù họ tự ý chấm dứt việc giết người, vẫn phải chịu trách nhiệm về hành vi mua bán trái phép vũ khí quân dụng (Điều 95 Bộ luật hình sự). Trường hợp định tham ô nhưng mới giả mạo được giấy tờ mà tự ý chấm dứt việc phạm tội tham ô, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giả mạo trong công tác (Điều 224 Bộ luật hình sự)… Cần lưu ý là đối với trường hợp phạm tội chưa đạt đã hoàn thành thì không có tự ý chấm dứt nửa chừng việc phạm tội. Thí dụ: A định giết B, A đã chĩa súng vào B và bóp cò súng, nhưng đạn không nổ, sau đó, y tự ý thôi không thực hiện hành vi nào để giết B nữa. Trong trường hợp này thì A vẫn phạm tội giết người chưa đạt chứ không được coi là tự ý chấm dứt nửa chừng việc phạm tội.

    V- CẢI TẠO KHÔNG GIAM GIỮ (ĐIỀU 24 BLHS) VÀ CẢI TẠO Ở ĐƠN VỊ KỶ LUẬT CỦA QUÂN ĐỘI (ĐIỀU 70 BLHS) (*)

    1) Cải tạo không giam giữ là hình phạt được áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng (Điều 24 Bộ luật hình sự).

    Bộ luật hình sự đã quy định rõ những tội phạm nào được áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ. Đồng thời theo khoản 3 Điều 38 của Bộ luật hình sự thì cũng có thể áp dụng hình phạt này đối với những trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định phạt giam nhưng có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên được chuyển sang loại hình phạt nhẹ hơn. Hình phạt cải tạo không giam giữ không áp dụng đối với những tội phạm nghiêm trọng, kể cả trường hợp có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

    2) Hình phạt cải tạo không giam giữ nhẹ hơn hình phạt tù giam, do đó, chỉ áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ trong những trường hợp sau đây:

    – Có nhiều tình tiết giảm nhẹ hình phạt.

    – Bị cáo không phải là người tái phạm về tội cố ý. Nếu bị cáo là người tái phạm về tội cố ý thì không áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ.

    – Bị cáo phải là người có căn cước, lý lịch rõ ràng, có nơi thường trú (vì trong hình phạt cải tạo không giam giữ, Điều 24 Bộ luật hình sự quy định là: “Tòa án giao người bị phạt cải tạo không giam giữ cho cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức xã hội nơi người đó làm việc hoặc thường trú để giám sát, giáo dục”). Do đó, nếu bị cáo không có căn cước, lý lịch rõ ràng, không có nơi thường trú thì không áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ.

    3) Cải tạo không giam giữ là hình phạt chính, cho nên Tòa án còn có thể quyết định thêm hình phạt bổ sung mà luật có quy định đối với tội đó. Thí dụ: đối với tội sử dụng trái phép tài sản xã hội chủ nghĩa quy định trong khoản 1 Điều 137 thì Tòa án có thể quyết định thêm hình phạt bổ sung là cấm đảm nhiệm một số chức vụ quản lý tài sản xã hội chủ nghĩa trong thời hạn từ 2 năm đến 5 năm.

    4) Khi phạt cải tạo không giam giữ, thì trong bản án, Tòa án phải quyết định là giao người bị án cho cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội nào giám sát, giáo dục và mức độ khấu trừ phần thu nhập của họ để sung quỹ Nhà nước (từ 5% đến 20%). Tuy nhiên, việc khấu trừ thu nhập không phải là việc bắt buộc nên phải xem xét điều kiện về kinh tế của bị cáo để xem có nên khấu trừ thu nhập của họ không. Trong trường hợp người bị phạt cải tạo không giam giữ là người chưa thành niên thì Tòa án không được khấu trừ phần thu nhập của họ.

    5) Nếu người bị kết án đã bị tạm giam thì thời hạn tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, cứ một ngày tạm giam bằng ba ngày cải tạo không giam giữ.

    6) Hình phạt cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội (Điều 24 và Điều 70 Bộ luật hình sự) thực chất cũng là hình phạt cải tạo không giam giữ nhưng được áp dụng đối với quân nhân phạm tội.

    Đối với người phạm tội là quân nhân tại ngũ, trong trường hợp điều luật quy định hình phạt cải tạo không giam giữ, thì áp dụng hình phạt cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội quy định ở Điều 70 Bộ luật hình sự. Người bị kết án cũng phải thực hiện một số nghĩa vụ về cải tạo không giam giữ và có thể bị khấu trừ một phần thu nhập từ 5% đến 20% để sung quỹ Nhà nước. Đối với người thường dân phạm tội gây thiệt hại cho quân đội, bị Tòa án quân sự xét xử thì áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ quy định ở điều 24.

    VI- TỔNG HỢP HÌNH PHẠT (các Điều 41, 42, và 43 BLHS)

    Cần chú ý Bộ luật hình sự đã quy định cách tổng hợp hình phạt khác nhau khi quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội (Điều 41) và tổng hợp hình phạt của nhiều bản án (Điều 42).

    A- Quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội (Điều 41).

    1. Khi xét xử cùng một lần người phạm nhiều tội, cần chú ý là Tòa án phải quyết định hình phạt đối với từng tội, sau đó quyết định hình phạt chung cho các tội.

    Khi định tội danh và quyết định hình phạt, phải ghi rõ tên tội, điều luật, khoản nào, điểm nào của điều luật đã được áp dụng vì điều này sẽ có ảnh hưởng quan trọng về sau đối với việc xác định tái phạm, tái phạm nguy hiểm, thời hiệu thi hành án, thủ tục xóa án v.v…

    2. Việc quyết định hình phạt chung trong trường hợp phạm nhiều tội (*)có thể thực hiện bằng hai cách: thu hút hình phạt nhẹ vào hình phạt nặng nhất; hoặc cộng toàn bộ hình phạt đã tuyên về từng tội, hay là cộng vào hình phạt nặng nhất một phần các hình phạt đã tuyên. Hai cách đó đều có thể thực hiện nhưng cần chú ý là Bộ luật hình sự đã quy định rõ mức cao nhất của hình phạt chung không được vượt quá mức cao nhất của “khung hình phạt” mà luật quy định đối với tội nặng nhất đã phạm và trong phạm vi loại hình phạt đã tuyên. Thí dụ: Bị cáo phạm 3 tội: cướp tài sản xã hội chủ nghĩa, bị phạt 10 năm tù theo khoản 1 Điều 129; trộm tài sản riêng của công dân bị phạt 6 năm tù theo khoản 2 Điều 155; và hiếp dâm, bị phạt 3 năm tù theo khoản 1 Điều 112. Nếu cộng toàn bộ hình phạt thì bị cáo bị phạt 19 năm tù. Tuy nhiên, trong trường hợp này, hình phạt cao nhất theo khoản 1 Điều 129 về tội cướp tài sản xã hội chủ nghĩa là tội nặng nhất là 15 năm tù, nên Tòa án chỉ có thể quyết định phạt hình chung cao nhất là 15 năm tù.

    B- Tổng hợp hình phạt của nhiều bản án (Điều 42 BLHS)

    1. Trong trường hợp một người đang phải chấp hành một bản án mà lại xét xử về một tội đã phạm trước khi có bản án này (*)(như tội phạm sau lại được xử trước, còn tội phạm trước lại được xử sau) thì Tòa án quyết định hình phạt đối với tội đang bị xét xử, sau đó quyết định hình phạt chung, và hình phạt chung không được vượt mức cao nhất của khung hình phạt mà luật quy định đối với tội nặng nhất đã phạm và trong phạm vi loại hình phạt đã tuyên như đã nói trong điểm 2 nói trên.

    Thời gian đã chấp hành hình phạt của bản án trước được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt chung.

    2. Trong trường hợp một người đang chấp hành một bản án mà lại phạm tội mới, Tòa án quyết định hình phạt đối với tội mới, sau đó “cộng” với phần hình phạt chưa chấp hành của bản án trước rồi quyết định hình phạt chung. Hình phạt chung không được vượt quá mức cao nhất mà luật quy định cho “loại hình phạt” đã tuyên chứ không bị hạn chế ở mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội nặng nhất. Thí dụ: một kẻ phạm tội đã bị phạt 10 năm tù về tội cướp tài sản xã hội chủ nghĩa, theo khoản 1 Điều 129 nhưng mới chấp hành hình phạt được 3 năm thì y phạm tội mới, do đó, hình phạt chưa chấp hành còn lại là 7 năm tù. Y phạm 2 tội mới là: tội trộm tài sản của công dân, bị phạt theo khoản 2 Điều 155 là 7 năm tù và tội hiếp dâm, bị phạt theo khoản 2 Điều 112 là 6 năm tù. Như vậy là trong trường hợp này, hình phạt chung cao nhất đối với bị cáo không bị hạn chế ở mức cao nhất của khung hình phạt luật định đối với tội nặng nhất (ở đây là khoản 1 Điều 129 về tội cướp, mức hình phạt cao nhất là 15 năm tù) mà có thể là 7 + 7 + 6 = 20 năm tù (vì đây là mức cao nhất của loại hình phạt tù giam có thời hạn).

    Khi quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội hoặc tổng hợp hình phạt của nhiều bản án, chỉ được tổng hợp hình phạt trong phạm vi loại hình phạt đã tuyên. Thí dụ: không được tổng hợp nhiều hình phạt tù có thời hạn thành tù chung thân.

    + Trong trường hợp hình phạt khác loại thì tổng hợp theo Điều 43 Bộ luật hình sự, cụ thể là:

    a) Đối với hình phạt chính, nếu hình phạt cao nhất đã tuyên là tử hình, tù chung thân hoặc tù 20 năm thì lấy hình phạt cao nhất là hình phạt chung.

    Nếu các hình phạt đã tuyên gồm: cải tạo không giam giữ hoặc cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội và tù có thời hạn thì chuyển hình phạt cải tạo không giam giữ hoặc cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội thành hình phạt tù để quyết định hình phạt chung. Cứ một ngày cải tạo không giam giữ hoặc cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội thành một ngày tù.

    Chú ý: khi tổng hợp hình phạt (án tù cũng như cải tạo không giam giữ) phải trừ thời gian người có án đã thực sự chấp hành, chỉ tính thời gian còn lại.

    b) Đối với hình phạt bổ sung, Tòa án quyết định một hình phạt chung trong giới hạn luật quy định về mỗi loại hình phạt ấy. Thí dụ: đối với cả hai tội đều có hình phạt là quản chế thì Tòa án không phải quyết định hình phạt quản chế riêng cho mỗi tội mà tuyên một thời hạn quản chế chung cho cả hai tội, tức là 1 đến 5 năm quản chế.

    c) Phạt tiền thì cộng các khoản phạt tiền của các tội hoặc của các bản án.

    3. Đối với người chưa thành niên phạm tội, có tội phạm trước khi đủ 18 tuổi, có tội phạm sau khi đủ 18 tuổi thì tổng hợp hình phạt theo quy định của điều 64 và điều 65 Bộ luật hình sự.

    4. Án treo là án phạt tù nhưng được miễn chấp hành hình phạt tù nếu người bị kết án không phạm tội mới trong thời gian thử thách. Vì vậy, nếu họ phạm tội mới trong thời gian thử thách mà đáng phải phạt tù thì không được hưởng án treo một lần nữa.

    Tuy nhiên, có thể tổng hợp hai bản án treo nếu tội xảy ra sau lại được xử trước và được hưởng án treo, rồi sau đó mới phát hiện ra tội phạm trước và tội này cũng được hưởng án treo. Trong trường hợp này, sau khi quyết định hình phạt tù cho hưởng án treo và thời gian thử thách cho tội xử sau, Tòa án quyết định chung hình phạt tù cho hưởng án treo và thời gian thử thách cho cả hai bản án. Tổng số thời gian thử thách không được quá 5 năm.

    5. Chỉ tổng hợp hình phạt của bản án đang xử với hình phạt của bản án khác đã có hiệu lực pháp luật. Do đó, các cấp sơ thẩm, phúc thẩm cần chú ý những trường hợp sau đây:

    – Nếu bị cáo bị đưa ra xét xử trong hai vụ án khác nhau thì cấp sơ thẩm cần đợi hết hạn kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với vụ án trước rồi mới xử vụ án sau. Nếu bản án trước không bị kháng cáo, kháng nghị thì khi xử vụ án sau, Tòa án sơ thẩm quyết định hình phạt chung của 2 bản án.

    – Nếu bản án trước đã bị kháng cáo, kháng nghị thì khi xử vụ án sau cấp sơ thẩm chỉ quyết định hình phạt đối với tội được xử sau mà không quyết định hình phạt chung của 2 bản án. Việc quyết định hình phạt chung của 2 bản án sẽ do cấp phúc thẩm giải quyết bằng cách tổng hợp hình phạt của bản án trước với hình phạt của bản án sau (bị kháng cáo, kháng nghị hoặc không bị kháng cáo, kháng nghị).

    – Nếu bản án trước đã được phúc thẩm rồi mà cấp sơ thẩm mới xử vụ án sau thì cấp sơ thẩm quyết định ngay hình phạt chung của 2 bản án.

    6. Nếu Tòa án cấp huyện xét xử mà hình phạt chung cao hơn mức hình phạt do Tòa án đó có quyền quyết định thì Tòa án cấp huyện không được xét xử và vụ án phải do Tòa án cấp tỉnh xét xử (*)

    VII- ÁN TREO (ĐIỀU 44 BLHS) (**)

    1- Theo Điều 44 Bộ luật hình sự thì án treo là một biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện. Tức là căn cứ vào nhân thân của người bị kết án và những tình tiết giảm nhẹ, Tòa án sẽ miễn cho người bị kết án không phải chấp hành hình phạt tù nếu trong thời gian thử thách người đó không phạm tội mới. Vì vậy, khi quyết định hình phạt, Tòa án phải quyết định thời gian phạt tù đúng với tính chất và mức độ phạm tội của bị cáo rồi mới cho hưởng án treo chứ không được nâng cao thời hạn tù án treo vì cho đó là hình phạt nhẹ, và phải tuyên rành rọt là bị cáo bị phạt mấy năm tù nhưng cho hưởng án treo, chứ không được tuyên là mấy năm tù án treo.

    Án treo chỉ là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện cho nên không phải là một hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù. Vì vậy, sự giải thích trước đây của Tòa án nhân dân tối cao coi án treo là hình phạt nhẹ hơn (trong bản hướng dẫn về thủ tục xét xử về hình sự kèm theo Thông tư số 19/TATC ngày 02-10-1974 và trong Lời tổng kết hội nghị tổng kết công tác ngành Tòa án nhân dân năm 1976) không còn phù hợp với Bộ luật hình sự.

    2- Trong công tác xét xử, các Tòa án cũng cần phải phân biệt những trường hợp phạt cải tạo không giam giữ với những trường hợp phạt tù mà cho hưởng án treo, vì phạt tù mà cho hưởng án treo được áp dụng đối với những trường hợp phạm tội “nặng hơn” những trường hợp được xử phạt bằng cải tạo không giam giữ. Hậu quả pháp lý của hai loại hình phạt cũng khác nhau: người được hưởng án treo mà phạm tội mới trong thời gian thử thách và bị phạt tù thì phải chấp hành hình phạt của tội mới tổng hợp với hình phạt của tội cũ. Trái lại, người bị phạt cải tạo không giam giữ đã chấp hành xong hình phạt mà phạm tội mới thì chỉ phải chịu hình phạt về tội mới. Cải tạo không giam giữ chỉ được áp dụng đối với những tội ít nghiêm trọng, nhưng án treo được áp dụng cả đối với trường hợp phạm tội nghiêm trọng mà hình phạt không quá 5 năm tù.

    3- Những điều kiện được hưởng án treo đã được Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn trong Thông tư số 2308/NCPL ngày 1-12-1961 (tập hệ thống hóa luật lệ về hình sự, tập 1, trang 119) nhưng trong điểm a mục c của phần II có nói là người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt cũ nếu trong thời gian thử thách mà họ phạm tội mới “cùng tính chất với tội cũ, thì nay không phù hợp với Bộ luật hình sự vì Điều 44 chỉ quy định đơn giản là: nếu trong thời gian thử thách, người bị án treo phạm tội mới và bị xử phạt tù thì Tòa án quyết định buộc phải chấp hành hình phạt của bản án mới. Như vậy là tội phạm cũ và tội phạm mới không nhất thiết phải cùng tính chất.

    4- Thời gian thử thách là từ 1 đến 5 năm, tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị, hoặc bản án phúc thẩm cho hưởng án treo). Thời gian thử thách không được ít hơn mức án tù đã tuyên, mà ít nhất phải bằng hoặc nhiều hơn (thông thường phải dài hơn) mức án tù đã tuyên. Tuy nhiên, nếu người bị kết án đã bị tạm giam lâu trước khi bản án có hiệu lực pháp luật thì khi quyết định thời gian thử thách, Tòa án cần chú ý giảm cho họ thời gian thử thách. Thí dụ: người phạm tội đã bị tạm giam hai năm và sau đó, bị phạt 3 năm tù nhưng được hưởng án treo thì thời gian thử thách có thể chỉ là một năm. Trong trường hợp đặc biệt có thể miễn cho họ thời gian thử thách nếu Tòa án chỉ phạt tù dưới mức thời gian mà họ đã bị tạm giam (*)

    5- Về nguyên tắc, cấp phúc thẩm không được làm xấu tình trạng của bị cáo nếu không có kháng cáo hoặc kháng nghị của Viện kiểm sát hoặc của người bị hại yêu cầu tăng nặng hình phạt. Vì vậy, trong trường hợp bị cáo được cấp sơ thẩm cho hưởng án treo thì cần xác định những trường hợp làm xấu tình trạng của bị cáo và những trường hợp xử phạt có lợi cho họ như sau:

    – Làm xấu tình trạng của bị cáo là: tăng hình phạt tù đã cho hưởng án treo; tăng thời gian thử thách; chuyển án treo thành án tù, dù là thời hạn tù được giảm nhiều so với thời hạn tù đựơc hưởng án treo; chuyển án tù giam thành án treo nhưng với thời hạn tù cho hưởng án treo dài hơn thời hạn tù giam (thí dụ: đổi 3 năm tù giam thành 5 năm tù cho hưởng án treo).

    – Xử phạt có lợi cho bị cáo là: giảm hình phạt tù cho hưởng án treo; giảm thời gian thử thách.

    VIII- MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ (Khoản 2 Điều 48 BLHS)

    1- Theo Điều 48 Bộ luật hình sự thì người được miễn trách nhiệm hình sự là người đã phạm một tội quy định trong Bộ luật hình sự nhưng được miễn trách nhiệm hình sự. Miễn trách nhiệm hình sự khác với trường hợp không có trách nhiệm hình sự, tức là những trường hợp hành vi của bị cáo không có sai trái hoặc chỉ đáng xử lý về hành chính (thí dụ: xử lý về vi cảnh, xử lý về hành chính đối với việc đầu cơ mà giá trị hàng hóa phạm pháp từ 2.000 đồng tiền mới trở xuống v.v…). Theo Thông tư số 12-LĐ/TT ngày 28-5-1977 thì người được miễn trách nhiệm hình sự, nếu đã bị giam có thể không được trả lại đủ 100% tiền lương mà vẫn chỉ được hưởng 50% tiền lương và phụ cấp trong thời gian bị tạm giam. Trái lại, nếu họ được xác định là không có trách nhiệm hình sự thì được truy lĩnh 100% tiền lương và phụ cấp.

    Vì miễn trách nhiệm hình với không có trách nhiệm hình sự khác nhau như vậy cho nên mỗi trường hợp cần phải được xác định thận trọng, chính xác. Nếu không có đủ căn cứ để kết luận hành vi của bị cáo bị truy tố cấu thành một tội phạm cụ thể thì phải tuyên bố bị cáo không phạm tội, không được tuyên miễn trách nhiệm hình sự một các tùy tiện.

    2- Theo Điều 48 Bộ luật hình sự thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự trong những trường hợp sau đây:

    – Do sự chuyển biến của tình hình (chính trị, kinh tế, xã hội) nên tội phạm không còn nguy hiểm đáng kể cho xã hội nữa.

    – Trước khi tội phạm bị phát giác, người phạm tội đã tự thú (*), khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm.

    Người được miễn trách nhiệm hình sự thì đương nhiên không bị coi là người can án.

    3- Trong giai đoạn điều tra, truy tố thì Viện kiểm sát nhân dân có quyền miễn trách nhiệm hình sự. Trong giai đoạn xét xử thì việc miễn trách nhiệm hình sự do Tòa án quyết định.

    Khi miễn trách nhiệm hình sự thì trong phần nhận định của bản án phải nói rõ là bị cáo đã phạm tội gì nhưng được miễn trách nhiệm hình sự và phải nói rõ lý do. Trong phần quyết định của bản án thì chỉ cần nói là miễn trách nhiệm hình sự. Khi đã miễn trách nhiệm hình sự thì Tòa án không được quyết định bất cứ loại hình phạt nào, nhưng vẫn có thể quyết định việc bồi thường cho người bị hại và giải quyết các tang vật.

    IX- MỘT SỐ QUY ĐỊNH ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI

    Bộ luật hình sự dành một chương riêng quy định về chính sách và đường lối xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội vì lứa tuổi này còn bồng bột, chưa đủ khả năng để cân nhắc hành vi của mình, còn thiếu kinh nghiệm xã hội và dễ bị ảnh hưởng bởi tác động môi trường xấu bên ngoài.

    A- Tuổi chịu trách nhiệm hình sự (Điều 58 BLHS)

    Theo quy định của Bộ luật hình sự thì người chưa thành niên đủ 14 tuổi trở lên phạm tội thì mới phải chịu trách nhiệm hình sự. Người chưa đủ 14 tuổi mà có hành vi nguy hiểm cho xã hội thì không có trách nhiệm hình sự, do đó, không được truy tố, xét xử họ về hành vi đó.

    Đối với người chưa thành niên đủ 14 tuổi trở lên thì luật cũng có sự phân biệt:

    – Người đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi thì chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về những tội nghiêm trọng do cố ý. Do đó, hành vi nguy hiểm do vô ý thì người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự.

    – Người đủ 16 tuổi trở lên phạm tội thì phải chịu trách nhiệm về mọi tội phạm.

    Cách tính tuổi do luật quy định là “đủ 14 tuổi”, hoặc “đủ 16 tuổi”, tức là tính theo tuổi tròn. Thí dụ: sinh ngày 1-1-1975 thì 1-1-1989 mới đủ 14 tuổi. Trong trường hợp không có điều kiện xác định được chính xác ngày sinh thì tính ngày sinh theo ngày cuối cùng của tháng sinh và nếu cũng không có điều kiện xác định chính xác tháng sinh thì xác định ngày sinh là 31-12-năm sinh.

    B- Xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội

    1. Điều 59 của Bộ luật hình sự quy định: Đối với người chưa thành niên phạm tội, Viện kiểm sát và Tòa án áp dụng chủ yếu những biện pháp giáo dục, phòng ngừa. Theo Điều 60 thì những biện pháp tư pháp không có tính chất hình phạt, gồm có:

    – Buộc phải chịu thử thách từ 1 năm đến 2 năm, áp dụng đối với người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, được giao cho chính quyền cơ sở và tổ chức xã hội giám sát giáo dục.

    – Đưa vào trường giáo dưỡng từ 1 năm đến 3 năm, áp dụng đối với người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội nghiêm trọng, cần đưa vào tổ chức giáo dục có kỷ luật chặt chẽ.

    2. Chỉ xử phạt về hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội “trong những trường hợp cần thiết, căn cứ vào tính chất nghiêm trọng của hành vi phạm tội, vào những đặc điểm về nhân thân và yêu cầu của việc phòng ngừa” (Điều 59). Thí dụ: cướp của, giết người, hoặc đã đưa vào trường giáo dưỡng mà trốn ra, tiếp tục phạm pháp nhiều lần…

    Không phạt chung thân hoặc tử hình người chưa thành niên phạm tội. Người chưa thành niên phạm tội chỉ bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn nhưng được xử nhẹ hơn người đã thành niên. Mức xử nhẹ là bao nhiêu phải căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm, nhân thân của người phạm tội và căn cứ vào Điều 64 Bộ luật hình sự để vận dụng mức phạt tù có thời hạn. Nếu điều kiện quy định hình phạt cao nhất là chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất áp dụng đối với người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi trở lên khi phạm tội là 20 năm tù, và đối với người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi khi phạm tội là 15 năm tù. Nếu điều luật quy định hình phạt cao nhất là 20 năm tù thì mức hình phạt cao nhất đối với người chưa thành niên phạm tội là không quá 12 năm tù.

    Qua thực tế xét xử, nếu không có những tình tiết tăng nặng đáng chú ý thì thông thường mức hình phạt có thể là một nửa (1/2) mức hình phạt đối với người thành niên phạm tội như nhau. Không phạt tiền và các hình phạt bổ sung đối với người chưa thành niên phạm tội.

    3. Việc bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra vẫn được thực hiện theo những hướng dẫn trước đây của Tòa án nhân dân tối cao về vấn đề này.

    (*)Xem bản “quy chế về chế độ cải tạo không giam giữ và cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội” ban hành kèm theo Nghị quyết số 95/HĐBT ngày 25-7-1989 của Hội đồng Bộ trưởng.

    (*)Xem: Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 16-11-1988 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn bổ sung Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 5-1-1986.

    (*)Xem Thông tư liên ngành số 01/TTLN 90 ngày 1-2-1990 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS.

    (*)Điểm này nay áp dụng theo Thông tư liên ngành số 02/TTLN 90 ngày 15-2-1990 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp và Bộ Nội vụ.

    (**)Phần nay đã được thay thế bằng phần II Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 16-11-1988 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn bổ sung Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 5-1-1986

    – Xem phần III Nghị quyết số 1-89/HĐTP ngày 19-4-1989 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn bổ sung việc áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự.

    (*)Hội đồng Nhà nước đã có giải thích trong mọi trường hợp cho hưởng án treo phải ấn định thời gian thử thách.

    (*)Xem Thông tư liên ngành số 05/TTLN ngày 2-6-1990 của TANDTC VKSNDTC – BNV – BTP hướng dẫn thi hành chính sách đối với người phạm tội ra tự thú.

     

    Phạm Hưng

    (Đã ký)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trao Đổi Về Bài Viết “Có Thụ Lý Giải Quyết Ly Hôn Với Người Đang Bị Truy Nã Không”?
  • Nghị Quyết Đại Hội Đại Biểu Đảng Bộ Tỉnh Lào Cai Lần Thứ Xiv
  • Danh Mục 33 Biểu Mẫu Giải Quyết Việc Dân Sự Theo Nghị Quyết 04/2018/nq
  • Tỉnh Ủy Tổng Kết Thực Hiện Nghị Quyết Số 04 Của Bch Đảng Bộ Tỉnh
  • Hội Cựu Chiến Binh Huyện Tổng Kết Nghị Quyết Số 04
  • Chi Nhánh Văn Phòng Luật Sư Phạm Khắc Phương

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Phòng Luật Sư Phạm Khắc Phương
  • Nhắn Tin, Gọi Điện Xúc Phạm Người Khác Xử Lý Thế Nào ?
  • Nhắn Tin Xúc Phạm Người Khác Có Vi Phạm Pháp Luật Không?
  • Quyền Được Bảo Vệ Danh Dự, Nhân Phẩm Và Uy Tín Trong Hôn Nhân
  • Đá Cầu Tiếng Anh Là Gì? Nghĩa Tiếng Anh Chuẩn Của Từ Đá Cầu
  • (1) Điểm b, Khoản 4, điều 63 Nghị định 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 của Chính phủ quy định: Doanh nghiệp báo cáo và thực hiện việc đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp trong thời hạn ba tháng, kể từ ngày nhận được thông báo trong trường hợp nội dung đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế của doanh nghiệp chưa thống nhất. Trường hợp doanh nghiệp không thực hiện theo yêu cầu tại điểm này thì sẽ bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 165 Luật Doanh nghiệp.

    (2) Điểm a, Khoản 2, Điều 47, Thông tư 01/2013/TT-BKHĐT ngày 21/01/2013 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư quy định: Trường hợp doanh nghiệp chỉ cập nhật, bổ sung những thông tin về số điện thoại, số fax, email, website, địa chỉ của doanh nghiệp do thay đổi về địa giới hành chính, thông tin về chứng minh nhân dân, địa chỉ của cá nhân trong Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp thì doanh nghiệp gửi Thông báo theo mẫu quy định tại Phụ lục II-5 ban hành kèm theo Thông tư này đến Phòng Đăng ký kinh doanh cấp tỉnh nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính. Phòng Đăng ký kinh doanh nhận thông báo và cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho doanh nghiệp. Trong trường hợp này, doanh nghiệp không phải trả phí.

    (3) Điểm b, Khoản 2, Điều 47, Thông tư 01/2013/TT-BKHĐT ngày 21/01/2013 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư quy định: Trường hợp doanh nghiệp chỉ cập nhật, bổ sung các thông tin trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp mà không làm thay đổi nội dung của Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp thì doanh nghiệp gửi Thông báo theo mẫu quy định tại Phụ lục II-5 ban hành kèm theo Thông tư này đến Phòng đăng ký kinh doanh cấp tỉnh nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính. Phòng Đăng ký kinh doanh bổ sung thông tin vào hồ sơ của doanh nghiệp và cập nhật thông tin vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. Trong trường hợp này, doanh nghiệp không phải trả phí.

    (4) Điều 23, Thông tư 01/2013/TT-BKHĐT ngày 21/01/2013 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư quy định: Trường hợp doanh nghiệp thay đổi nội dung đăng ký thuế mà không thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh thì doanh nghiệp thông báo thay đổi nội dung đăng ký thuế theo mẫu quy định tại Phụ lục II-6 ban hành kèm theo Thông tư này.

    (5) Đề nghị Quý Doanh nghiệp khi thực hiện đính hoặc bổ sung thông tin về đăng ký doanh nghiệp mang theo thông báo “V/v rà soát, cập nhật thông tin về đăng ký doanh nghiệp” trên website https://hieudinh.dangkykinhdoanh.gov.vn/ và bản sao Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc bản sao Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh,đăng ký thuế.

    (6) Quý Doanh nghiệp có thể truy cập theo địa chỉ https://hieudinh.dangkykinhdoanh.gov.vn/ hoặc https://dangkykinhdoanh.gov.vn/ để biết thêm thông tin chi tiết và tải các mẫu thông báo:

    1. Thông báo cập nhật thông tin về đăng ký doanh nghiệp;
    2. Phụ lục II-5;
    3. Phụ lục II-6.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thắc Mắc Về Vi Phạm Chế Độ Hôn Nhân Gia Đình
  • Một Số Hành Vi Vi Phạm Pháp Luật Hôn Nhân Và Gia Đình
  • Hoãn Phiên Xử Vụ Chống Người Thi Hành Công Vụ Vì Bị Cáo… Nhập Viện
  • Luật Sư Bỏ Về, Bị Cáo Bật Khóc
  • Vi Phạm Hợp Đồng Là Gì ? Quy Định Pháp Luật Về Vi Phạm Hợp Đồng
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100