Vì Sao Văn Bản Thuyết Minh Cần Tính Chuẩn Xác / Top 11 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 3/2023 # Top View | Bac.edu.vn

Tính Chuẩn Xác, Hấp Dẫn Của Văn Bản Thuyết Minh

Tính chuẩn xác, hấp dẫn của văn bản thuyết minh

I. Tính chuẩn xác trong văn bản thuyết minh

1. Tính chuẩn xác và một số biện pháp đảm bảo tính chuẩn xác của văn bản thuyết minh

Yêu cầu đầu tiên và cũng là yêu cầu quan trọng nhất của mọi văn bản thuyết minh là chuẩn xác.

Để đạt được sự chuẩn xác cần chú ý một số điểm sau:

– Tìm hiểu thấu đáo trước khi viết.

– Thu thập đầy đủ tài liệu tham khảo, nhất là các tài liệu có giá trị, đáng tin cậy.

– Chú ý đến thời điểm xuất bản của các tài liệu để có thể cập nhật những tìm tòi phát kiến mới cũng như thấy được những thay đổi thường có.

2. Luyện tập

Gợi ý trả lời câu hỏi Câu (a)

Viết như thế không chuẩn xác vì:

– Chương trình Ngữ văn 10 không phải chỉ có văn học dân gian.

– Chương trình Ngữ văn 10 về văn học dân gian không phải chỉ có ca dao, tục ngữ.

– Chương trình Ngữ văn 10 không có câu đố.

Câu (b)

Trong câu đã nêu có điểm chưa chuẩn xác là ý nghĩa của cụm từ thiên cổ hùng văn. Ý nghiệm chính xác của thiên cổ hùng văn là áng hùng văn của nghìn đời, chứ không phải là áng hùng văn được viết trước đây đúng một ngàn năm.

Câu (c)

Văn bản trên không nói đến Nguyễn Bỉnh Khiêm với tư cách một nhà thơ do đó không thể sử dụng để thuyết minh về nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm.

II. Tính hấp dẫn của văn bản thuyết minh

1. Tính hấp dẫn và một số biện pháp tạo tính hấp dẫn của văn bản thuyết minh

Tính hấp dẫn cũng rất quan trọng đối với một văn bản thuyết minh.

Để một văn bản thuyết minh có tính hấp dẫn cần:

– Đưa ra những chi tiết cụ thể, sinh động, những con số chính xác;

– So sánh để làm nổi bật sự khác biệt, khắc sâu vào trí nhớ người đọc, người nghe;

– Làm cho câu văn biến hóa linh hoạt, tránh đơn điệu;

– Khi cần, nên phối hợp nhiều loại kiến thức để đối tượng cần thuyết minh được soi rọi từ nhiều mặt.

2. Luyện tập

Bài tập 1

Luận điểm: “Nếu bị tước đi môi trường kích thích, bộ não của đứa trẻ sẽ phải chịu đựng kìm hãm” có tính khái quát. Để làm sáng tỏ luận điểm khái quát đó, hàng loạt những chi tiết cụ thể về bộ não của đứa trẻ ít được chơi đùa, ít được tiếp xúc và bộ não của con chuột bị nhốt trong hộp rỗng đã được tác giả đưa ra. Vì thế, luận điểm khái quát đã trở nên cụ thể dễ hiểu. Sự thuyết minh do đó cũng hấp dẫn sinh động.

LUYỆN TẬP

Gợi ý trả lời

Đoạn văn thuyết minh của Vũ Bằng sinh động, hấp dẫn vì:

– Nói về một món ăn có sức gợi cảm đối với mọi người.

Đặc biệt là cách thuyết minh sinh động, hấp dẫn:

– Giúp người đọc tiếp xúc với phở trên nhiều góc nhìn khác nhau: xa, gần, nhập vai người ăn, người đứng ngoài nhìn…

– Khơi gợi ra nhiều liên tưởng bất ngờ, thú vị (mây khói chùa Hương bức tranh tàu vẽ những ông tiên ngồi đánh cờ ở trong rừng mùa thu …).

– Dùng một vốn ngôn ngữ phong phú, linh hoạt: từ ngữ giàu hình ảnh, giàu sức gợi liên tưởng. Câu văn luôn thay đổi nhịp điệu: câu dài, câu ngắn xen lẫn nhau, cả câu đơn câu ghép, câu tường thuật với câu cảm thán, câu nghi vấn…

Mai Thu

Soạn Bài Tính Chuẩn Xác, Hấp Dẫn Của Văn Bản Thuyết Minh

Soạn bài Tính chuẩn xác, hấp dẫn của văn bản thuyết minh

I. Tính chuẩn xác trong văn bản thuyết minh

Luyện tập (trang 24-25 sgk Ngữ Văn 10 Tập 2)

a. Viết như vậy không chuẩn xác về nội dung :

– Chương trình Ngữ văn 10 không chỉ có văn học dân gian mà còn có văn học viết.

– Chương trình Ngữ văn 10 về phần văn học dân gian không phải chỉ có ca dao, tục ngữ ; đồng thời lại không có câu đố.

b. Câu văn “Gọi “Đại cáo bình Ngô” là áng thiên cổ hùng văn vì đó là bài văn hùng tráng đã được viết ra từ nghìn năm trước” không chuẩn xác. Cách giải thích cụm từ “thiên cổ hùng văn” không đúng. Nó là “áng hùng văn lưu truyền của nghìn đời” chứ không phải là “được viết ra từ nghìn năm trước”.

c. Không nên dùng văn bản đã cho vì nội dung của nó không thuyết minh về Nguyễn Bỉnh Khiêm với tư cách nhà thơ.

II. Tính hấp dẫn của văn bản thuyết minh

Luyện tập (trang 26 sgk Ngữ Văn 10 Tập 2)

Câu 1 (trang 26 sgk Ngữ Văn 10 Tập 2): Đoạn văn 1:

Câu “Nếu bị tước đi … chịu đựng sự kìm hãm” là luận điểm của đoạn văn. Sau câu này, tác giả đưa ra hàng loạt các chi tiết về bộ não của những đứa trẻ ít được đùa, ít được tiếp xúc với xung quanh và bộ não của những con chuột bị nhốt trong hộp rỗng, … để làm sáng tỏ cho luận điểm. Luận điểm khái quát được cụ thể trở nên dễ hiểu, sinh động và hấp dẫn hơn.

Câu 2 (trang 26 sgk Ngữ Văn 10 Tập 2): Tác dụng tạo hứng thú của việc kể lại truyền thuyết hòn đảo An Mạ :

– Tâm lí chung khi tham quan danh lam, thắng cảnh : không chỉ muốn ngắm cảnh đẹp mà còn muốn mở rộng tầm hiểu biết.

– Việc dẫn truyền thuyết về hòn đảo tạo nên tính lịch sử, cho hình ảnh hồ Ba Bể mang màu sắc kì ảo, thần tiên, khiến tâm hồn người nghe thư thái hơn.

III. Luyện tập (trang 27 sgk Ngữ Văn 10 Tập 2)

Sự hấp dẫn của đoạn văn thuyết minh :

– Sử dụng linh hoạt các kiểu câu : ngắn, dài, nghi vấn, cảm thán, …

– Dùng thủ pháp so sánh, từ ngữ giàu hình ảnh, giàu liên tưởng như: “Bó hành hoa xanh như lá mạ”, “… một làn sương mỏng, mơ hồ như một bức tranh tàu vẽ những ông tiên ngồi đánh cờ ở trong rừng mùa thu”, …

– Sự kết hợp nhiều giác quan và liên tưởng : mùi phở …như mây khói chùa Hương đẩy bước chân ta…

– Bộc lộ cảm xúc hồn nhiên: “Trông mà thèm quá”, “Có ai lại đừng vào ăn cho được”, …

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k5: chúng tôi

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Hướng Dẫn Soạn Văn Tính Chuẩn Xác Hấp Dẫn Của Văn Bản Thuyết Minh

Hướng dẫn soạn văn Tính chuẩn xác hấp dẫn của văn bản thuyết minh

1. Tính chuẩn xác và một số biện pháp đảm bảo tính chuẩn xác của văn bản thuyết minh.

2. Luyện tập

Trả lời các câu hỏi sau đây để kiểm tra tính chuẩn xác của văn bản thuyết minh:

a. Trong một bài thuyết minh về chương trình học, có người viết: “Ở lớp 10 Trung học phổ thông, học sinh chỉ được học văn học dân gian (ca dao, tục ngữ, câu đố), viết như thế có chuẩn xác không? Vì sao?

Viết như trên là không chuẩn xác vì: Thứ nhất trong chương trình Ngữ văn 10 không phải chỉ có văn học dân gian. Thứ hai là văn học dân gian trong chương trình Ngữ văn 10 không chỉ có ca dao, tục ngữ. Thứ ba, đó là trong chương trình Ngữ văn 10 không có câu đố.

b. Trong câu sau có điểm nào chưa chuẩn xác:

Điểm chưa chuẩn xác trong câu trên chính là ý nghĩa của cụm từ “thiên cổ hùng văn”. “Thiên cổ hùng văn” có nghĩa là một áng hùng văn của nghìn đời, chứ không phải là một ánh hùng văn được viết cách đây đúng một nghìn năm.

Văn bản trên không thể dùng để thuyết minh về nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm. Bởi vì trong văn bản không đề cập tới tư cách nhà thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Trên cơ sở trả lời những câu hỏi đã nêu, hãy cho biết: Một văn bản thuyết minh chuẩn xác cần đáp ứng những yêu cầu nào?

Một văn bản thuyết minh chuẩn xác cần đáp ứng những yêu cầu:

+ Cần tìm hiểu kĩ, thấu đáo về vấn đề trước khi viết.

+ Cần thu thập các tài liệu tham khảo, các tài liệu chính xác, đáng tin cậy.

+ Cần cập nhật thông tin, tài liệu để thấy được sự thay đổi.

II. Tính hấp dẫn của văn bản thuyết minh

1. Tính hấp dẫn và một số biện pháp tạo tính hấp dẫn của văn bản thuyết minh

2. Luyện tập

a. Hãy đọc đoạn văn sau đây và thực hiện yêu cầu nêu ở dưới

Phân tích biện pháp làm cho luận điểm “Nếu bị tước đi môi trường sống kích thích, bộ não của đứa trẻ sẽ phải chịu đựng kìm hãm” trở nên cụ thể, dễ hiểu, hấp dẫn.

Biện pháp để có thể làm cho luận điểm “Nếu bị tước đi môi trường sống kích thích, bộ não của đứa trẻ sẽ phải chịu đựng kìm hãm” trở nên cụ thể, dễ hiểu, hấp dẫn. Đó chính là đưa ra những chi tiết cụ thể về một bộ não của đứa trẻ ít được vui chơi, tiếp xúc và bộ não của con chuột bị nhốt trong chiếc hộp rỗng mà tác giả đưa ra. Khi đó, luận điểm sẽ được làm sáng tỏ, từ một luận điểm khái quát trở nên cụ thể và dễ hiểu.

b. Hãy đọc đoạn trích sau đây và phân tích tác dụng tạo hứng thú của việc kể lại truyền thuyết về hòn đảo An Mạ

Việc kể lại truyền thuyết về hòn đảo An Mạ đã cho người đọc được mở rộng thêm kiến thức và sự tích có mặt của Hồ Ba Bể. Bởi khi nhắc tới một danh lam thắng cảnh, người ta thường muốn biết thêm những câu chuyện xoay quanh danh lam thắng cảnh đó. Truyền thuyết về hòn đảo An Mạ đã đưa người đọc về với thuở xa xưa, khiến cho bài văn thêm cuốn hút và hấp dẫn.

III. Luyện tập

Đọc đoạn trích sau và phân tích tính hấp dẫn của nó

Hơn nữa, trong đoạn văn của Vũ Bằng còn sử dụng phương pháp thuyết minh sinh động, hấp dẫn. Người đọc được tiếp xúc với món phở bằng nhiều cách nhìn khác nhau, từ xa đến gần, nhập vai người được ăn và cả vai người đứng nhìn. Cách miêu tả của tác giả gợi ra nhiều những liên tưởng thú vị, bên cạnh đó tác giả còn sử dụng vốn ngôn ngữ phong phú, đa dạng và linh hoạt. Với các từ ngữ giàu hình ảnh, giàu sức gợi cảm, câu văn luôn thay đổi theo nhịp điệu.

Theo chúng tôi

Bài Tập Tính Chuẩn Xác Hấp Dẫn Của Văn Bản Thuyết Minh (Có Đáp Án).

Bài tập Tính chuẩn xác hấp dẫn của văn bản thuyết minh (có đáp án)

A. KIẾN THỨC CẦN ĐẠT

1. Tính chuẩn xác và một số biện pháp đảm bảo tính chuẩn xác:

– Tính chuẩn xác: đúng với chân lí, với chuẩn mực được thừa nhận.

– Tính chuẩn xác là yêu cầu của văn bản thuyết minh nhằm đảm bảo mục đích của văn bản thuyết minh: cung cấp các tri thức về sự vật khách quan nhằm giúp cho hiểu biết của người đọc (người nghe) thêm chính xác và phong phú.

– Các yêu cầu đảm bảo tính chuẩn xác:

+ Tìm hiểu thấu đáo đối tượng thuyết minh trước khi viết.

+ Thu thập đầy đủ các tài liệu tham khảo, đặc biệt là các tài liệu có g/trị của các chuyên gia, các nhà KH tên tuổi, các cơ quan có thẩm quyền về đ/tg thuyết minh.

+ Cập nhật những thay đổi của các thông tin.

Ví dụ: Trả lời các câu hỏi sau đây để kiểm tra tính chuẩn xác của văn bản thuyết minh:

a. Ở lớp 10 Trung học phổ thông, học sinh chỉ được học văn học dân gian (ca dao, tục ngữ, câu đố)

b. Gọi “Đại cáo bình Ngô” là áng thiên cổ hùng văn vì đó là bài văn hùng tráng đã được viết ra từ nghìn năm trước.

Trả lời

a. Viết như vậy không chuẩn xác về nội dung bởi chương trình Ngữ văn 10 không chỉ có văn học dân gian mà còn có văn học viết. Trong phần văn học dân gian không phải chỉ có ca dao, tục ngữ ; đồng thời lại không có câu đố.

b. Câu văn “Gọi “Đại cáo bình Ngô” là áng thiên cổ hùng văn vì đó là bài văn hùng tráng đã được viết ra từ nghìn năm trước” không chuẩn xác. Cách giải thích cụm từ “thiên cổ hùng văn” không đúng. Nó là “áng hùng văn lưu truyền của nghìn đời” chứ không phải là “được viết ra từ nghìn năm trước”.

2. Tính hấp dẫn và một số biện pháp tạo tính hấp dẫn của văn bản thuyết minh:

– Tính hấp dẫn: có sự lối cuốn, thu hút sự chú ý của người đọc.

– Các biện pháp làm cho VB thuyết minh hấp dẫn:

+ Đưa ra những chi tiết cụ thể, sinh động, những con số chính xác để bài văn ko trừu tượng, mơ hồ (dẫn chứng cụ thể, sinh động).

+ So sánh.

+ Kết hợp sử dụng các kiểu câu.

+ Khi cần phải phối hợp nhiều loại kiến thức

Ví dụ: Phân tích tính hấp dẫn của đoạn văn sau:

[…] Thật thế, phở đối với một hạng người, không còn là một món ăn nữa, mà là một thứ nghiện, như nghiện nước trà tươi…

Ngay từ ở đằng xa, mùi phở cũng đã có một sức huyền bí quyến ruxta như mây khói chùa Hương đẩy bước chân ta, thúc bách ta phải trèo lên đỉnh núi để vào chùa trong, rồi lại ra chùa ngoài. Ta tiến lại gần một cửa hàng bán phở : thật là cả một bài trí nên thơ.

Qua lần cửa kính ta đã thấy gì? Một bó nhành hoa xanh như lá mạ, dăm quả ớt đỏ buộc vào một cái dây, vài miếng thịt bò tươi và mềm, chín có, tái có, sụn có, mỡ gầu cod, vè cũng có,… Người bán hàng đứng thái bánh, tahis thịt luôn tay, thỉnh thoảng lại mở nắp một cái thùng sắt ra để lấy nước dùng chan vào bát. Một làn khói tỏa ra khắp gian hàng, bao phủ những người ngồi ăn chung quanh trong một làn sương mỏng, mơ hồ như một bức tranh tàu vẽ những ông tiên ngồi đánh cờ ở trong rừng mùa thu.

Trông mà thèm quá ! Nhất là về mùa rét, có gió bấc thổi hiu hiu, mà thấy người ta ăn phở như thế, thì chính mình đứng ở ngoài cũng thấy ấm áp, ngon lành. Có ai lại đừng vào ăn cho được. […]

(Theo Vũ Bằng, Miếng ngon Hà Nội)

Trả lời:

Đoạn văn thuyết minh của Vũ Bằng sinh động, hấp dẫn vì:

a) Đề tài hấp dẫn : Đoạn văn nói về một món ăn có sức gợi cảm đối với hầu hết người dân Việt, và không chỉ người dân Việt.

b) Cách thuyết minh sinh động, hấp dẫn :

– Nhà văn đã không đưa ra những nhận xét, những con số khô khan, mà giúp người đọc tiếp xúc với món ăn yêu thích trên nhiều góc nhìn: xa có, gần có, nhập vào vai của người ăn có, mà nhập vào vai của người đứng ngoài nhìn cũng có, khi thì được thưởng thức các sắc màu, khi thì bị quyến rũ qua hương vị, khi khác lại cảm nhận sự ấm áp của món ăn toả ra trong cái rét mướt của mùa đông; lúc thì gọi được sự tò mò (Qua lần cửa kính ta đã thấy gì ?), lúc thì bị thôi thúc bởi một cảm xúc được bộc lộ ra trực tiếp (Trông mà thèm quá!).

– Nhà văn còn làm cho món ăn ấy đẹp hơn, có hồn hơn, để thu hút sự chú ý của người đọc nhiều hơn bằng cách khơi gợi ra những liên tưởng bất ngờ mà hợp lí đến các vẻ đẹp hấp dẫn khác (mây khói chùa Hương, bức tranh tàu vẽ những ông tiên ngồi đánh cờ ở trong rừng mùa thu,…).

– Để lột tả hết vẻ sinh động, hấp dẫn trên, tác giả đã sử dụng một vốn liếng ngôn ngữ thật phong phú, linh hoạt: từ ngữ giàu hình ảnh, giàu sức gọi liên tưởng ; câu văn luôn thay đổi nhịp điệu, xen lẫn câu ngắn với câu dài, câu đơn với câu ghép, câu tường thuật với câu nghi vấn và câu cảm thán,..

B. LUYỆN TẬP CỦNG CỐ

a.1) Hoa tầm xuân thường có màu hồng đào hoặc trắng nhạt.

a.2) Tầm xuân nổi bật lên giữa muôn hoa vì sắc màu rất lạ: Những nụ tầm xuân luôn có màu xanh, đúng như trong câu hát:

Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc.

b.1) Gọi Đại cáo bình Ngô là áng “thiện cổ hùng văn” vì đó là bài văn hùng tráng đã được viết ra từ nghìn năm trước.

b.2) Đại cáo bình Ngô được ngưòi đời sau tôn vinh là một áng “thiên cổ hùng văn”, vì tác phẩm đó xứng đáng được coi là bài văn hùng tráng của nghìn đời.

Trả lời:

Các câu (a.2) và (b.1) không chuẩn xác, vì:

– Trong thực tế đời sống, rất hiếm có nụ tầm xuân màu xanh.

– Đại cáo bình Ngô được viết năm 1428, không phải từ nghìn năm trước.

2. Đọc đoạn văn thuyết minh sau và trả lời câu hỏi.

Tục truyền rằng năm 255 trước Công nguyên, An Dương Vương xây một toà thành hình xoáy trôn ốc nên gọi là Loa Thành. Hiện ở cổ Loa còn đền thờ An Dương Vương Thục Phán, trong đền có tượng An Dương Vương nặng 155 kg. Dự án tôn tạo khu di tích đã hoàn thành. Rồi đây, Cổ Loa sẽ được dựng lại trên một diện tích rộng 484 héc-ta với 32 hạng mục công trình lớn nhỏ như: sa bàn di tích tổng thể của thành tỉ lệ 1/500; công viên ở Vườn Thuyền – Ao Mắm, trong đó có mô hình thành Cổ Loa thu nhỏ (diện tích 1600 m2). Thành xưa có 9 vòng, nay còn lưu lại vết tích của 3 vòng trên một diện tích 567 héc-ta : Vòng ngoài có chu vi gần 9 km, còn chu vi của vòng trong cùng khoảng 1,650 km. Trong tương lai, tượng đài của An Dương Vương và Ngô Quyền, hai ông vua đóng đô trên đất Cổ Loa, sẽ được dựng lên. Còn bây giờ, ở am Bà Chúa, nơi thờ công chúa Mị Châu (xây dựng năm 1678), đã có pho tượng một người con gái không đầu trùm vải đỏ – tượng nàng Mị Châu lầm lỡ – để nhắc nhở với đời sau biết bao điều đau xót, sâu xa. Cổ Loa trong tưong lai sẽ còn nhiều đổi khác.

Năm 2010, nhân dân ta tổ chức kỉ niệm trọng thể 1000 năm Thăng Long – Hà Nội. Bởi vì, tính từ năm vua Lí Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư về thành Đại La cũ đến năm 2010, thời gian đã vừa tròn một thiên niên kỉ. Vào dịp ấy, cùng với Đền Hùng ở Phú Thọ, Hoa Lư ở Ninh Bình, Cổ Loa trở thành một nơi để khách tham quan hoài niệm về nguồn cội, về tổ tiên của dân tộc Việt Nam mình.

(Vũ Bằng)

Câu hỏi:

1. Đoạn trích trên có mạch lạc không? Sự mạch lạc (hoặc còn chưa mạch lạc) đó có ảnh hưởng đến sức hấp dẫn của đoạn trích hay không?

2. Theo anh (chị), nên sửa lại như thế nào để đoạn trích được mạch lạc và có sức hấp dẫn hơn?

Trả lời:

a) Đoạn văn trên chưa đảm bảo được tính mạch lạc, bởi vì:

– Các ý trong đoạn trích cũng chưa được sắp xếp một cách hợp lí? Cách sắp xếp đó làm cho ý chủ đạo bị đứt đoạn, ngắt quãng.

 Một văn bản thiếu mạch lạc sẽ làm giảm đi tính hấp dẫn của đoạn trích, khiến người đọc không hình dung ra được hết những ý mà người viết muốn truyền tải.

b) Để tăng tính mạch lạc và hấp dẫn, có thể sửa lại đoạn trích đó như sau:

CỔ LOA XƯA, HÔM NAY VÀ NGÀY MAI

Tục truyền rằng, năm 255 trước Công nguyên, An Dương Vương xây một toà thành hình xoáy trôn ốc nên gọi là Loa Thành. Thành xưa có 9 vòng, nay còn lưu lại vết tích của 3 vòng trên một diện tích 567 héc-ta : Vòng ngoài có chu vi gần 9 km, còn chu vi của vòng trong cùng khoảng 1,650 km. Hiện ở cổ Loa còn đền thờ An Dương Vương Thục Phán, trong đền có tượng An Dương Vương nặng 155 kg. Cổ Loa còn nổi tiếng với am Bà Chúa thờ công chúa Mị Châu (xây dựng năm 1678); ở đó, pho tượng một người con gái không đầu trùm vải đỏ – tượng nàng Mị Châu lầm lỡ – sẽ còn nhắc nhở người đời sau biết bao điều đau xót, sâu xa… Cổ Loa trong tương lai sẽ còn nhiều đổi khác. Dự án tôn tạo khu di tích đã hoàn thành. Rồi đây, Cổ Loa sẽ được dựng lại trên một diện tích rộng 484 héc-ta với 32 hạng mục công trình lớn nhỏ như : sa bàn di tích tổng thể của thành tỉ lệ 1 /500; tượng đài của An Dương Vương và Ngô Quyền, hai ông vua đóng đô trên đất Cổ Loa ; công viên ở Vườn Thuyền – Ao Mắm, trong đó có mô hình thành Cổ Loa thu nhỏ (diện tích 1600 m2). Đến lúc ấy, cùng với Đền Hùng ở Phú Thọ, thành Cổ Loa sẽ trở thành một nơi để chúng ta hoài niệm về nguồn cội, về tổ tiên của dân tộc Việt Nam mình.

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k5: chúng tôi

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube: