Vụ Án Luật Sư Lê Công Định / Top 12 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 6/2023 # Top View | Bac.edu.vn

Luật Sư Bào Chữa Vụ Án Lê Văn Luyện

Luat su bao chua

15:31

Thuê luật sư là việc người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị buộc tội, bị can, bị cáo và người thân thích của họ là cha, mẹ, vợ, con, ông, bà… thuê luật sư bào chữa cho trường hợp của gia đình nhà mình

Vai trò của Luật sư, luật sư tham gia vụ án hình sự với vai trò là người bào chữa, khi thực hiện bào chữa cho người bị buộc tội, người bị tạm giữ, người bị tạm giam, bị can, bị cáo trong tất cả các giai đoạn từ Điều tra vụ án, khởi tố vụ án, Truy tố vụ án và xét xử vụ án, luật sư sẽ thực hiện các quyền bào chữa để bảo chữa cho các bị can, bị cáo.

Thuê luật sư bào chữa cho người bị bắt là trường hợp người bị tình nghi hay còn gọi là nghi can có thể bị bắt quả tang hoặc bị tạm giữ song bắt hoặc bị mời về làm việc tại trụ sở cơ quan điều tra song bắt, trong tường hợp này người bị bắt có quyền thuê luật sư để bào chữa cho mình. Việc luật sư tham gia bào chữa từ giai đoạn này là hết sức cần thiết vì tham gia ngay từ ban đầu sẽ bảo đảm được quyền của người bị bắt cũng như làm sáng tỏ các sự kiện khách quan của vụ án

Thuê luật sư bảo chữa cho bị can khi phạm tội Khi một ai đó có hành vi phạm tội đã bị cơ quan Cảnh sát điều tra, cơ quan Công an khởi tố vụ án và khởi tố bị can, lúc đó người bị khởi tố trở thành bị can và có quyền mời luật sư bào chữa cho mình để tham gia vào vụ án. Luật sư khi tham gia bào chữa cho bị can sẽ giúp đỡ bị can về mặt pháp luật, sử dụng các biện pháp cần thiết và hợp pháp để bảo vệ bị can. Quá trình bào chữa của luật sư cho bị can từ khi bị mời lên làm việc, khi bị khởi tố tại cơ quan Điều tra, khi bị Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền truy tố bị can bằng Bản cáo trạng và cho đến khi Tòa án có quyết định đưa vụ án ra xét xử. nói như vậy không có nghĩa là luật sư sẽ chấm dứt tư cách bào chữa cho bị can mà tư cách của bị can được chuyển sang thành tư cách Bị cáo.

Thuê luật sư bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa: Khi một bị can hay người bị buộc tội bị Tòa án nhân dân có thẩm quyền có quyết định đưa vụ án ra xét xử thì lúc đó được chuyển sang một tư cách mới là tư cách bị cáo, Luật sư người bào chữa tiếp tục bào chữa cho bị cáo trong toàn bộ quá trình xét xử vụ án ở giai đoạn sơ thẩm hoặc phúc thẩm nếu bị cáo có kháng cáo và tiếp tục mời luật sư bào chữa cho mình. Luật sư bào chữa cho bị cáo có những quyền và nghĩa vụ nhất định, tư vấn và hỗ trợ pháp lý cũng như trao đổi với bị cáo để sao cho bào chữa cho bị cáo được tốt nhất.

Thuê luật sư tham gia vụ án hình sự là trường hợp đã xác định một vụ án hình sự, vụ án có thể hình thành từ giai đoạn khởi tố vụ án, khởi tố bị can và tiến hành điều tra hoặc có thể vụ án đã được Viện kiểm sát có thẩm quyền tiến hành xem xét truy tố ra tòa án và cũng có thể vụ án đã được tòa án chuẩn bị đưa ra xét xử sơ thẩm hoặc xét xử phúc thẩm. Luật sư tham gia vào vụ án hình sự sẽ thực hiện các nhiệm vụ quyền hạn của người bào chữa để nghiên cứu hồ sơ và bào chữa cho người được bào chữa.

Thuê luật sư bào chữa cho người chưa thành niên, người chưa thành niên khi phạm tội là người dưới 18 tuổi, theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự thì đây là những người đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự (14 tuổi) nhưng chưa thành niên (dưới 18 tuổi) khi phạm tội thì bắt buộc phải có luật sư. Thông thường bố mẹ hoặc người đại diện hợp pháp hay người giám hộ sẽ thuê luật sư bào chữa. Trường hợp không thể có điều kiện thuê luật sư thì cơ quan tiến hành tố tụng sẽ yêu cầu Đoàn luật sư chỉ định luật sư bào chữa. Đây là quyền cơ bản của người dưới thành niên để có thể bào chữa cho hộ được tốt nhất.

Luật sư bào chữa để trả hồ sơ điều tra bổ sung là trường hợp luật sư tham gia bào chữa cho bị can, bị cáo trong vụ án hình sự và vào từng giai đoạn cụ thể có thể là giai đoạn truy tố tại Viện kiểm sát, Luật sư kiến nghị việc trả hồ sơ cho cơ quan Điều tra để tiến hành điều tra bổ sung hoặc sau khi Viện kiểm sát đã quyết định truy tố bằng Bản cáo trạng ra Tòa án có thẩm quyền thì Luật sư kiến nghị Thẩm phán thụ lý vụ án ra Quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung hoặc Tại phiên tòa luật sư bào chữa để Hội đồng xét xử trả hồ sơ điều tra bổ sung.

I. Giai đoạn tố tụng mà luật sư có thể tham gia

Theo quy định tại khoản 2 Điều 72 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 (BLTTHS) thì người bào chữa có thể là:

“a) Luật sư;

b) Người đại diện của người bị buộc tội;

c) Bào chữa viên nhân dân;

d) Trợ giúp viên pháp lý trong trường hợp người bị buộc tội thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý.”

Bên cạnh đó, Điều 74 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định về thời điểm người bào chữa tham gia tố tụng như sau:

“Người bào chữa tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can.

Trường hợp bắt, tạm giữ người thì người bào chữa tham gia tố tụng từ khi người bị bắt có mặt tại trụ sở của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc từ khi có quyết định tạm giữ.

Trường hợp cần giữ bí mật điều tra đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền quyết định để người bào chữa tham gia tố tụng từ khi kết thúc điều tra.”

II. Quyền hạn của Luật sư (người bào chữa)

Quyền và nghĩa vụ của người bào chữa được quy định cụ thể tại Điều 73 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 như sau:

“1. Người bào chữa có quyền:

a) Gặp, hỏi người bị buộc tội;

b) Có mặt khi lấy lời khai của người bị bắt, bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can và nếu người có thẩm quyền tiến hành lấy lời khai, hỏi cung đồng ý thì được hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can. Sau mỗi lần lấy lời khai, hỏi cung của người có thẩm quyền kết thúc thì người bào chữa có thể hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can;

c) Có mặt trong hoạt động đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói và hoạt động điều tra khác theo quy định của Bộ luật này;

d) Được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng báo trước về thời gian, địa điểm lấy lời khai, hỏi cung và thời gian, địa điểm tiến hành hoạt động điều tra khác theo quy định của Bộ luật này;

e) Đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật; đề nghị thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế;

g) Đề nghị tiến hành hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật này; đề nghị triệu tập người làm chứng, người tham gia tố tụng khác, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;

h) Thu thập, đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;

k) Đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập chứng cứ, giám định bổ sung, giám định lại, định giá lại tài sản;

m) Tham gia hỏi, tranh luận tại phiên tòa;

n) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;

o) Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án nếu bị cáo là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất theo quy định của Bộ luật này.

I. Giai đoạn tố tụng mà luật sư có thể tham gia

Theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS) thì người bào chữa có thể là:

1.  Luật sư;

2.  Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo;

3.  Bào chữa viên nhân dân.

Bên cạnh đó, khoản 1 Điều 58 BLTTHS có quy định: Người bào chữa tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can, Trong trường hợp bắt người theo quy định tại Điều 81 và Điều 82 của Bộ luật này thì người bào chữa tham gia tố tụng từ khi có quyết định tạm giữ. Trong trường hợp cần giữ bí mật điều tra đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia, thì Viện trưởng Viện kiểm sát quyết định để người bào chữa tham gia tố tụng từ khi kết thúc điều tra.

II. Quyền hạn của Luật sư (người bào chữa)

Theo quy định tại khoản 2 Điều 58 BLTTHS thì Luật sư (người bào chữa) có quyền:

2.  Đề nghị Cơ quan điều tra báo trước về thời gian và địa điểm hỏi cung bị can để có mặt khi hỏi cung bị can;

3.  Đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch theo quy định của Bộ luật này;

5.  Đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu;

6.  Gặp người bị tạm giữ; gặp bị can, bị cáo đang bị tạm giam;

8.  Tham gia hỏi, tranh luận tại phiên toà;

9.  Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;

10. Kháng cáo bản án, quyết định của Toà án nếu bị cáo là người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất quy định tại điểm b khoản 2 Điều 57 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Hiệp Hội Luật Sư Quốc Tế Iba Phê Phán Vụ Bắt Giữ Luật Sư Lê Công Định Tại Việt Nam

Trong bức thư đề ngày thứ tư 17/06/2009 gởi đến thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Viện Nhân quyền thuộc Hiệp Hội Luật sư Quốc tế, trụ sở tại Luân Đôn, đã nhận định: Vụ bắt giữ Luật sư Lê Công Định mang tính ”tùy tiện” và vi phạm cả những chuẩn mực pháp lý quốc tế, lẫn Hiến Pháp của Việt Nam.

Theo bản sao bức thư được hãng tin Pháp AFP hôm nay (19/06) trích dẫn, Viện Nhân quyền của Hiệp Hội IBA, tập hợp khoảng 30.000 luật sư trên toàn thế giới, đã bày tỏ thái độ quan ngại trước việc Luật sư Định bị bắt xuất phát từ “công việc của ông trong tư cách là luật sư biện hộ cho những người đấu tranh vì dân chủ “, cũng như từ lời khiếu nại của ông trong vụ khai thác bauxite trên Tây Nguyên.

Lá thư viết thêm : ” Hơn nữa, chúng tôi cũng quan ngại trước khả năng vụ bắt giữ liên hệ đến việc ông Lê Công Định đã bày tỏ quan điểm phê phán chính quyền “. Bức thư gởi Thủ tướng Việt Nam do hai phó chủ tịch Viện Nhân quyền của IBA ký tên: đó là thẩm phán Richard Goldstone, người Nam Phi, nguyên là Chánh Biện lý Toà Án Hình Sự Quốc tế của Liên Hiệp Quốc về Nam Tư Cũ và Rwanda, và ông Martin Solc, một luật sư tên tuổi người Tiệp.

Thư của Hiệp Hội Luật sư Quốc tế IBA còn ghi nhận là Hiến Pháp Việt Nam bảo đảm quyền tự do ngôn luận, cũng như Công ước Quốc tế về quyền Dân sự và Chính trị mà Việt Nam đã ký kết.

Văn kiện này còn yêu cầu bảo vệ người dân trước những vụ bắt bớ tùy tiện. Căn cứ trên hai điểm đó, Hiệp Hội IBA cho rằng vụ bắt giữ luật sư Lê Công Định đã vi phạm Hiến Pháp Việt Nam cũng như chuẩn mực pháp lý quốc tế.

Riêng tại Việt Nam, sau khi bắt giữ luật sư Lê Công Định, chính quyền đã câu lưu thêm một số người có liên can. Thông Tấn Xã Việt Nam, được hãng tin Mỹ AP trích dẫn đã cho biết là có thêm 3 người khác bị bắt.

Đó là ông Lê Thăng Long ở Quảng Ngãi, bà Trần Thị Thu ở Hà Nội và bà Lê Thị Thu Thu ở Tiền Giang. Báo trên mạng VnExpress còn đưa tin một người thứ tư bị tạm giam là ông Trần Huỳnh Duy Thức. Cả hai ông Long và Thức đã bị tạm giam để điều tra về tội ”Tuyên truyền chống nhà nước”. Họ đều có quan hệ với Luật sư Lê Công Định, mà theo báo chí Việt Nam, luật sư Định đã ”công nhận tội trạng” .

http://www.rfi.fr/actuvi/articles/114/article_3907.asp

Đoàn Luật Sư Tp Hà Nội Nói Về Vụ Luật Sư Lê Văn Thiệp

Như PLO đã đưa tin, ngày 10-4, đại diện Cục Phát thanh truyền hình và Thông tin điện tử (Bộ TT&TT) cho biết trong buổi làm việc với cơ quan này, luật sư (LS) Lê Văn Thiệp đã thừa nhận dòng trạng thái trên Facebook về một phóng viên nhiễm COVID-19 là của mình.

Ban chủ nhiệm Đoàn LS TP Hà Nội rất quan tâm vụ việc này, phân công ông Triển với tư cách là trưởng ban bảo vệ quyền lợi LS trực tiếp làm rõ.

Quá trình làm việc, LS Thiệp nói tài khoản Facebook Lê Văn Thiệp không phải của mình, do đó LS Triển đã làm văn bản gửi Bộ Công an và Bộ TT&TT đề nghị làm rõ Facebook này là của ai, có bị hack hay không.

Tuy nhiên, sáng 10-4, ông được LS Nguyễn Văn Chiến, Chủ nhiệm Đoàn LS TP Hà Nội, thông báo rằng tối qua (9-4), sau khi thuyết phục, LS Thiệp đã nhận Facebook đó là của mình, không bị hack. Do vậy, LS Triển không gửi văn bản tới hai bộ nữa.

Ông Triển cũng cho hay căn cứ vào Luật LS, Điều lệ của Liên đoàn LS VN, Nội quy của Đoàn LS TP Hà Nội…, Ban chủ nhiệm sẽ giao cho Hội đồng khen thưởng, kỷ luật xem xét, tùy theo tính chất mức độ để có biện pháp phù hợp đối với LS Thiệp.

Trao đổi thêm, LS Nguyễn Văn Chiến, Chủ nhiệm Đoàn LS TP Hà Nội, cho biết ông đã nắm được việc LS Lê Văn Thiệp thừa nhận với Cục Phát thanh truyền hình và Thông tin điện tử về nội dung đăng tải trên Facebook.

Về hướng xử lý của Đoàn LS TP Hà Nội đối với LS Thiệp, ông Chiến nói đoàn sẽ căn cứ vào kết quả xác minh của cơ quan có thẩm quyền, từ đó xem xét theo trình tự, quy trình.

Đặc biệt, LS Chiến cho hay trước khi Hội Nhà báo có công văn gửi tới Liên đoàn LS Việt Nam cũng như Đoàn LS TP Hà Nội, ông đã yêu cầu kiểm tra, làm rõ vụ việc này.

Lúc đầu, LS Thiệp chưa thừa nhận ngay và nói trước đây tài khoản Facebook của mình từng bị hack. Ông có động viên, đề nghị LS Thiệp có trách nhiệm hợp tác với cơ quan chức năng để làm rõ, nếu Facebook đó là của mình thì phải có trách nhiệm về nội dung đã đăng tải.

Chủ nhiệm Đoàn LS TP Hà Nội khẳng định báo chí và LS phải luôn hỗ trợ nhau phát triển.

Luật sư Lê Văn Thiệp thừa nhận nội dung đăng tải trên facebook

Công An Thanh Oai Ngăn Luật Sư Tìm Hiểu Sự Thật Vụ Án?

Chỉ muốn gặp bị can tại nhà tạm giữ nhưng luật sư bị buộc phải có lệnh trích xuất của tòa án giống như đưa bị can ra tòa.

Theo phản ánh của nhiều luật sư, thời gian qua, hiện còn có rất nhiều vụ việc “làm khó” người bào chữa, trong đó có quyền gặp bị can, bị cáo đang bị tạm giam, tạm giữ. Thực tế, đa số các trại tạm giữ, tạm giam đều thực hiện đúng theo quy định của pháp luật, tạo điều kiện để người bào chữa thực hiện tốt quyền này, nhưng một số trường hợp do nhiều lý do khác nhau mà người bào chữa vẫn bị “hành”.

Điển hình là vụ việc Công an huyện Thanh Oai, Hà Nội đưa ra yêu sách đối với luật sư muốn gặp bị cáo đang bị tạm giam trong nhà tạm giữ của Công an huyện là phải xuất trình “Lệnh trích xuất” của Tòa án.

Điều này được phản ánh trong đơn ngày 30/11/2012 của ông Bùi Đăng Tước, trú tại Thôn Đìa, xã Bình Minh, Thanh Oai, Hà Nội, tố cáo về việc “có dấu hiệu cho thấy công an huyện Thanh Oai cố ý làm sai lệch hồ sơ vụ án để bắt con, cháu ông phải đi tù oan về tội hủy hoại tài sản, sau đó bưng bít sự việc bằng cách không cho luật sư gặp các bị cáo đang bị tạm giam”.

Về sự việc này, Luật sư Nguyễn Quang Anh, Trưởng Văn phòng Luật sư Sao Việt, Đoàn Luật sư Hà Nội, người bào chữa cho 3 bị cáo Sơn, Hải, Hoàn trong vụ án này cũng cho biết: “Nhằm mục đích xác minh sự thật khách quan của vụ án Hủy hoại tài sản trên, tôi đã đến gặp ông Nguyễn Hồng Ky – Trưởng nhà tạm giữ công an huyện Thanh Oai đồng thời là Phó thủ trưởng cơ quan CSĐT phụ trách điều tra vụ án này để đề nghị được gặp các bị cáo Sơn, Hải, Hoàn với đầy đủ giấy tờ cần thiết, trong đó có giấy chứng nhận người bào chữa. Nhưng ông Ky không cho tôi gặp các bị cáo mà yêu cầu tôi phải xin lệnh trích xuất của TAND huyện Thanh Oai (cơ quan đang thụ lý vụ án) thì mới giải quyết.

Giải thích cho yêu cầu của mình, ông Ky viện dẫn Nghị định số 89/1998/NĐ-CP ngày 07/11/1998 của Chính phủ ban hành Quy chế về tạm giữ, tạm giam.”

Tuy nhiên, theo quy định mà ông phụ trách nhà tạm giữ viện dẫn thì chỉ khi đưa bị cáo ra khỏi nơi giam, giữ mới cần có lệnh trích xuất bằng văn bản của cơ quan thụ lý vụ án theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Còn trong trường hợp luật sư đề nghị được gặp bị cáo đang bị tạm giam trong khu vực nhà tạm giữ, trại tạm giam để tìm hiểu nội dung vụ án thì Trưởng nhà tạm giữ, Giám thị trại tạm giam căn cứ vào văn bản đồng ý của cơ quan đang thụ lý vụ án cho luật sư tiếp xúc với bị cáo để quyết định đưa bị cáo đang bị tạm giam ra khỏi buồng giam, giữ.

Khi đó, Giấy chứng nhận người bào chữa chính là văn bản mà cơ quan tiến hành tố tụng cấp cho luật sư để xác định tư cách tham gia tố tụng của họ, cũng là văn bản thể hiện sự đồng ý của cơ quan tiến hành tố tụng cho luật sư được thực hiện các quyền của người bào chữa trong đó có quyền gặp bị cáo đang bị tạm giam theo khoản 2 Điều 58 bộ luật Tố tụng Hình sự.

Theo đánh giá của Luật sư Nguyễn Quang Anh, việc làm này là cố tình gây khó khăn cho người bào chữa của bị cáo. Vì, với vai trò là Trưởng nhà tạm giữ công an huyện Thanh Oai, đồng thời là Phó thủ trưởng cơ quan cảnh sát điều tra và với bề dày công tác thì ông Nguyễn Hồng Ky không thể không biết rõ các quy định trên về việc gặp bị can, bị cáo trong nhà tạm giữ khác với việc trích xuất các bị can, bị cáo để đưa đến Tòa án.

Việc đưa ra lý do “phải có lệnh trích xuất của Tòa án” là cách giải thích không đúng pháp luật để cố tình tìm cách gây khó khăn cho luật sư trong quá trình tiếp xúc với bị cáo để tìm hiểu sự thật của vụ án.

Việc bắt buộc luật sư phải có có lệnh trích xuất hay quyết định cho gặp của cơ quan tiến hành tố tụng rõ ràng là gây khó khăn, mất thời gian cho cả phía người bào chữa và cả cơ quan tiến hành tố tụng, ảnh hưởng đến quyền lợi của bị cáo. Nếu việc đòi hỏi như vậy là do không hiểu đúng pháp luật thì cần phải xem xét lại năng lực của Giám thị trại giam hay Trưởng nhà tạm giữ. Tuy nhiên, nếu nó bắt nguồn từ nguyên nhân “tế nhị” khác thì hành vi của các cá nhân đó cũng phải bị xem xét và xử lý nghiêm túc.

Thưa Luật sư, trong quá trình làm việc với các bị can, bị cáo đang bị tạm giam trong các trại tạm giam, ông có bị đòi “lệnh trích xuất” của Tòa án không?

– Thực tế, tôi đã tham gia tố tụng nhiều vụ án có bị can, bị cáo bị giam giữ. Chúng tôi nhiều lần phải làm việc với bị can, bị cao trong trại tạm giam nhưng trong quá trình làm việc với bị can, bị cáo đang bị giam giữ, tôi chưa bao giờ phải xuất trình lệnh trích xuất bị can của Tòa án.

Hiện nay, các trại tạm giam của Công an các tỉnh, TP hay cả các trại tạm giam của Cục Cảnh sát điều tra Bộ Công an, trại tạm giam của Cục Điều tra hình sự, Bộ Quốc phòng cũng không bao giờ đòi hỏi vô lý như trên. Khi vào trại giam làm việc với bị can, bị cáo, tùy từng giai đoạn tố tụng để “đòi” giấy tờ.

Nếu trong giai đoạn điều tra thì thông thường, luật sư không bao giờ được gặp riêng bị can mà phải cùng làm việc với điều tra viên. Sau khi hồ sơ chuyển sang VKS và Tòa án thì luật sư có thể gặp riêng bị can. Khi đó, luật sư chỉ phải xuất trình giấy chứng nhận bào chữa và thẻ luật sư mà không bị “yêu cầu” thêm bất cứ một giấy tờ nào khác.

Ông có thể giải thích tại sao các trại tạm giam lại không yêu cầu “lệnh trích xuất” của Tòa án như trường hợp xảy ra tại nhà tạm giữ được phản ánh như trên?

– Theo quy chế về tạm giữ, tạm giam ban hành theo Nghị định 89/1998/NĐ-CP thì việc trích xuất bị can, bị cáo bị tạm giam để thực hiện các hoạt động tố tụng như gặp điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán, luật sư nhưng trong phạm vi trại tạm giam, nơi tạm giữ thì người phụ trách ký lệnh trích xuất. Trường hợp Tòa án yêu cầu trích xuất bị cáo ra Tòa để xét xử thì Tòa có lệnh trích xuất hoặc yêu cầu trích xuất gửi đến trại tạm giam để người phụ trách ký lệnh trích xuất và giao cho lực lượng dẫn giải, bảo vệ đưa bị cao ra khỏi nơi giam để thực hiện các hoạt động tố tụng.

Vì thế, khi các luật sư hay điều tra viên, kiểm sát viên đến gặp bị can trong các giai đoạn tố tụng không bao giờ bị đòi “lệnh trích xuất” của Tòa án hoặc các cơ quan tố tụng khác.

Xin cảm ơn ông!

Dương Kim