Kiến Nghị Vướng Mắc Nghị Quyết 42

11 Khó Khăn, Vướng Mắc Trong Quá Trình Xử Lý Nợ Xấu Theo Nghị Quyết 42

Những Điểm Nhấn Của Nghị Quyết 42/2017/qh14 Về Xử Lý Nợ Xấu Của Tổ Chức Tín Dụng

Chính Sách Mới Xử Lý Nợ Xấu Của Các Tổ Chức Tín Dụng

Nghị Quyết 42 Ngày 9/4/2020

Hôm Nay, Nghị Quyết 42 Về Xử Lý Nợ Xấu Chính Thức Có Hiệu Lực

Biện pháp xử lý cũng đa dạng hơn trước khi có nghị quyết của Quốc hội, đặc biệt nghị quyết đã cho phép các thành phần kinh tế tham gia vào quá trình xử lý nợ xấu ngân hàng. Trong 2 năm qua NHNN Việt Nam đã phối hợp với các bộ, ngành hữu quan ra nhiều văn bản chỉ đạo nhằm hỗ trợ các ngân hàng xử lý nợ xấu.

Tuy nhiên, theo phản ánh của các ngân hàng ở chúng tôi nhiều bộ, ngành, địa phương triển khai Nghị quyết 42 còn chưa đầy đủ dẫn đến không thống nhất trong cách xử lý thủ tục thu hồi nợ xấu cho ngân hàng. Trong đó có thủ tục hợp thức hóa cấp giấy chứng nhận phần diện tích đất trên đất chênh lệch so với giấy chứng nhận và diện tích đất thế chấp ngân hàng.

Ví như, thời điểm DN vay vốn thế chấp 1 ha, nhưng đến khi rơi vào nợ xấu số đất lại nở ra 1,2 ha. Nguyên do chủ đất đã mua thêm, nhưng phần mua thêm chưa phải đất thổ cư nên chính quyền cơ sở không chứng nhận cho ngân hàng thu hồi tài sản đảm bảo vì còn có phần đất nông nghiệp dính vào tài sản đảm bảo nợ vay.

Chưa kể các hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp của ngân hàng trước đây gần như không thể hiện được nội dung thỏa thuận cụ thể được quyền thu giữ tài sản đảm bảo hoặc có thỏa thuận nhưng sử dụng các thuật ngữ chung chung như TCTD được quyền phát mãi, quyền định đoạt… trong khi chưa có văn bản hướng dẫn nội dung quyền thu giữ tài sản đảm bảo được hiểu như thế nào là đầy đủ.

Việc bán nợ xấu và tài sản đảm bảo, theo ACB, Nghị quyết 42 không điều chỉnh giá thị trường được xác định trên cơ sở nào, đơn vị nào đủ năng lực, thẩm quyền xác định giá trị thị trường. TCTD có được tự xác định giá trị thị trường của khoản nợ, giá thỏa thuận của các bên mua bán có được xem là giá thị trường?

Một đại diện Sacombank cho biết, hoạt động mua bán nợ xấu của TCTD cho các tổ chức, cá nhân chưa có nhiều do bên mua nợ còn e ngại thủ tục xử lý nợ trên thực tế gặp nhiều khó khăn về thời gian, chi phí. Thực tế đến nay cũng không nhiều tổ chức, cá nhân có tiềm lực tài chính mạnh để hoạt động mua bán nợ xấu theo giá thị trường.

Theo NHNN chi nhánh chúng tôi các TCTD trên địa bàn mong muốn cần có hướng dẫn cụ thể Điểm b, Khoản 2, Điều 7 của Nghị quyết 42/2017/QH14. Trong đó, Điểm b, tại hợp đồng bảo đảm có thỏa thuận về việc bên bảo đảm đồng ý cho TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có quyền thu giữ tài sản đảm bảo của khoản nợ xấu khi xảy ra trường hợp xử lý tài sản đảm bảo theo quy định của pháp luật. Trong đó, giải thích rõ thỏa thuận về quyền thu giữ tài sản đảm bảo theo hợp đồng bảo đảm là như thế nào để có cơ sở cho TCTD áp dụng đúng quy định. Cần có văn bản hướng dẫn rõ việc xác định tài sản như thế nào là không tranh chấp theo Nghị quyết 42/2014/QH14.

Từ đó, có quy định cơ quan thuế và cơ quan đăng ký có trách nhiệm cập nhật, đăng ký quyền sở hữu đối với tài sản đảm bảo xử lý nợ xấu, kể cả trường hợp tài sản đảm bảo sau khi xử lý không đủ thanh toán nợ cho ngân hàng thì ngân hàng bên mua trúng đấu giá vẫn không phải đóng thuế thu nhập cá nhân hoặc thuế chuyển quyền sử dụng đất.

Hải Nam

Nguồn:

Tiếp Tục Xử Lý Nợ Xấu Theo Nghị Quyết 42

Quy Định Của Pháp Luật Hiện Hành Về Xử Lý Tài Sản Thế Chấp

Xử Lý Tài Sản Bảo Đảm Theo Nghị Quyết Về Xử Lý Nợ Xấu: Vẫn Còn Những Điểm Trừ

Xử Lý Tài Sản Bảo Đảm Theo Nghị Quyết 42: Ách Tắc Khâu Kê Khai Thuế Và Nộp Thuế

Nho Quan Tổng Kết Nghị Quyết Số 42 Nq Tw Và Nghị Quyết Số 11 Nq Tw Của Bộ Chính Trị

Tháo Gỡ Khó Khăn, Vướng Mắc Trong Triển Khai Nghị Quyết Số 42

Nho Quan Tổng Kết Nghị Quyết Số 42 Nq Tw Và Nghị Quyết Số 11 Nq Tw Của Bộ Chính Trị

Xử Lý Tài Sản Bảo Đảm Theo Nghị Quyết 42: Ách Tắc Khâu Kê Khai Thuế Và Nộp Thuế

Xử Lý Tài Sản Bảo Đảm Theo Nghị Quyết Về Xử Lý Nợ Xấu: Vẫn Còn Những Điểm Trừ

Quy Định Của Pháp Luật Hiện Hành Về Xử Lý Tài Sản Thế Chấp

Tiếp Tục Xử Lý Nợ Xấu Theo Nghị Quyết 42

Thông tin tại cuộc họp cho biết, sau khi Nghị quyết số 42/2017/QH14 có hiệu lực, kết quả xử lý nợ xấu của ngành ngân hàng đã đạt được những kết quả đáng khích lệ.

Trước khi có Nghị quyết số 42, nợ xấu của toàn hệ thống chủ yếu được xử lý bằng dự phòng rủi ro, các biện pháp xử lý nợ xấu thông qua xử lý tài sản bảo đảm và khách hàng tự trả nợ còn chưa cao.

Tuy nhiên, kể từ khi Nghị quyết số 42 có hiệu lực đến nay, tỷ trọng nợ xấu xử lý bằng hình thức khách hàng tự trả nợ/tổng nợ xấu nội bảng theo Nghị quyết số 42 đã xử lý cao hơn nhiều.

Phát biểu tại cuộc họp, Phó Thống đốc NHNN Nguyễn Kim Anh ghi nhận sự nỗ lực, cố gắng của các TCTD đối với công tác xử lý nợ xấu nói chung và xử lý nợ xấu theo Nghị quyết số 42 nói riêng thời gian vừa qua.

Theo Phó Thống đốc, mặc dù công tác cơ cấu lại hệ thống các TCTD gắn với xử lý nợ xấu nói chung và xử lý nợ xấu theo Nghị quyết số 42 nói riêng thời gian qua đã đạt được kết quả đáng khích lệ, tuy nhiên, vẫn còn tồn tại những khó khăn, vướng mắc, đòi hỏi sự chung sức, nỗ lực của toàn hệ thống chính trị, đặc biệt là sự phối hợp của các Bộ, ngành, địa phương.

Để đảm bảo công tác xử lý nợ xấu theo Nghị quyết số 42 được triển khai có hiệu quả trên thực tế, các khó khăn, vướng mắc về cơ bản sẽ được xử lý, các TCTD và VAMC cũng đề xuất một số giải pháp, kiến nghị với Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Tại cuộc họp, đại diện Vụ Pháp chế, Cơ quan Thanh tra giám sát ngân hàng cũng giải đáp và tiếp thu đối với các khó khăn, vướng mắc và đề xuất của các TCTD, VAMC đưa ra tại cuộc họp.

Đối với các khó khăn, vướng mắc, đề xuất của TCTD chưa hợp lý và các khó khăn, vướng mắc của TCTD đã được NHNN, các Bộ, ngành xử lý, Vụ Pháp chế, Cơ quan Thanh tra giám sát ngân hàng và VAMC sẽ cùng trao đổi cung cấp thêm thông tin cho TCTD về vấn đề này.

Phó Thống đốc yêu cầu các TCTD rà soát nội dung báo cáo, để có đề xuất, kiến nghị phù hợp nhằm phối hợp, đồng hành với NHNN tiếp tục triển khai có hiệu quả xử lý nợ xấu theo Nghị quyết số 42 trong thời gian tới, đồng thời bày tỏ tin tưởng, cùng với sự nỗ lực, quyết liệt của cả hệ thống, ngành Ngân hàng sẽ đạt được mục tiêu về xử lý nợ xấu nhằm góp phần giữ vững sự phát triển ổn định, an toàn, bền vững của hệ thống ngân hàng.

Đẩy Mạnh Tuyên Truyền Triển Khai Nghị Quyết Số 42 Nq

Cơ Quan Nào Kê Khai, Chi Trả Hỗ Trợ Các Đối Tượng Của Nghị Quyết 42/nq

Rà Soát Nhóm Lao Động Tự Do Theo Nghị Quyết Số 42/nq

Dự Thảo Hướng Dẫn Nghị Quyết 42

Điều Kiện, Thủ Tục Để Người Dân Được Nhận Tiền Hỗ Trợ Theo Nghị Quyết 42 (Dự Kiến)

Thu Giữ Tài Sản Bảo Đảm Theo Nghị Quyết 42/2017: Còn Không Ít Vướng Mắc

Thông Báo Kết Quả Kỳ Họp Thứ 9, Hđnd Tỉnh Quảng Nam Khóa Ix, Nhiệm Kỳ 2022

Nghị Quyết An Sinh Xã Hội

Hướng Dẫn Thủ Tục Xin Trợ Cấp Khó Khăn Do Covid

Bộ Trưởng Đào Ngọc Dung Báo Cáo Về Việc Triển Khai Gói Hỗ Trợ An Sinh Xã Hội Tại Phiên Họp Chính Phủ Thường Kỳ

Thủ Tướng Ký Nghị Quyết Thông Qua Gói An Sinh Xã Hội 62.000 Tỷ Đồng

Thu giữ tài sản bảo đảm theo Nghị quyết 42/2017: Còn không ít vướng mắc

Nguyễn Văn Minh

(TBKTSG) – Sau khi Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21-6-2017 về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng (Nghị quyết 42) được Quốc hội ban hành đến nay, tình hình xử lý nợ xấu, đặc biệt trong vấn đề thu giữ tài sản bảo đảm (TSBĐ) của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (gọi chung là tổ chức tín dụng – TCTD) đang chuyển biến khá tích cực. Tuy nhiên, bản thân nghị quyết này cũng đã phát sinh một vài vướng mắc cần được xem xét làm rõ hơn.

Khoản nợ xấu nào được áp dụng Nghị Quyết 42 để xử lý?

Theo quy định tại khoản 1 điều 4 của Nghị Quyết 42, phạm vi điều chỉnh khoản nợ xấu chỉ bao gồm: (i) khoản nợ được hình thành và xác định là nợ xấu trước ngày 15-08-2017 hoặc (ii) khoản nợ được hình thành trước ngày 15-8-2017 và được xác định là nợ xấu trong thời gian nghị quyết này có hiệu lực thi hành(1).

Tuy nhiên, quy định pháp luật hiện hành là Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 ngày 24-11-2015 (BLDS 2022) dường như đã không công nhận quyền thu giữ TSBĐ của các TCTD một cách chính thức.

Có thể thấy, đây đang là một điểm khiến cho các TCTD khá bối rối và cần được hướng dẫn làm rõ từ cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Thu giữ TSBĐ đối với trường hợp nhận thế chấp bằng quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai

Hiện nay, hình thức cho vay để mua và thế chấp bằng chính tài sản mua đối với tài sản là nhà ở hình thành trong tương lai khá phổ biến. Trong trường hợp này, một số TCTD nhận thế chấp bằng hình thức thế chấp tài sản hình thành trong tương lai, tuy nhiên, không ít TCTD nhận thế chấp bằng hình thức thế chấp quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai (thế chấp quyền tài sản).

Câu hỏi đặt ra là các TCTD có được quyền áp dụng hình thức thu giữ đối với tài sản là nhà ở hình thành trong tương lai khi nhận thế chấp quyền tài sản không? E rằng câu trả lời là không, bởi lẽ TSBĐ ở trường hợp này không phải là nhà ở hình thành trong tương lai mà là quyền tài sản. Trong khi đó, quyền tài sản một loại tài sản vô hình, rất khó để áp dụng biện pháp thu giữ, cũng như chúng ta vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể nào về trường hợp thu giữ này để thực hiện.

Do đó, theo chúng tôi, để các TCTD được quyền áp dụng biện pháp thu giữ thì TSBĐ phải được chuyển từ “tài sản vô hình” thành “tài sản hữu hình”. Cụ thể, chúng ta có thể tham khảo hai hình thức sau: (i) đăng ký thế chấp chuyển tiếp từ hình thức thế chấp quyền tài sản thành hình thức thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai hoặc thế chấp tài sản; hoặc (ii) ký lại hợp đồng thế chấp và đăng ký thế chấp mới theo quy định.

Việc đăng ký thế chấp chuyển tiếp được quy định khá rõ tại Thông tư liên tịch số 09/2016/TTLT-BTP-BTNMT ngày 23-6-2016. Tuy nhiên, thực tế hiện nay đơn vị có thẩm quyền tiếp nhận đăng ký thế chấp chuyển tiếp là các văn phòng đăng ký đất đai hoặc phòng tài nguyên và môi trường ở một số nơi từ chối yêu cầu này với lý do việc đăng ký thế chấp quyền tài sản ban đầu của các bên được thực hiện tại Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm. Trong khi đó, giữa hai cơ quan này không có hệ thống thông tin liên kết với nhau nên không thể xác thực được nội dung đăng ký thế chấp ban đầu mặc dù các bên có xuất trình bản chính giấy chứng nhận đăng ký thế chấp quyền tài sản.

Như vậy, các bên buộc phải thực hiện thủ tục ký lại hợp đồng thế chấp và đăng ký thế chấp mới. Tuy nhiên, thủ tục này có hai rủi ro lớn: (i) thời điểm có hiệu lực của đăng ký biện pháp bảo đảm bị thay đổi(2), có thể gây ảnh hưởng đến quyền ưu tiên của TCTD nếu xảy ra tranh chấp với bên thứ ba; (ii) bên thế chấp không hợp tác ký lại hợp đồng thế chấp.

Từ phân tích trên có thể thấy việc thu giữ TSBĐ đối với trường hợp nhận thế chấp quyền tài sản đang là vấn đề nan giải của các TCTD, cần được cơ quan nhà nước có thẩm quyền, đặc biệt là Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Tư pháp có hướng dẫn nhất quán.

Tại khoản 2 điều 7 của Nghị quyết 42 đặt ra năm điều kiện thu giữ TSBĐ cần phải được đáp ứng đầy đủ, trong đó có hai điều kiện mà chúng tôi muốn phân tích rõ hơn.

Thứ nhất, tại hợp đồng bảo đảm phải có thỏa thuận về việc bên bảo đảm đồng ý cho TCTD có quyền thu giữ TSBĐ của khoản nợ xấu khi xảy ra trường hợp xử lý TSBĐ theo quy định của pháp luật. Đây là điều kiện đang gây khó khăn cho một số TCTD, bởi lẽ hiện nay không phải tất cả các hợp đồng bảo đảm của các TCTD đều có điều khoản ghi nhận quyền thu giữ TSBĐ, trong khi đó một số văn bản quy phạm pháp luật trước đây quy định quyền thu giữ là một quyền pháp định của các TCTD mà không nhất thiết phải được thỏa thuận trong hợp đồng bảo đảm.

Do đó, theo chúng tôi, nếu muốn áp dụng thủ tục thu giữ TSBĐ, các TCTD cần phải thực hiện ký bổ sung thỏa thuận về thu giữ TSBĐ với bên bảo đảm, tuy nhiên, việc này không hề dễ dàng khi khoản vay đang bị quá hạn và bên bảo đảm thường không hợp tác với TCTD.

Thứ hai, TSBĐ không phải là tài sản tranh chấp trong vụ án đã được thụ lý nhưng chưa được giải quyết hoặc đang được giải quyết tại tòa án có thẩm quyền; không đang bị tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; không đang bị kê biên hoặc áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án theo quy định của pháp luật. Liên kết điều kiện này với điều 11 của Nghị quyết 42, chúng ta có thể nhận thấy một điểm vướng mắc như sau: điều 11 quy định TSBĐ của khoản nợ xấu không bị kê biên theo quy định tại điều 90 của Luật Thi hành án dân sự (THADS), do đó, bên thứ ba (người được thi hành án) trong quan hệ nêu trên vẫn có quyền yêu cầu cơ quan THADS áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án theo quy định tại điều 66 của Luật THADS.

Như vậy, trường hợp này các TCTD sẽ không được quyền tiến hành thu giữ TSBĐ của bên bảo đảm (người phải thi hành án) và bên thứ ba (người được thi hành án) cũng không được yêu cầu cơ quan THADS tiếp tục kê biên, xử lý tài sản theo quy định. Hệ quả là TCTD buộc lòng phải đưa vụ việc ra cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp, gây bất lợi về thời gian và chi phí xử lý.

TCTD không được ủy quyền cho bên thứ ba thực hiện thu giữ TSBĐ

Tại khoản 6 điều 7 của Nghị quyết 42 quy định ngoài công ty quản lý nợ và khai thác tài sản thuộc TCTD, TCTD không được ủy quyền cho một đơn vị thứ ba để thực hiện thu giữ TSBĐ. Tuy nhiên, có một điểm chưa thật sự rõ ràng trong quy định này, đó là, chúng ta có thể hiểu như thế nào là ủy quyền thu giữ TSBĐ?

Bởi thu giữ TSBĐ là một quá trình dài với nhiều bước khác nhau, trong đó có một vài bước bổ trợ cho việc thu giữ mà các TCTD hiện nay thường thực hiện như: thuê Văn phòng Thừa phát lại lập vi bằng về việc thu giữ, thuê công ty bảo vệ thực hiện bảo vệ TSBĐ sau khi thu giữ thành công… thì có được xem là ủy quyền thu giữ hay không?

TCTD được quyền áp dụng biện pháp nào khi thực hiện thu giữ TSBĐ?

(1) Nghị quyết này có hiệu lực thi hành trong thời hạn năm năm kể từ ngày 15-8-2017 (khoản 1 điều 19 của Nghị quyết 42).

Quyền Thu Giữ Tài Sản Bảo Đảm Là Nợ Xấu Được Quy Định Như Thế Nào?

Có Nghị Quyết 42 Vẫn Khó Thu Giữ Tài Sản Đảm Bảo”

Kết Luận Của Chủ Tịch Ubnd Tỉnh Về Triển Khai Thực Hiện Nghị Quyết 42/nq

Hướng Dẫn Triển Khai Thực Hiện Hỗ Trợ Theo Nq 42/nq

Các Nghị Quyết Của Hội Đồng Thẩm Phán Tòa Án Nhân Dân Tối Cao,về Hình Sự ,dân Sự

11 Khó Khăn, Vướng Mắc Trong Quá Trình Xử Lý Nợ Xấu Theo Nghị Quyết 42

Những Điểm Nhấn Của Nghị Quyết 42/2017/qh14 Về Xử Lý Nợ Xấu Của Tổ Chức Tín Dụng

Chính Sách Mới Xử Lý Nợ Xấu Của Các Tổ Chức Tín Dụng

Nghị Quyết 42 Ngày 9/4/2020

Hôm Nay, Nghị Quyết 42 Về Xử Lý Nợ Xấu Chính Thức Có Hiệu Lực

Vamc: Thu Hồi Nợ Tăng 1,5 Lần Từ Khi Có Nghị Quyết 42

Trong báo cáo gửi tới Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIV về “Kết quả 3 năm thực hiện Nghị quyết số 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng”, Chính phủ cho biết, từ ngày 15/8/2017 đến ngày 31/5/2020, sau 3 năm đi vào thực tiễn, các giải pháp nêu tại Nghị quyết số 42 đã tạo ra những chuyển biến tích cực trong công tác xử lý nợ xấu và góp phần không nhỏ vào kết quả công tác cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2022-2020, thể hiện định hướng, chính sách đúng đắn của Đảng, Quốc hội, Chính phủ tạo niềm tin đối với hệ thống các TCTD nói riêng và toàn bộ xã hội nói chung đối với công tác xử lý nợ xấu trong nền kinh tế.

Xử lý nợ xấu còn nhiều trở ngại

Tính từ cuối năm 2022 đến ngày 31/5/2020, toàn hệ thống các TCTD đã xử lý được 361,2 nghìn tỷ đồng nợ xấu. Trong đó, lũy kế từ ngày 15/8/2017 đến 31/5/2020, toàn hệ thống các TCTD đã xử lý được 293,88 nghìn tỷ đồng nợ xấu xác định theo Nghị quyết số 42, đạt trung bình khoảng 7,15 nghìn tỷ đồng/tháng, cao hơn 3,63 nghìn tỷ đồng/tháng so với kết quả xử lý nợ xấu nội bảng trung bình tháng từ năm 2012 – 2022 (giai đoạn trước khi Nghị quyết số 42 có hiệu lực). Kết quả đạt được là rất tích cực nhưng những khó khăn, vướng mắc đang ảnh hưởng rất lớn đến tiến độ xử lý nợ xấu của các TCTD.

Kết quả xử lý nợ xấu xác định theo Nghị quyết số 42 bằng hình thức khách hàng trả nợ tăng mạnh, phản ánh ý thức trả nợ của khách hàng đã cải thiện. Khách hàng chủ động và hợp tác hơn trong việc trả nợ TCTD, hạn chế tình trạng chủ tài sản cố ý chây ỳ, chống đối nhằm kéo dài thời gian xử lý. Đây là dấu hiệu tích cực cho thấy Nghị quyết số 42 đã và đang phát huy hiệu quả, góp phần tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc và đẩy mạnh công tác xử lý nợ xấu của hệ thống các TCTD.

Qua tổng hợp của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) cho thấy còn 11 khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai Nghị quyết số 42, cụ thể:

Thứ hai, về bán nợ xấu và TSBĐ theo giá trị thị trường, phát triển thị trường mua bán nợ (Điều 5 Nghị quyết số 42) vẫn còn gặp một số khó khăn như: Việc mua bán nợ xấu chủ yếu diễn ra giữa TCTD và 2 đơn vị mua nợ chính là VAMC và DATC; thiếu thị trường thứ cấp và phái sinh đối với các khoản nợ; việc thẩm định giá khoản nợ đang được các tổ chức thẩm định giá áp dụng theo Hệ thống Tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam (được áp dụng chung cho thẩm định giá các loại tài sản) nên khi định giá các khoản nợ đôi khi việc vận dụng của các tổ chức thẩm định giá là khác nhau, gây khó khăn cho các bên trong việc lựa chọn mức giá tham khảo làm cơ sở xác định mức giá khởi điểm trong giao dịch mua bán nợ.

Thứ tư, về quyền thu giữ TSBĐ (Điều 7 Nghị quyết số 42). Trên thực tế, việc thu giữ TSBĐ hiện nay vẫn phụ thuộc khá nhiều vào thiện chí của bên vay (đặc biệt trong trường hợp khách hàng không hợp tác, cố ý chây ỳ trong việc bàn giao TSBĐ). Đồng thời, sự phối hợp của các cơ quan hữu quan tại địa phương trong một số trường hợp chưa kịp thời (như xác minh thông tin khách hàng, hỗ trợ thu giữ TSBĐ)… cũng làm ảnh hưởng đến công tác xử lý thu hồi nợ xấu…

Thứ bảy, về điều kiện chuyển nhượng TSBĐ là dự án bất động sản (Điều 10 Nghị quyết số 42). Báo cáo cho biết, việc chuyển nhượng các dự án chưa có Giấy chứng nhận vẫn gặp phải khó khăn khi tiến hành các thủ tục chuyển nhượng dự án tại các cơ quan có thẩm quyền.

Thứ tám, về việc thực hiện thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý TSBĐ và việc nộp thuế khi chuyển nhượng TSBĐ (Điều 12, Nghị quyết số 42). Trong quá trình triển khai thực hiện, NHNN tiếp tục nhận được kiến nghị của các TCTD phản ánh về việc phải nộp các khoản thuế trước khi thực hiện nghĩa vụ ưu tiên thanh toán cho bên nhận bảo đảm là TCTD đã làm giảm số tiền thu hồi nợ của TCTD, nhiều trường hợp số tiền bán TSBĐ không đủ thu hồi nợ cho TCTD nhưng vẫn phải nộp thuế, gây khó khăn cho cả bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm, ảnh hưởng lớn đến quyền lợi chủ nợ có bảo đảm của TCTD…

Thứ mười, về công tác phối hợp trong hoạt động thi hành án dân sự. Dù đã có Quy chế phối hợp giữa NHNN và Bộ Tư pháp về hoạt động thi hành án dân sự, tuy nhiên, tại một số địa phương do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau, hoạt động thi hành án ngân hàng còn chưa thật sự hiệu quả, nhiều vụ việc kéo dài… phát sinh nhiều chi phí cho đơn vị xử lý nợ.

Mười một, về việc giới hạn phạm vi lựa chọn tổ chức thẩm định giá. Báo cáo cho biết, việc giới hạn tổ chức thẩm định giá phải nằm trên địa bàn tỉnh, thành phố đã làm hạn chế cơ hội lựa chọn được tổ chức định giá có đủ uy tín, năng lực để thực hiện định giá tài sản. Nhiều địa phương còn thiếu tổ chức thẩm định giá hoặc năng lực của tổ chức thẩm định giá còn yếu, dẫn đến chất lượng thẩm định giá chưa cao. Thậm chí có khả năng xảy ra tình trạng thiếu minh bạch, câu kết giữa chấp hành viên – thẩm định giá viên – đấu giá viên…

Gỡ vướng bằng nhiều giải pháp đồng bộ

Với những khó khăn, vướng mắc như trên, để đảm bảo công tác xử lý nợ xấu theo Nghị quyết số 42 được triển khai có hiệu quả trên thực tế, các TCTD phấn đấu đạt mục tiêu về tỷ lệ nợ xấu theo Quyết định số 1058 đến cuối năm 2022, Chính phủ cho biết, sẽ tiếp tục chỉ đạo các bộ, ngành, UBND các tỉnh, thành phố, các giải pháp sau:

Thứ nhất, ban hành các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn cụ thể nhằm hỗ trợ các TCTD triển khai có hiệu quả Nghị quyết số 42 và chỉ đạo các cấp hỗ trợ tối đa cho các TCTD trong quá trình xử lý TSBĐ, thu hồi nợ;

Thứ ba, đẩy mạnh hơn nữa quá trình phân loại, sắp xếp các doanh nghiệp, trọng tâm là các doanh nghiệp nhà nước, thực hiện tái cơ cấu, nâng cao năng lực tài chính, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, tạo điều kiện để hệ thống các TCTD xử lý nợ xấu, lành mạnh hóa tài chính. Các bộ chủ quản chỉ đạo các Tập đoàn, Tổng công ty, đơn vị thành viên thực hiện nghĩa vụ trả nợ/nghĩa vụ bảo lãnh đối với các khoản vay tại các TCTD mà các đơn vị đứng ra bảo lãnh cho các công ty con, công ty thành viên;

Thứ năm, trên cơ sở thực tế áp dụng chính sách tại Nghị quyết số 42 và kết quả tổng kết, đánh giá việc thực hiện Quyết định số 1058 đến cuối năm 2022, NHNN nghiên cứu xây dựng trình Chính phủ Đề án cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn 2022-2025 nhằm tiếp tục hỗ trợ các TCTD trong việc xử lý hiệu quả nợ xấu, góp phần thực hiện thành công các mục tiêu về cơ cấu lại hệ thống các TCTD và chiến lược phát triển ngành Ngân hàng trong giai đoạn tiếp theo.

Cuối cùng, rà soát các chính sách về tín dụng, có các giải pháp nhằm hạn chế nợ xấu gia tăng (theo Thông báo số 3616/TB-TTKQH về kết luận của Ủy ban Thường vụ Quốc hội tại phiên họp thứ 45 tháng 5/2020 đợt 2).

Cùng với các giải pháp trên, Chính phủ kiến nghị và đề xuất với Quốc hội 3 giải pháp, gồm:

Thứ hai, về thực hiện nhiệm vụ giám sát. Chính phủ kiến nghị Quốc hội tiếp tục: Thực hiện quyền giám sát tối cao đối với quá trình triển khai, thực hiện Nghị quyết số 42 của Chính phủ, các địa phương, các cấp, các ngành và các tổ chức xã hội; (ii) Chỉ đạo các Đoàn Đại biểu Quốc hội tăng cường hoạt động giám sát việc thực hiện Nghị quyết số 42 tại địa phương.

Kiến Nghị Vướng Mắc Nghị Quyết 42

Tiếp Tục Xử Lý Nợ Xấu Theo Nghị Quyết 42

Quy Định Của Pháp Luật Hiện Hành Về Xử Lý Tài Sản Thế Chấp

Xử Lý Tài Sản Bảo Đảm Theo Nghị Quyết Về Xử Lý Nợ Xấu: Vẫn Còn Những Điểm Trừ

Xử Lý Tài Sản Bảo Đảm Theo Nghị Quyết 42: Ách Tắc Khâu Kê Khai Thuế Và Nộp Thuế

Những Vướng Mắc Trong Xử Lý Nợ Xấu Theo Nghị Quyết 42 Và Đề Xuất Tháo Gỡ

Sơ Kết 2 Năm Triển Khai Nghị Quyết 42 Về Xử Lý Nợ Xấu Và Quyết Định 1058 Về Cơ Cấu Lại Các Tctd

Nghị Quyết 42 Góp Phần Không Nhỏ Vào Kết Quả Xử Lý Nợ Xấu

Triển Khai Nghị Quyết 42: Ngân Hàng ‘mạnh Dạn’ Xử Lý Nợ Xấu

Xử Lý Nợ Xấu Theo Nghị Quyết 42 Còn Vướng Ở Đâu?

Xử Lý Nợ Xấu Theo Nghị Quyết 42/2017/qh14: Tắc Thu Hồi Tài Sản Đảm Bảo, Tái Xuất Tâm Lý Chây Ỳ

Thứ ba, một số kết quả cụ thể đã đạt được. Một là, cách thức quản lý, theo dõi, đánh giá nợ xấu có bước tiến rõ nét làm động lực thúc đẩy xử lý nợ xấu theo hướng chủ động và thực chất hơn. Theo đó, tại Đề án 1058 về “Cơ cấu lại hệ thống các TCTD gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2022-2020”, mục tiêu đưa tỷ lệ nợ xấu gộp (gồm nợ xấu nội bảng, nợ bán cho VAMC chưa được xử lý và nợ xấu tiềm ẩn) về mức 3% đến năm 2022 đã được đưa ra thay cho chỉ tiêu tỷ lệ nợ xấu thường thấy trước đây.

Một số vướng mắc cần tiếp tục tháo gỡ

Việc đưa ra mục tiêu tỷ lệ nợ xấu gộp đã giúp cho công tác quản lý nợ xấu tại các cơ quan quản lý cũng như TCTD đi vào thực chất hơn, tạo động lực và cả áp lực đối với hệ thống các TCTD tích cực, chủ động hơn trong xử lý nợ xấu. Tính đến hết năm 2022, tỷ lệ nợ xấu nội bảng của các TCTD đã giảm xuống mức 1,89% (so với mức 1,99% cuối năm 2022 và 2,46% cuối năm 2022) và tỷ lệ nợ xấu gộp khoảng 6,67% tổng dư nợ, giảm mạnh so với mức 10,08% vào cuối năm 2022 và 7,36% cuối năm 2022. Trong đó, kết quả xử lý nợ xấu của VAMC cũng khá khả quan; tính đến hết tháng 8/2018, VAMC đã thu hồi gần 100.000 tỷ đồng trên 227.000 tỷ đồng nợ gốc đã mua. Đặc biệt là tác động của NQ 42 tương đối rõ nét. Theo số liệu mới nhất từ NHNN, tính từ giữa năm 2012 đến hết tháng 6/2018, toàn hệ thống đã xử lý được 785.930 tỷ đồng nợ xấu, riêng sau hơn một năm thực hiện Nghị quyết 42, toàn hệ thống đã xử lý được 138.290 tỷ đồng (tương đương tỷ lệ 17,5% của cả 6 năm qua); trong đó các TCTD đã xử lý được 58.800 tỷ đồng.

Với những bước tiến trong công tác xử lý nợ xấu thời gian qua, mục tiêu giảm tỷ lệ nợ xấu gộp về 3% đến cuối năm 2022 là khả thi.

Những kết quả xử lý nợ xấu thời gian qua là rất tích cực, nhưng vẫn còn một số vướng mắc cần tiếp tục tháo gỡ để Nghị quyết 42 phát huy hiệu quả cao hơn. Những vướng mắc đó tập trung vào 3 nhóm chính.

Thứ ba, vướng mắc trong thủ tục sang tên cho người mua TSBĐ. Theo quy định tại Nghị quyết 42, “Số tiền thu được từ xử lý TSBĐ của khoản nợ xấu, sau khi trừ chi phí bảo quản, thu giữ và chi phí xử lý TSBĐ được ưu tiên thanh toán cho nghĩa vụ nợ được bảo đảm cho TCTD… trước khi thực hiện nghĩa vụ thuế, nghĩa vụ khác không có bảo đảm…”. Tuy nhiên, thực tế triển khai lại không hề đơn giản. Khi chưa nộp đủ các loại thuế như thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế khác của người phải thi hành án… thì cơ quan thuế sẽ không chuyển thông báo nộp thuế cho Văn phòng Đăng ký đất đai. Hệ quả là TCTD không thực hiện được thủ tục sang tên cho người mua TSBĐ.

Thứ tư, vướng mắc trong chuyển nhượng dự án bất động sản. Việc xử lý tài sản bảo đảm là dự án bất động sản theo Điều 10 Nghị quyết 42 gặp vướng mắc do ngoài việc tuân thủ theo quy định của pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm, TCTD và bên nhận chuyển nhượng còn phải tuân thủ theo quy định của pháp luật về đầu tư. Điều này dẫn đến thực trạng là sau khi TCTD đưa tài sản bảo đảm là dự án bất động sản ra bán đấu giá công khai và xác định được người trúng đấu giá, nhưng lại không thực hiện được thủ tục đăng ký cấp Giấy chứng nhận đầu tư cho người nhận chuyển nhượng, với lý do là chưa đáp ứng được tiêu chuẩn, năng lực theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.

Thứ sáu, vướng mắc trong bán đấu giá TSBĐ thi hành án. Theo quy định tại Điều 102 khoản 2 Luật thi hành án dân sự (2014); người mua được tài sản bán đấu giá, Chấp hành viên có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản nếu có căn cứ chứng minh có vi phạm trong quá trình bán đấu giá tài sản. Quy định này đã tước đi hoặc hạn chế quyền của TCTD trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trong trường hợp có vi phạm pháp luật trong quá trình đấu giá tài sản.

Thứ nhất, mua-bán nợ xấu theo giá thị trường còn chậm. Theo quy định tại Khoản 3 Điều 6 (Nghị quyết 42), tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu được mua khoản nợ xấu với giá bằng giá trị định giá của tổ chức định giá độc lập; sau đó xử lý, thu hồi nợ và phân chia với TCTD số tiền chênh lệch giữa số tiền thu nợ được và giá mua nợ. Tuy nhiên, thực tế triển khai còn rất khó khăn, trong đó nguyên nhân một phần là do VAMC chưa được cấp đủ vốn; một phần nữa là VAMC chưa mạnh dạn thúc đẩy phương thức mua nợ này do cơ sở pháp lý bảo vệ cán bộ trong xử lý nợ xấu chưa có tiền lệ; trong khi đó theo quy định đây là phương thức mua-bán nợ duy nhất mà VAMC được phép thực hiện, điều này làm cho hoạt động mua-bán nợ còn chậm.

Thứ ba, thời gian giải quyết vụ án thường kéo dài. Theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, thời hạn chuẩn bị xét xử của một vụ án dân sự là từ 4-6 tháng, tuy nhiên thực tế thì quá trình giải quyết tại Tòa án thường mất rất nhiều thời gian, chi phí. Nhiều vụ việc Tòa án đã nhận được Đơn khởi kiện hợp lệ nhưng không có thông báo hay phản hồi cho các TCTD. Ngoài ra, việc cơ quan Tòa Án, Thi hành án thường không nhận đơn từ thời gian tháng 6 đến tháng 9 do thời điểm 30/9 hàng năm là lúc tổng kết số án tồn của các đơn vị. Thực tế này khiến TCTD phải thêm thời gian chờ đợi khi khởi kiện và thi hành án.

Thứ tư, thứ tự ưu tiên xử lý trong vụ việc có nhiều tài sản thi hành án được hiểu và áp dụng khác nhau. Về nguyên tắc, các hợp đồng bảo đảm có hiệu lực pháp lý như nhau khi phải xử lý để thực hiện nghĩa vụ của các bên. Do đó, các TSBĐ cho nghĩa vụ của người phải thi hành án cần được xử lý đồng thời khi người được thi hành án yêu cầu. Tuy nhiên, một số cơ quan thi hành án có quan điểm phải xử lý xong tài sản của khách hàng vay rồi mới tiến hành xử lý tài sản thi hành án của bên thứ ba hoặc có văn bản đề nghị Tòa án xác định thứ tự xử lý tài sản trong bản án. Cách làm này khiến quá trình thi hành án và xử lý nợ xấu bị kéo dài.

Thứ năm, việc thực hiện theo phán quyết của Tòa án còn chậm do cách hiểu khác nhau. Vẫn còn trường hợp quan điểm của Cơ quan Thi hành án theo hướng chỉ thụ lý và tổ chức thi hành phần bên vay phải trả nợ, mà không thi hành cả phần xử lý tài sản thế chấp, do không đúng nội dung của Bản án đã được Toà án tuyên bố trước – đó là TCTD được quyền phát mại để thu hồi nợ nếu khách hàng không thực hiện nghĩa vụ. Cách hiểu khác nhau này khiến việc thi hành án đối với nợ xấu chậm và không nhất quán.

Lời kết

Thứ tư, thiếu thị trường thứ cấp và phái sinh đối với các khoản nợ. Sau khi mua các khoản nợ, bên mua nợ phải thực hiện quản lý các khoản nợ đó, trong đó có quản lý, khai thác và vận hành tài sản bảo đảm cũng như rủi ro thanh khoản của các tài sản này. Trường hợp bên mua nợ muốn bán, chuyển nhượng hoặc ủy thác quản lý các khoản nợ này đều rất khó khan vì chưa có thị trường thứ cấp. Tương tự, các hoạt động phái sinh như nghiệp vụ chứng khoán hóa tài sản, chứng khoán hóa nợ thường và nợ xấu …đều chưa có, dẫn đến thanh khoản của các khoản nợ rất thấp, làm giảm mức độ hấp dẫn, tăng chi phí quản lý, chi phí chuyển nhượng đối với các khoản nợ đã mua.

Những vướng mắc nêu trên chỉ những vấn đề nổi cộm nhất trong quá trình xử lý nợ xấu của các TCTD nói chung và triển khai Nghị quyết 42 nói riêng. Theo đó, để quá trình xử lý nợ xấu và thực hiện Nghị quyết 42 mang lại hiệu quả cao hơn, đáp ứng yêu cầu đề ra, chính quyền địa phương và các cơ quan quản lý cần nhanh chóng, chủ động, tích cực tháo gỡ các vướng mắc nêu trên. Đồng thời, cần nghiêm túc thực hiện đánh giá kết quả thực hiện giữa kỳ vào thời điểm cuối năm 2022. Hy vọng, Nghị quyết 42 sẽ thực sự đi vào cuộc sống và tạo tiền đề hình thành hành lang pháp lý xử lý nợ xấu lâu dài tại Việt Nam.

Mở Rộng Thêm Đối Tượng Không Phải Nộp Và Được Miễn, Giảm Tiền Tạm Ứng Án Phí, Án Phí, Lệ Phí Tòa Án Theo Nghị Quyết 326 Của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội.

Cập Nhật Cách Tính Án Phí Dân Sự Sơ Thẩm 2022 Theo Nghị Quyết Số 326

Nghị Quyết Số: 326/2016/ubtvqh14 : Án Phí, Lệ Phí Tòa Án

Nghị Quyết Số 326/2016/ubtvqh14 Quy Định Về Mức Thu, Miễn, Giảm, Thu, Nộp, Quản Lý Và Sử Dụng Án Phí Và Lệ Phí Tòa Án

Nghị Quyết 326/2016/ubtvqh14 Về Miễn, Giảm, Thu Nộp Án Phí

Những Vướng Mắc Khi Áp Dụng Nghị Quyết 1037/2006/nq

Hướng Dẫn Thi Hành Nghị Quyết 1037

Vấn Đề Thực Hiện Thông Báo Đòi Nhà Theo Nghị Quyết 1037/2006/nq

Sáp Nhập Huyện, Xã: Lãnh Đạo Dôi Dư “rời Ghế” Cũng Là Sự Hy Sinh

Nghị Quyết 1210/2016/ubtvqh13 Phân Loại Đô Thị

Nghị Quyết 134/2016/qh13 Điều Chỉnh Quy Hoạch Sử Dụng Đất Đến Năm 2022

Ngày 27/7/2006, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết 1037/2006/ NQ-UBTVQH11 quy định về giao dịch dân sự về nhà ở xác lập trước 01/07/1991 có người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia.

Sự kiện này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với những người tham gia giao dịch có yếu tố nước ngoài mà phát sinh tranh chấp, quyền và lợi ích hợp pháp của họ bị xâm phạm, bởi vì trước đây họ là những chủ thể chưa được cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết do Nghị quyết 58/1998/NQ-UBTVQH10 ngày 24-08-1998 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định. Đến nay họ đã có quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi cho mình..

Những quy định của Nghị quyết 1037/2006/NQ-UBTVQH11 là cơ sở pháp lý nhằm giải quyết các vướng mắc trong giao dịch dân sự về nhà ở xác lập trước ngày 1-7-1991 có yếu tố nước ngoài còn tồn đọng cho đến nay.

Nghiên cứu Nghị quyết 1037/2006/NQ-UBTVQH! thì thấy các giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 1-7-1991 có yếu tố nước ngoài được NQ điều chỉnh có 2 nội dung giao dịchthực tế phát sinh tranh chấp nhiều nhất là mượn nhà ở, ở nhờ nhà ở và mua bán nhà ở.

Đối với nội dung mượn nhà ở, ở nhờ nhà ở, Nghị quyết 1037 quy định về thời hạn, cách thức, hình thức thay đổi, chấm dứt giao dịch các trường hợp cụ thể như sau:

Với trường hợp bên cho mượn, bên cho ở nhờ nhà ở là người Việt Nam định cư ở nước ngoài; bên mượn, bên ở nhờ nhà ở thường trú tại Việt Nam .

Trường hợp thời hạn cho mượn, cho ở nhờ nhà ở theo hợp đồng đã hết trước ngày Nghị quyết này có hiệu lực thì bên cho mượn, bên cho ở nhờ nhà ở được lấy lại nhà ở, trừ trường hợp có thoả thuận khác nhưng phải thông báo bằng văn bản cho bên mượn, bên ở nhờ nhà ở biết trước ít nhất sáu tháng.

Trường hợp đến ngày Nghị quyết này có hiệu lực mà thời hạn cho mượn, cho ở nhờ nhà ở theo hợp đồng vẫn còn thì bên cho mượn, bên cho ở nhờ nhà ở được lấy lại nhà ở kể từ ngày hết thời hạn cho mượn, cho ở nhờ, trừ trường hợp có thoả thuận khác nhưng phải thông báo bằng văn bản cho bên mượn, bên ở nhờ nhà ở biết trước ít nhất sáu tháng.

Trường hợp thời hạn cho mượn, cho ở nhờ nhà ở không được xác định trong hợp đồng thì bên cho mượn, bên cho ở nhờ nhà ở được lấy lại nhà ở, trừ trường hợp có thoả thuận khác nhưng phải thông báo bằng văn bản cho bên mượn, bên ở nhờ nhà ở biết trước ít nhất sáu tháng; trong trường hợp bên mượn, bên ở nhờ nhà ở không có chỗ ở khác hoặc không có điều kiện tạo lập chỗ ở khác thì các bên thoả thuận việc tiếp tục cho mượn, cho ở nhờ nhà ở; nếu thoả thuận được thì các bên phải ký kết hợp đồng mượn nhà ở theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005; nếu không thoả thuận được thì bên cho mượn, bên cho ở nhờ nhà ở được lấy lại nhà ở nhưng phải thông báo bằng văn bản cho bên mượn, bên ở nhờ nhà ở biết trước ít nhất hai mươi bốn tháng.

Với trường hợp bên cho mượn bên cho ở nhờ nhà ở thường trú tại Việt Nam, bên mượn, bên ở nhờ nhà ở là người Việt Nam định cư ở nước ngoài, nhưng nhà ở đó đang do người khác thường trú tại Việt Nam sử dụng thì hợp đồng mượn, ở nhờ nhà ở giữa bên cho mượn, bên cho ở nhờ nhà ở và bên mượn, bên ở nhờ nhà ở chấm dứt; bên cho mượn, bên cho ở nhờ nhà ở và người đang sử dụng nhà ở có thể thoả thuận việc tiếp tục cho mượn nhà ở, cho ở nhờ nhà ở; nếu thoả thuận được thì các bên phải ký kết hợp đồng mượn nhà ở theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005; nếu không thoả thuận được thì bên cho mượn, bên cho ở nhờ nhà ở được lấy lại nhà ở nhưng phải thông báo bằng văn bản cho người đang sử dụng nhà ở biết trước ít nhất mười hai tháng.

Với trường hợp bên cho mượn, bên cho ở nhờ nhà ở và bên mượn, bên ở nhờ nhà ở đều là người Việt Nam định cư ở nước ngoài, nhưng nhà ở đó đang do người khác thường trú tại Việt Nam sử dụng thì hợp đồng giữa bên cho mượn, bên cho ở nhờ nhà ở và bên mượn, bên ở nhờ nhà ở chấm dứt. Quan hệ hợp đồng giữa chủ sở hữu là bên cho mượn, bên cho ở nhờ nhà ở và người đang sử dụng nhà ở đó được thực hiện theo quy định tại Điều 10 của Nghị quyết 1037.

Đối với nội dung giao dịch mua bán nhà ở, NQ 1037 phân loại chủ thể tham gia hợp đồng mua bán nhà bao gồm:

Bên mua nhà ở là người Việt Nam định cư ở nước ngoài, bên bán nhà ở thường trú tại Việt Nam và bên bán nhà ở là người Việt Nam định cư ở nước ngoài, bên mua nhà ở thường trú tại Việt Nam hoặc bên mua nhà ở và bên bán nhà ở đều là người Việt Nam định cư ở nước ngoài.

Bên mua nhà ở là người Việt Nam định cư ở nước ngoài, bên bán nhà ở thường trú tại Việt Nam, Nghị quyết 1037 lại phân biệt thành 4 trường hợp:không tranh chấp, có tranh chấp, chưa thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng, hợp đồng có điều kiện như sau:

Trường hợp không có tranh chấp về hợp đồng mua bán nhà ở và thủ tục chuyển quyền sở hữu chưa hoàn tất thì các bên phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu.

Trường hợp có tranh chấp về hợp đồng mua bán nhà ở và thủ tục chuyển quyền sở hữu chưa hoàn tất thì giải quyết như sau:

Nếu bên mua đã trả đủ tiền mà bên bán chưa giao nhà ở thì các bên phải thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng và phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu;

Nếu bên mua chưa trả đủ tiền mà bên bán đã giao nhà thì bên mua phải trả cho bên bán khoản tiền còn thiếu tính theo giá trị của nhà ở đó theo giá thị trường tại thời điểm thanh toán và các bên phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu;

Nếu bên mua chưa trả đủ tiền mà bên bán chưa giao nhà thì bên bán phải giao nhà cho bên mua và bên mua phải trả cho bên bán khoản tiền còn thiếu tính theo giá trị của nhà ở đó theo giá thị trường tại thời điểm thanh toán và các bên phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu.

Trường hợp thủ tục chuyển quyền sở hữu đã hoàn tất nhưng bên bán chưa giao nhà ở hoặc bên mua chưa trả đủ tiền thì các bên phải thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng, trừ trường hợp có thoả thuận khác; nếu bên mua chưa trả đủ tiền thì phải trả cho bên bán khoản tiền còn thiếu tính theo giá trị của nhà ở đó theo giá thị trường tại thời điểm thanh toán.

Trường hợp hợp đồng mua bán nhà ở có điều kiện mà điều kiện đó đã xảy ra hoặc đã được thực hiện thì được giải quyết theo quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 13 Nghị quyết 1037.

– Với bên bán nhà ở là người Việt Nam định cư ở nước ngoài, bên mua nhà ở thường trú tại Việt Nam hoặc bên mua nhà ở và bên bán nhà ở đều là người Việt Nam định cư ở nước ngoài, Nghị quyết tiếp tục phân biệt thành 3 trường hợp không tranh chấp, có tranh chấp, chưa thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng như sau:

Trường hợp không có tranh chấp về hợp đồng mua bán nhà ở và thủ tục chuyển quyền sở hữu chưa hoàn tất thì các bên phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu.

Trường hợp có tranh chấp về hợp đồng mua bán nhà ở và thủ tục chuyển quyền sở hữu chưa hoàn tất thì quyền và nghĩa vụ của các bên được giải quyết như đối với trường hợp vớibên mua nhà ở là người Việt Nam định cư ở nước ngoài, bên bán nhà ở thường trú tại Việt Nam.

Trường hợp thủ tục chuyển quyền sở hữu nhà ở đã hoàn tất nhưng bên bán chưa giao nhà ở hoặc bên mua chưa trả đủ tiền thì quyền và nghĩa vụ của các bên được giải quyết như đối với trường hợp vớibên mua nhà ở là người Việt Nam định cư ở nước ngoài, bên bán nhà ở thường trú tại Việt Nam..

Nghị quyết còn nêu rõ việc giải quyết đối với bên không thực hiện nghĩa vụ trong các trường hợp nếu trên mà có lỗi, gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005.

Nghị quyết 1037 ban hành đã giải quyết được những vướng mắc trong giải quyết tranh chấp về nhà ở có yếu tố nước ngoài. Xuất phát từ những tồn tại trong thực tế các trường hợp giao dịch về nhà ở có yếu tố nước ngoài trước ngày 1 tháng 7 năm 1991, Nghị quyết đã quy định rất chặt chẽ đối với từng trường hợp cụ thể, nhằm giải quyết triệt để những bất cập trong pháp luật trước đây và bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người tham gia giao dịch.. Tuy nhiên những quy định của Nghị quyết vẫn còn những vướng mắc, hạn chế nhất định, hiện nay chưa có văn bản nào hướng dẩn để thực hiện cụ thể. Vì vậy, để đáp ứng yêu cầu công tác xét xử khi giải quyết các tranh chấp dân sự về nhà ở có yếu tố nước ngoài, đòi hỏi Toà án nhân dân tối cao cần sớm phải có những hướng dẩn cụ thể để việc áp dụng pháp luật một cách thống nhất trên cả nước khi giải quyết tranh chấp các giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 01-07-1991.

Trước hết đối với việc thông báo đòi nhà đối với nội dung giao dịch cho mượn ,cho ở nhờ theo Nghị quyết 1037. Nghị quyết này không quy định hình thức và nội dung thông báo đòi nhà, cơ sở hợp pháp của việc thông báo và không xác định thông báo bắt đầu thời điểm nào? Thời điểm Nghị quyết 1037 có hiệu lực hay từ lúc phát sinh tranh chấp? Do vậy, để tính hiệu lực của thông báo đòi nhà do các đương sự xác lập là có cơ sở, không còn là vướng mắc cản trở việc giải quyết tranh chấp, Toà án nhân dân tối cao cần hướng dẩn một cách cụ thể các vấn đề này, và nêu rõ sự phân biệt đối với các vụ án tranh chấp giao dịch về nhà ở được xác lập trước ngày 01-07-1991 có yếu tố nước ngoài mà tòa án các cấp đã thụ lý hoặc đã chuẩn bị xét xử sơ thẩm, chuẩn bị xét xử phúc thẩm…, sau đó phải tạm đình chỉ theo Nghị quyết 58/1998/NQ-UBTVQH10 ngày 24-08-1998 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, nay lý do tạm đình chỉ không còn khi Nghị quyết 1037 có hiệu lực, Tòa án tiếp tục đưa vụ án ra giải quyết, hoặc những trường hợp trước đây bên đòi nhà đã qua hòa giải ở cơ sở, Ủy ban Nhân dân các cấp giải quyết theo thủ tục hành chính do pháp luật dân sự chưa quy định thì không yêu cầu đương sự phải tiến hành thủ tục thông báo.

Nghị quyết 1037 xác định giải quyết tranh chấp đối với người tham gia giao dịch về nhà ở như người mua nhà, người bán nhà là người Việt Nam định cư ở nước ngoài, nhưng chưa đề cập đến việc tham gia giao dịch của người thứ ba ngay tình trong giao dịch mua bán nhà ở có yếu tố nước ngoài xác lập trước ngày 01-07-1991 là chưa bảo đảm được quyền lợi của đương sự khi họ được chuyển giao nhà ở một cách hợp pháp, được cơ quan có thẩm quyền chứng thực.

Đối với các giao dịch dân sự về nhà ở nêu trên, mặc dù Nghị quyết 1037 đã dẫn chiếu áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2005 giải quyết hậu quả của hợp đồng dân sự vô hiệu. Tuy nhiên việc áp dụng các quy định pháp luật này đối với người thứ ba ngay tình chưa hợp lý vì các giao dịch này xảy ra quá lâu; đương sự đã được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, và thực tế vào thời điểm này các thủ tục giao dịch dân sự nhà ở không rõ ràng. Nếu áp dụng máy móc theo Bộ luật Dân sự năm 2005 là không bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp người thứ ba ngay tình, vì họ đã chiếm hữu nhà ở rất lâu, buộc họ trả lại nhà thì số tiền họ được hoàn lại không đảm bảo họ có được chổ ở ổn định trong tình hình bất động sản hiện nay. Do đó, Tòa án nhân dân Tối cao nên hướng dẫn như sau :

– Về nguyên tắc áp dụng quy định hợp đồng vô hiệu và xử lý hợp đồng vô hiệu theo Bộ luật dân sự năm 2005 nếu giao dịch đó vi phạm điều cấm pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội, dù tài sản đó đã được chuyển giao cho người thứ ba trong bất kỳ thời gian nào.

– Những trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu khác thì giao dịch với người thứ ba ngay tình vẫn có giá trị pháp lý (các bên giao dịch trả lại tiền cho nhau), và nên tạo điều kiện thuận lợi cho người thứ ba ngay tình làm thủ tục đứng tên sở hữu nhà ở.

Trong các trường hợp tranh chấp dân sự về nhà ở có yếu tố nước ngoài xác lập trước ngày 01-07-1991, thì tài liệu chứng minh chủ thể tham gia giao dịch dân sự là đối tượng được Nghị quyết 1037 điều chỉnh, để Toà án có căn cứ chấp nhận, hoặc không chấp nhận yêu cầu của đương sự trong các nội dung giao dịch đòi nhà ở, tranh chấp mua bán nhà ở…là rất cần thiết, nên việc đánh giá chứng cứ để xác định tư cách tham gia tố tụng các đương sự trong vụ án rất quan trọng. Thế nhưng hiện nay, vấn đề đánh giá về những chứng cứ, giấy tờ, tài liệu ấy vẫn còn nằm trong ý thức chủ quan của Thẩm phán, chứ chưa được quy định cụ thể trong pháp luật về nhà ở để làm căn cứ giải quyết tranh chấp theo Nghị quyết 1037/2006/NQ-UBTVQH11. Trong đó vấn đề xác minh đương sự tham gia tố tụng có thuộc các đối tượng được pháp luật nhà ở cho phép sở hữu nhà hay không,cũng góp phần thúc đẩy việc giải quyết vụ án đúng các quy định pháp luật. Những vướng mắc về đối tượng của Điều 126 Luật Nhà ở mà Toà án nhân dân tối cao cần hướng dẩn chủ yếu tập trung vào các vấn đề như phải giải thích thuật ngữ “sinh sống ổn định tại Việt Nam”, thuật ngữ “có nhu cầu hoạt động thường xuyên tại Việt Nam” có tiêu chí như thế nào? Rồi “đối tượng cư trú từ sáu tháng trở lên” là như thế nào? Và vừa qua, Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung Điều 126 của Luật nhà ở và Điều 121 của Luật đất đai quy định mới về người Việt Nam định cư ở nước ngoài, khi về nước có thời gian cư trú 3 tháng tại Việt Nam thì được sở hữu nhà ở..thì việc áp dụng pháp luật về đối tượng được giải quyết theo Nghị quyết 1037 về tranh chấp về nhà ở là tính 3 tháng liên tục hay là tổng thời gian cư trú 3 tháng trong 1 năm?

Bên cạnh đó Tòa án Nhân dân Tối cao cũng cần hướng dẫn thêm việc giải quyết tranh chấp giao dịch dân sự về nhà ở mà từ khi Nghị quyết 1037 được ban hành chưa đề cập đến như sau :

“-Đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam: Theo quy định tại Điều 121 Luật Đất đai 2003, Điều 126 Luật Nhà ở 2005, K4 Điều 65 Nghị định 90/2006/NĐ-CP ngày 9-6-2006 của Chính Phủ thì với những đối tượng thuộc các văn bản trên được quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam. Do đó, các đối tượng này nếu thời điểm khi họ gửi tiền về để mua nhà ở tại Việt Nam nhưng lại nhờ người khác đứng tên hộ thì họ chưa thuộc diện được sở hữu nhà tại Việt Nam, nhưng khi tranh chấp xảy ra, họ đã thuộc diện được sở hữu nhà tại Việt Nam, thì khi giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu nhà ở giữa họ và với người Việt Nam đứng tên hộ, Tòa án cần công nhận cho người Việt Nam định cư tại nước ngoài thuộc diện nói trên được sở hữu nhà gắn liền với quyền sử dụng đất mà họ đã nhờ người đứng tên hộ.

-Đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà theo pháp luật không thuộc diện được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam: Tòa án nên áp dụng Bộ luật Dân sự 2005, Luật Đất đai 2003, Luật Nhà ở làm căn cứ nhận định giao dịch giữa người Việt Nam định cư ở nước ngoài với người Việt Nam trong nước về việc mua và đứng tên hộ trong hợp đồng mua bán nhà là giao dịch vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật. Vì vậy, khi giải quyết tranh chấp, Tòa án không công nhận cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam .”

Giao dịch dân sự về nhà ở không chỉ là một vấn đề phổ biến mà còn là một vấn đề hết sức đa dạng và phức tạp. Do vậy, đòi hỏi phải xây dựng một hành lang pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích cho các chủ thể tham gia. Đáp ứng yêu cầu này, pháp luật Việt Nam đã có những quy định điều chỉnh, đồng thời không ngừng phát triển và hoàn thiện nó. Đồng thời, những hướng dẩn kịp thời, phù hợp với thực tế của Toà án nhân dân tối cao trong thời gian đến, chắc chắn sẽ tháo gở được những vướng mắc và bất cập vẫn chưa được giải quyết triệt để tại các văn bản pháp luật ban hành trước đây, khi giải quyết các tranh chấp nhà ở có yếu tố nước ngoài được xác lập trước ngày 01-07-1991.

SOURCE: CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TANND TPHCM

Hội Nghị Triển Khai Các Nghị Quyết Của Trung Ương Và Luật An Ninh Mạng.

Nghị Quyết Của Bộ Chính Trị Về Chủ Động Tham Gia Cách Mạng Công Nghiệp Lần Thứ Tư

Xây Dựng Kế Hoạch Thực Hiện Chiến Lược An Ninh Mạng Quốc Gia

Nghị Quyết 51 Về Chiến Lược An Ninh Quốc Gia

Nghiên Cứu Quy Trình Ban Hành Nghị Quyết Tỉnh Ủy, Ai Dùng?

Những Vướng Mắc Trong Thu Giữ Tài Sản Bảo Đảm Theo Nghị Quyết 42 Của Quốc Hội Và Giải Pháp Xử Lý

Vamc Bắt Đầu Xử Lý Nợ Theo Nghị Quyết 42: Sài Gòn One Tower Bị Thu Giữ Tài Sản Đảm Bảo

Thu Giữ Tài Sản Thế Chấp Của Ngân Hàng Theo Nghị Quyết 42/2017/qh14

Ubnd Xã Quế Long Long Trọng Tổ Chức Lễ Công Bố Nghị Quyết 42/nq

Hà Nội Triển Khai Gói Hỗ Trợ An Sinh Xã Hội: Kịp Thời, Đúng Đối Tượng!

Triển Khai Gói An Sinh Xã Hội Cần Linh Hoạt, Phù Hợp Với Đặc Thù Địa Phương

Nghị quyết 42 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của cá Tổ chức tín dụng ra đời đã tạo thuận lợi cho việc xử lý các khoản nợ xấu của các Tổ chức tín dụng. Nhiều Tổ chức tín dụng đã áp dụng triệt để các quy định của Nghị quyết 42 về thu giữ tài sản bảo đảm, mua bán các khoản nợ xấu, cơ cấu lại thời hạn trả nợ, bán tài sản bảo đảm là các dự án bất động sản…để giảm tỷ lệ nợ xấu và tăng tỷ lệ an toàn vốn cho Tổ chức tín dụng. Bên cạnh những thuận lợi thì Nghị quyết 42 cũng bộc lộ một số bất cập cần được sửa đổi. Trong phạm vi của bài viết này chúng tôi muốn đề cập đến vướng mắc trong thu giữ tài sản theo Nghị quyết 42 của Quốc hội và kiến nghị để xử lý các vướng mắc này.

Tổ chức tín dụng được quyền thu giữ tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu khi đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 7 của Nghị quyết 42 của Quốc hội. Trong các điều kiện có quy định tại Hợp đồng bảo đảm có thỏa thuận khi khoản nợ quá hạn và khách hàng vay vốn không trả được nợ thì bên bảo đảm đồng ý để Tổ chức tín dụng được quyền thu giữ tài sản bảo đảm để xử lý thu hồi nợ.Tuy nhiên thực tế thu giữ tài sản bảo đảm phát sinh vướng mắc như sau:

1.1.Hợp đồng bảo đảm không có thỏa thuận về việc thu giữ tài sản bảo đảm nhưng Tổ chức tín dụng và khách hàng vay vốn, bên bảo đảm có thỏa thuận tại Biên bản làm việc về việc cho khách hàng kéo dài thời hạn trả nợ nếu hết thời gian này khách hàng không trả được nợ thì Tổ chức tín dụng sẽ tiến hành thu giữ tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu.

1.2. Hợp đồng bảo đảm chỉ quy định khi khoản nợ quá hạn và khách hang vay vốn không trả được nợ thì Tổ chức tín dụng có quyền áp dụng tất cả các biện pháp xử lý theo quy địnhpháp luật để xử lý tài sản bảo đảm thu hồi nợ.

Hiện nay có hai quan điểm về việc xử lý vướng mắc nêu trên cụ thể:

Quan điểm 1: Không đồng ý thu giữ tài sản bảo đảm vì không tuân thủ điều kiện thu giữ theo Nghị quyết 42 của Quốc hội. Mặc dù khách hàng vay vốn, bên bảo đảm có thỏa thuận về việc thu giữ tài sản nhưng thỏa thuận này không được ghi trong Hợp đồng bảo đảm nên không đủ điều kiện thu giữ. Đối với trường hợp 1.2 do không ghi cụ thể hình thức xử lý là thu giữ tài sản bảo đảm nên cũng không đủ điều kiện thu giữ theo Nghị quyết 42 của Quốc hội.

Quan điểm 2: Đối với mục 1.1 nêu trên đồng ý thu giữ tài sản bảo đảm theo Nghị quyết 42 của Quốc hội. Đối với mục 1.2 thì không đồng ý vì thỏa thuận ghi trong hợp đồng bảo đảm không rõ ràng nên không có căn cứ xác định đủ điều kiện thu giữ theo Nghị quyết 42.

Chúng tôi đồng ý với quan điểm 2 với các lý do sau: bản chất thỏa thuận ghi trong hợp đồng bảo đảm hay ghi trong Biên bản làm việc giữa Tổ chức tín dụng, khách hàng vay vốn và bên bảo đảm đều thể hiện ý chí của bên bảo đảm về việc đồng ý để Tổ chức tín dụng thực hiện quyền thu giữ tài sản bảo đảm khi khách hàng vay vốn không trả được nợ theo thỏa thuận. Sự thỏa thuận này là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc, cưỡng ép. Bên cạnh đó bên bảo đảm và Tổ chức tín dụng đã giao kết Hợp đồng bảo đảm và Hợp đồng này được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định pháp luật. Vì vậy, Tổ chức tín dụng được quyền thu giữ tài sản bảo đảm theo Nghị quyết 42 của Quốc hội.

Đối với mục 1.2 không đồng ý thu giữ theo Nghị quyết 42 vì thỏa thuận không chỉ rõ các biện pháp theo quy định của pháp luật gồm biện pháp thu giữ tài sản nên không có căn cứ để thu giữ tài sản bảo đảm theo Nghị quyết 42 của Quốc hội.

2.Về sự phối hợp của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn trong công tác thu giữ tài sản bảo đảm theo Nghị quyết 42 của Quốc hội.

Khoản 5 Điều 7 Nghị quyết 42 quy định như sau:

Chính quyền địa phương các cấp và cơ quan Công an nơi tiến hành thu giữ tài sản bảo đảm, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện việc bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội trong quá trình thu giữ tài sản bảo đảm theo đề nghị của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu. Trường hợp bên bảo đảm không hợp tác hoặc không có mặt theo thông báo của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu, đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã nơi tiến hành thu giữ tài sản bảo đảm tham gia chứng kiến và ký biên bản thu giữ tài sản bảo đảm “.

Tuy nhiên thực tế vẫn còn một số Ủy ban nhân dân nơi có tài sản thu giữ chưa thật sự phối hợp, tạo điều kiện cho Tổ chức tín dụng thực hiện quyền thu giữ tài sản bảo đảm theo Nghị quyết 42 của Quốc hội. Biểu hiện của sự không hợp tác, gây khó khăn thể hiện dưới các hình thức sau:

3.Về việc chiếm giữ tài sản bảo đảm khi thu giữ

Bên bảo đảm luôn tìm mọi cách để cản trở Tổ chức tín dụng trong việc thu giữ tài sản, biểu hiện của sự chống đối thể hiện dưới các hành vi sau:

– Sử dụng người già, trẻ em, người có công với cách mạng chiếm giữ tài sản bảo đảm, không ra khỏi tài sản bảo đảm theo yêu cầu của Tổ chức tín dụng;

Theo quy định của Nghị quyết 42 thì lực lượng Công an chỉ có trách nhiệm đảm bảo an ninh trât tự trong khi thu giữ tài sản. Như vậy đối với trường hợp bên bảo đảm không gây mất trật tự, an ninh thì lực lượng Công an cũng không thể buộc bên bảo đảm hay các đôi tượng bên bảo đảm sử dụng để chiếm giữ tài sản phải ra khỏi tài sản theo yêu cầu của Tổ chức tín dụng.

Trong trường hợp này các Tổ chức tín dụng có cách xử lý khác nhau: Có Tổ chức tín dụng dừng việc thu giữ vì đánh giá là không thu được tài sản và chuyển biện pháp khởi kiện khách hàng vay vốn, bên bảo đảm ra Tòa án để phát mại tài sản bảo đảm. Ngược lại có Tổ chức tín dụng thực hiện quyền của bên nhận thế chấp tài sản theo thỏa thuận tại Hợp đồng bảo đảm ‘ yêu cầu bên bảo đảm giao tài sản để xử lý vì bên bảo đảm không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình như thoả thuận tại Hợp đồng bảo đảm”. Tổ chức tín dụng thuê lực lượng bảo vệ chiếm giữ tài sản theo hình thức đưa người vào cùng ăn, cùng ở với bên bảo đảm, dùng lời nói, hành vi gây áp lực với bên bảo đảm buộc họ phải ra khỏi tài sản hoặc nộp tiền trả nợ. Tuy nhiên hình thưc này có thể gây rủi ro cho Tổ chức tín dụng khi lực lượng bảo vệ có hành vi trái quy định pháp luật (khóa cửa, nhốt bên bảo đảm không cho ra khỏi tài sản, gây mất trật tự trị an…). Những hành vi này có dấu hiệu tội ” Xâm phạm chỗ ở của người khác” và ” Bắt giữ người trái pháp luật ” và có thể bị xử lý hình sự.

Theo quan điểm của chúng tôi việc Tổ chức tín dụng sử dụng lực lượng bảo vệ thực hiện quyền chiếm giữ tài sản bảo đảm chỉ có thể thực hiện dược khi bên bảo đảm đồng ý bàn giao tài sản cho Tổ chức tín dụng. Trường hợp Tổ chức tín dụng đã yêu cầu bên bảo đảm bàn giao tài sản (theo quy định tại Điều 301 Bộ luật Dân sự năm 2022 và thỏa thuận tại Hợp đồng bảo đảm) mà bên bảo đảm không thực hiện và Tổ chức tín dụng đã thực hiện việc thu giữ tài sản theo Nghị quyết 42 của Quốc hội nhưng chưa chiếm giữ được tài sản thì Tổ chức tín dụng buộc phải khởi kiện ra Tòa án theo quy định tại Điều 301 Bộ luật Dân sự năm 2022 bởi lẽ:

+ Nghị quyết 42 của Quốc hội cho phép các Tổ chức tín dụng được quyền thu giữ tài sản bảo đảm, nhưng không có quy định nào cho phép Tổ chức tín dụng được quyền cưỡng chế buộc bên bảo đảm bàn giao tài sản bảo đảm đối với trường hợp bên bảo đảm không ra khỏi tài sản khi được yêu cầu.

Đối chiếu với quy định nêu trên thì mọi hành vi đưa người vào chiếm giữ tài sản bảo đảm bằng hình thức khóa cửa, hành hung chủ tài sản, gây mất trật tự tại tài sản với mục đích ép chủ tài sản phải ra khỏi tài sản bảo đảm đều là hành vi vi phạm quy định của Bộ luật Hình sự và sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.

3.Về việc di chuyển tài sản của bên bảo đảm sau khi thu giữ

Thực tế thu giữ tài sản cho thấy có một số trường hợp tài sản trống (bên bảo đảm bỏ tài sản) nhưng bên trong tài sản bảo đảm có nhiều tài sản của bên bảo đảm nhưng không thuộc tài sản thế chấp (giường, tủ, két sắt, bàn làm việc, bàn thờ…) khi Tổ chức tín dụng tiến hành thu giữ tài sản cần phải xử lý đối với các tài sản này để đảm bảo việc bàn giao tài sản cho người trúng đấu giá.

Hầu hết các Tổ chức tín dụng đều thuê Thừa phát lại và chính quyền kiểm đếm và chứng kiến kiểm đếm niêm phong các tài sản của bên bảo đảm, sau đó thông báo cho bên bảo đảm về việc di chuyển tài sản này ra khỏi tài sản bảo đảm trong thời gian nhất định (ví dụ 30 ngày kể từ ngày Tổ chức tín dụng thông báo). Sau thời hạn nêu trên nếu bên bảo đảm không di dời tài sản thì Tổ chức tín dụng sẽ thuê địa điểm và tiến hành di chuyển tài sản về địa điểm trông giữ mà Tổ chức tín dụng đã chuẩn bị. Việc di chuyển tài sản của bên bảo đảm trong nhiều trường hợp mất rất nhiều chi phí đặc biệt bảo quản các tài sản là chất lỏng, chất dễ cháy…

Để việc thu giữ tài sản bảo đảm theo Nghị quyết 42 của Quốc hội được hiệu quả đẩy nhanh quá trình xử lý thu hồi các khoản nợ xấu chúng tôi kiến nghị cần sửa đổi, bổ sung Nghị quyết 42 như sau:

Đối với điều kiện thu giữ tài sản: Nghị quyết 42 cần sửa đổi quy định tại điểm b khoản 1 Điều 7 theo hướng Tổ chức tín dụngđược quyền thu giữ tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu khi đáp ứng các quy định tại Điều 7 của Nghị quyết này, tuy nhiên sửa đổi cụm từ ” tại Hợp đồng bảo đảm có thỏa thuận về thu giữ tài sản bảo đảm” thành “có thỏa thuận về việc thu giữ tài sản bảo đảm bằng văn bản ” giữa Tổ chức tín dụng với Bên bảo đảm.

Về tổ chức thu giữ tài sản: Nghị quyết 42 cần quy định rõ Tổ chức tín dụng sau khi tiến hành đầy đủ thủ tục thu giữ tài sản bảo đảm và đã tiến hành thu giữ nhưng chưa chiếm giữ và quản lý tài sản bảo đảm do bên bảo đảm không ra khỏi tài sản bảo đảm thì phải khởi kiện ra Tòa án có thẩm quyền để phát mại tài sản bảo đảm thu hồi nợ cho Tổ chức tín dụng.

Ngân Hàng Có Được Thu Giữ Tài Sản Thế Chấp Không?

Xử Lý Nợ Xấu Theo Nghị Quyết 42 Vẫn Vướng Việc Thu Giữ Tài Sản Đảm Bảo

“có Nghị Quyết 42 Vẫn Khó Thu Giữ Tài Sản Đảm Bảo”

Quy Định Của Nghị Quyết 42/2017 Về Quyền Thu Giữ Tài Sản Đảm Bảo

Đánh Giá Kết Quả Thực Hiện Nghị Quyết 42

Những Vướng Mắc Của Nghị Định 167/2013/nđ

So Sánh Mức Phạt Của Nghị Định 100/2019/nđ

Những Lỗi Vi Phạm Bị Tạm Giữ Xe Năm 2022 Theo Nghị Định 100

Vì Sao Nghị Định 100/2019 Có Hiệu Lực Chỉ Sau 2 Ngày Ban Hành?

Mức Xử Phạt Mới Về Vi Phạm Giao Thông Của Nghị Định 100 Tài Xế Cần Biết

Nghị Định Phát Hành Trái Phiếu

Trangtinphapluat.com tổng hợp những khó khăn, vướng mắc trong 5 năm thi hành Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình.

+ Việc xác định thiệt hại do cháy, nổ gây ra, để làm căn cứ xử lý theo Điều 47, 48 Nghị định số 167 chỉ dựa vào lời khai cùa những người bị thiệt hại, vì hiện nay chưa có văn bản hướng dẫn xác định giá tài sản thiệt hại do cháy, nổ gây ra.

+ Một số hành vi còn chưa cập nhật với một số quy định mới ban hành như: Bộ Luật hình sự sửa đổi 2022, Luật Bảo vệ bí mật nhà nước 2022, Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ năm 2022, Nghị định số 96/2016/NĐ-CP quy định điều kiện về an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, Nghị định số 99/2016/NĐ-CP quy định về quản lý và sử dụng con dấu.

+ Việc xử lý hành chính đối với hoạt động cho vay này cũng không hiệu quả, theo Nghị định 167/2013/NĐ-CP chỉ quy định xử phạt đối với hành vi cho vay tiền có cầm cố tài sản mà không có quy định xử phạt với hành vi cho vay lãi nặng không cầm cố tài sản. Điều này dẫn đến việc xử phạt hành chính đối với hành vi cho vay lãi nặng rất khó thực hiện. Từ đó dẫn đến việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi cho vay lãi nặng, thu lợi bất chính dưới 30 triệu đồng nhưng trước đó đã bị xử phạt hành chính về hành vi này trong giai đoạn hiện nay hầu như là không thực hiện được

2.Về mức phạt:

Một số hành vi còn thiếu biện pháp khắc phục hậu quả và có mức phạt tương đối thấp chưa có tính răn đe; đặc biệt trong lĩnh vực phòng cháy, chữa cháy; dẫn đến tình trạng một số tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân hiện đang tồn tại tâm lý chấp nhận nộp phạt vi phạm hành chính vẫn có lợi hơn so với việc chấp hành đúng quy định của pháp luật hoặc vẫn có tư tưởng xem nhẹ sai phạm đó.

Vấn đề thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị giới hạn theo thẩm quyền phạt tiền (Từ Điều 38 đến Điều 51 Luật XLVPHC): Luật XLVPHC quy định thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị giới hạn theo thẩm quyền phạt tiền làm phát sinh nhiều vụ việc vi phạm vượt quá thẩm quyền xử phạt của cơ quan cấp dưới bị dồn lên cơ quan cấp trên giải quyết, không bảo đảm tính kịp thời, nhanh chóng trong việc xử phạt.

3. Về thẩm quyền:

Luật xử lý vi phạm hành chính, Nghị định số 167 đã phân định thẩm quyền khá cụ thể tuy nhiên, hiện nay nhiều chức danh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đã thay đổi hoặc không còn nữa hoặc phát sinh thêm một số chức danh do việc phân, tách, thành lập mới các cơ quan quản lý nhà nước.

Điều 54, Điều 87, Điều 123 Luật XLVPHC quy định vấn đề giao quyền xử phạt cho cấp phó, nhưng lại chưa có quy định cũng như hướng dẫn việc cấp phó được giao quyền có thẩm quyền áp dụng các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm việc xử phạt vi phạm hành chính dẫn đến các cách hiểu và áp dụng khác nhau. Đồng thời, Luật XLVPHC và các văn bản hướng dẫn thi hành cũng chưa có hướng dẫn cụ thể xác định trường hợp cấp trưởng “vắng mặt” (Điều 87) là như thế nào, gây lúng túng trong việc áp dụng trên thực tế.

(Hướng dẫn về giao quyền xử phạt vi phạm hành chính )

Khoản 2 Điều 71 Nghị định số 167 quy định người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình còn chung chung, dẫn đến áp dụng không thống nhất.

( Hướng dẫn cách lập biên bản vi phạm hành chính chuẩn nhất)

Nghị định chưa quy định thẩm quyền xử phạt của quản lý thị trường đối với các hành vi vi phạm về phòng cháy nổ và kinh doanh nghành nghề có điều kiện về an, trật tự. Thực tế nhiều trường hợp lực lượng quản lý thị trường phát hiện hàng hóa dễ cháy nổ như xăng dầu, khí dầu mỏ hóa lỏng… vận chuyển trên đường không có hóa đơn, không đủ điều kiện về phòng cháy, chữa cháy nhưng vì không được giao thẩm quyền xử phạt nên không thể xử lý được.

Việc cưỡng chế thi hành đối với những đối lượng chây ì chưa có chế tài cụ thể, gây khó khăn trong công tác xử lý, hạn chế tính nghiêm minh của pháp luật. Công tác đôn đốc nộp phạt với các đối tượng không có khả năng, điều kiện về tài chính còn hạn chế, nhất là theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính thì chỉ những Quyết định nào có mức phạt trên 3.000.000 đồng mới được đề xuất miễn, giảm hình phạt. Điều này đã gây ra không ít khó khăn trong việc xử lý đối với những Quyết định có mức phạt thấp hơn.

( Hướng dẫn cưỡng chế khấu trừ tiền phạt của người vi phạm tại ngân hàng thương mại)

Có nhiều trường hợp người vi phạm bị xử lý hành chính không nộp tiền phạt. Theo quy định sau 10 ngày giao quyết định nếu người vi phạm không chấp hành thì sẽ bị cưỡng chế thi hành. Tuy nhiên, quy trình thực hiện cưỡng chế hành chính chưa có quy định cụ thể nên khó khăn cho việc thi hành cưỡng chế hành chính. Do đó, nhiều trường hợp vi phạm hành chính đến 2 lần vẫn không chấp hành việc nộp phạt.

5. Một số vướng mắc khác

Việc thực hiện các hình thức phạt bổ sung như: tước quyền sử dụng giấy phép có thời hạn, tịch thu giấy phép, tiêu hủy đồ vật tài sản bị thu giữ còn chưa được chú trọng. Đặc biệt việc tịch thu, tiêu hủy các đồ vật có giá trị không lớn hoặc không có giá trị như bộ tú để chơi đánh bạc, ma túy… thủ tục còn phức tạp nên nhiều đơn vị mới chỉ xử lý vi phạm mà không quan tâm nhiều đến vấn đề này.

(Tổng hợp quy định pháp luật quy định về nơi công cộng)

Về áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ người theo thủ tục hành chính: Điều 122 Luật xử lý vi phạm hành chính quy định chỉ được áp dụng biện pháp tạm giữ người theo thủ tục hành chính trong trường hợp cần ngăn chặn, đình chỉ ngay nhưng hành vi gây rối trật tự công cộng, gây thương tích cho người khác. Việc quy định quá hạn hẹp những trường hợp được áp dụng biện pháp giữ người theo thủ tục hành chính đã gây khó khăn trong quá trình áp dụng, trong nhiều trường hợp đối tượng có nhiều hành vi vi phạm khác nhau như đánh bạc, trộm cắp tài sản…, cần có thời gian đế xác minh, làm rõ hành vi, hậu quả, thiệt hại, đặc biệt là xác minh về nhân thân của các đối tượng vi phạm để xử lý theo đúng quy định pháp luật, tránh bỏ lọt tội phạm (nhất là đối với những tội có quy định đã bị xử phạt vi phạm hành chính về các hành vi trên) nhưng đối tượng lại không có nơi cư trú ổn định, nếu không tạm giữ hành chính thì đối tượng bỏ trốn, gây khó khăn cho công tác điều tra, xử lý về sau.

Rubi

Giới Thiệu Nghị Định Số 161/2018/nđ

4 Thông Tư Và 2 Nghị Định Về Hóa Đơn Chứng Từ Cần Nhớ

Mức Lương Tối Thiểu Vùng Theo Nghị Định 90 Năm 2022

Nghị Định Mức Lương Tối Thiểu Vùng 2022

Hình Thức Xử Phạt Vi Phạm Công Bố Sản Phẩm Theo Nghị Định 115 Mới Ban Hành

Những Vướng Mắc Trong Thực Hiện Nghị Quyết Số 33/2009/nq

Phổ Biến Rộng Rãi Bộ Luật Hình Sự Sửa Đổi

Những Vấn Đề Cần Hướng Dẫn Thêm Khi Thực Hiện Nghị Quyết 33/2009/nq

Nghị Quyết Hướng Dẫn Một Số Hoạt Động Của Hội Đồng Nhân Dân

Nghị Quyết 629/2019/ubtvqh14 Hướng Dẫn Một Số Hoạt Động Của Hội Đồng Nhân Dân

Công Bố 2 Nghị Quyết Của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội

Năm 2005, Nguyễn Văn A trộm cắp 25 triệu đồng bị xử theo khoản 1, Điều 138 Bộ luật hình sự (viết tắt BLHS), mức án 09 tháng tù giam.

Năm 2006 A lại trộm cắp tài sản có giá trị 600.000đ, bị xét xử theo khoản 1, Điều 138 BLHS với tình tiết tăng nặng “tái phạm” theo Điều 48 BLHS, mức án là 12 tháng tù giam.

(Cả hai bản án trên A đều đã thi hành án xong cả phần hình sự lẫn dân sự).

Năm 2007, A trộm cắp tài sản có giá trị 50.000đ, bị xét xử theo khoản 1, Điều 138 BLHS với tình tiết tăng nặng là “tái phạm” và phạt tiền 05 triệu đồng (thuộc trường hợp yếu tố định tội khác). Bản án này A chưa thi hành khoản tiền phạt 05 triệu đồng.

Tháng 3/2011, A trộm cắp tài sản có giá trị trên 02 triệu đồng.

Năm 1991, Nguyễn Văn B trộm cắp một số vật dụng gia đình (Cơ quan điều tra không định giá tài sản), bị xét xử theo khoản 1 Điều 155 BLHS (năm 1985), với mức án 06 tháng tù giam.

Năm 1993, B trộm cắp số tiền 1.100.000đ bị xét xử theo khoản 1, Điều 155 BLHS với tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm”, mức án 18 tháng tù giam.

Năm 1996, B trộm cắp một số vật dụng gia đình (không định giá tài sản) và bị xét xử với tình tiết định khung tăng nặng là “tái phạm nguy hiểm” theo điểm d, khoản 2, Điều 155 BLHS, mức án 04 năm tù.

Năm 2000, B trộm cắp một số vật dụng gia đình (không định giá tài sản), bị xét xử theo điểm c, khoản 2, Điều 138 BLHS (tình tiết định khung tăng nặng là “tái phạm nguy hiểm”), mức án 05 năm tù.

Năm 2004, B cưỡng đoạt tài sản và bị xét xử theo điểm c, khoản 2, điều 135 BLHS (tình tiết định khung tăng nặng là “tái phạm nguy hiểm”, mức án 06 năm tù, mới chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/02/2010).

Năm 2011, B trộm cắp tài sản có giá trị trên 02 triệu đồng.

Cả hai trường hợp trên, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát khởi tố, truy tố theo khoản 1, Điều 138 BLHS và phạm tội lần này (năm 2011) thuộc trường hợp tái phạm vì bản án gần lần phạm tội này nhất chưa được xoá án tích, còn đối với các bản án trước đó của các bị can đều đã được xoá án tích theo Nghị quyết số 33/2009/NQ-QH12 ngày 19/6/2009 của Quốc hội.

Tuy nhiên, Toà án lại cho rằng lần phạm tội này (năm 2011) của các bị can phải xét xử theo điểm c, khoản 2, Điều 138 BLHS (với tình tiết định khung tăng nặng là “tái phạm nguy hiểm” vì những bản án trước có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm” và tình tiết định khung tăng nặng là ‘tái phạm nguy hiểm” đều chưa được xoá án tích theo Nghị quyết số 33/2009/NQ-QH12 ngày 19/6/2009 của Quốc hội.

Hiện tại, ở đơn vị có rất nhiều vụ án tương tự như trên và có nhiều quan điểm khác nhau trong nhận thức và áp dụng Nghị quyết số 33/2009/NQ-QH12 ngày 19/6/2009 của Quốc hội. Rất mong các ý kiến trao đổi, đóng góp, tháo gỡ vướng mắc kịp thời của các đồng chí, đồng nghiệp để đơn vị có hướng giải quyết đúng đắn và đảm bảo thời hạn đối với những vụ án như trên.

Nguyễn Thùy Dương, VKSND thị xã Bắc Kạn Theo: Cổng thông tin điện tử TANDTC (http:toaan.gov.vn)

Nghị Quyết 33/2009/qh12 Thi Hành Luật Bổ Sung Bộ Luật Hình Sự

Nghị Quyết Số 33/2009/qh12 Về Thi Hành Luật Sửa Đổi, Bổ Sung Một Số Điều Của Bộ Luật Hình Sự Do Quốc Hội Ban Hành

Nghị Quyết 42/2017/ Qh14 Của Quốc Hội Về Thí Điểm Xử Lý Nợ Xấu Của Các Tổ Chức Tín Dụng Sau Hai Năm Thực Hiện Trên Địa Bàn Hà Nội

Sơ Kết 2 Năm Triển Khai Nghị Quyết 42/2017/qh14 Của Quốc Hội Về Thí Điểm Xử Lý Nợ Xấu

Nghị Quyết Số 64/2013/qh13 Của Quốc Hội : Nghị Quyết Quy Định Một Số Điểm Thi Hành Hiến Pháp Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

Xử Lý Nợ Xấu Theo Nghị Quyết 42 Còn Vướng Ở Đâu?

Xử Lý Nợ Xấu Theo Nghị Quyết 42/2017/qh14: Tắc Thu Hồi Tài Sản Đảm Bảo, Tái Xuất Tâm Lý Chây Ỳ

Tập Huấn Triển Khai Kế Hoạch Thực Hiện Nghị Quyết Số 42/nq

Nghị Quyết Số 42 Về Quy Hoạch Cán Bộ

Nghị Quyết Của Đảng Ủy Trường Về Công Tác Quy Hoạch Cán Bộ

Tổng Kết Nghị Quyết 42 Và Nghị Quyết 11 Của Bộ Chính Trị (Khóa Ix)

Riêng về kết quả xử lý nợ xấu được xác định theo Nghị quyết 42, lũy kế từ 15/8/2017 đến cuối tháng 8/2019, toàn hệ thống tổ chức tín dụng đã xử lý được 236,8 nghìn tỷ đồng (không bao gồm sử dụng dự phòng rủi ro và khoản nợ bán cho VAMC thông qua phát hành trái phiếu đặc biệt).

Trong đó, xử lý nợ xấu nội bảng đạt 137,7 nghìn tỷ đồng; xử lý các khoản nợ đang hạch toán ngoài bảng cân đối kế toán xác định theo Nghị quyết 42 là 47,97 nghìn tỷ đồng; xử lý các khoản nợ xấu xác định theo Nghị quyết 42 đã bán cho VAMC được thanh toán bằng trái phiếu đặc biệt là 51,12 nghìn tỷ đồng.

Như vậy, tính trung bình, mỗi tháng toàn hệ thống xử lý được khoảng 9,6 nghìn tỷ đồng, cao hơn 4,7 nghìn tỷ đồng so với kết quả xử lý nợ xấu trung bình trước khi Nghị quyết 42 có hiệu lực.

Bên cạnh đó, đến thời điểm cuối tháng 8/2019, các tổ chức tín dụng đã sử dụng 123,89 nghìn tỷ đồng dự phòng rủi ro để xử lý nợ xấu nội bảng.

Khó khăn trong triển khai

Còn tại một hội nghị gần đây về Nghị quyết 42 do Ngân hàng Nhà nước tổ chức, ông Phạm Toàn Vượng, Phó Tổng giám đốc Agribank chia sẻ: “Sau 2 năm Nghị quyết 42 ra đời, Agribank đã xử lý được gần 110 nghìn tỷ đồng. Đến nay, ngân hàng đã mua lại 100% nợ xấu đã bán cho VAMC. Đây là kết quả rất lớn và vượt xa so với trước khi Nghị quyết 42 ra đời”.

Theo đánh giá của Ngân hàng Nhà nước, nợ xấu theo Nghị quyết 42 đã xử lý được một bước quan trọng nhưng vẫn gặp phải không ít khó khăn trong việc triển khai.

Cụ thể, về áp dụng thủ tục rút gọn trong giải quyết tranh chấp về nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm và xử lý tài sản bảo đảm, ngày 15/5/2018, Hội đồng Thẩm phán đã ban hành Nghị quyết số 03/2018/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng thủ tục rút gọn trong giải quyết tranh chấp về nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm, tranh chấp về quyền xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu…

Tuy nhiên, hiện nay, số lượng các vụ việc xử lý nợ xấu thông qua thủ tục rút gọn tại Tòa án còn hạn chế, phần nào ảnh hưởng đến hiệu quả thu hồi nợ.

Về việc hoàn trả tài sản bảo đảm là vật chứng trong vụ án hình sự, hiện chưa có văn bản quy phạm pháp luật giải thích cụ thể về việc “ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và thi hành án” theo quy định tại Điều 14 Nghị quyết số 42.

Do đó, việc có hoàn trả vật chứng trong vụ án hình sự là tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu hay không sẽ phụ thuộc nhiều vào quan điểm của cơ quan tiến hành tố tụng.

Đồng thời, chưa có hướng dẫn về cơ chế xác định sớm hữu hiệu trong quá trình thẩm định, để xác định tài sản nào đang tranh chấp, tài sản nào đang phải áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, dẫn đến cách hiểu về tài sản tranh chấp giữa các cơ quan tố tụng tại nhiều nơi, nhiều cấp khác nhau, gây khó khăn khi áp dụng các biện pháp xử lý tài sản theo Nghị quyết số 42.

Tòa án nhân dân tối cao xem xét, phối hợp với Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp (Tổng cục Thi hành án dân sự) sớm có văn bản chỉ đạo về việc hoàn trả các tài sản bảo đảm là vật chứng của vụ án hình sự sau khi đã hoàn tất các thủ tục xác minh chứng cứ quy định tại Nghị quyết 42.

Triển Khai Nghị Quyết 42: Ngân Hàng ‘mạnh Dạn’ Xử Lý Nợ Xấu

Nghị Quyết 42 Góp Phần Không Nhỏ Vào Kết Quả Xử Lý Nợ Xấu

Sơ Kết 2 Năm Triển Khai Nghị Quyết 42 Về Xử Lý Nợ Xấu Và Quyết Định 1058 Về Cơ Cấu Lại Các Tctd

Những Vướng Mắc Trong Xử Lý Nợ Xấu Theo Nghị Quyết 42 Và Đề Xuất Tháo Gỡ

Mở Rộng Thêm Đối Tượng Không Phải Nộp Và Được Miễn, Giảm Tiền Tạm Ứng Án Phí, Án Phí, Lệ Phí Tòa Án Theo Nghị Quyết 326 Của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội.