Vướng Mắc Nghị Quyết 42 / Top 11 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Bac.edu.vn

Kiến Nghị Vướng Mắc Nghị Quyết 42

Biện pháp xử lý cũng đa dạng hơn trước khi có nghị quyết của Quốc hội, đặc biệt nghị quyết đã cho phép các thành phần kinh tế tham gia vào quá trình xử lý nợ xấu ngân hàng. Trong 2 năm qua NHNN Việt Nam đã phối hợp với các bộ, ngành hữu quan ra nhiều văn bản chỉ đạo nhằm hỗ trợ các ngân hàng xử lý nợ xấu.

Tuy nhiên, theo phản ánh của các ngân hàng ở chúng tôi nhiều bộ, ngành, địa phương triển khai Nghị quyết 42 còn chưa đầy đủ dẫn đến không thống nhất trong cách xử lý thủ tục thu hồi nợ xấu cho ngân hàng. Trong đó có thủ tục hợp thức hóa cấp giấy chứng nhận phần diện tích đất trên đất chênh lệch so với giấy chứng nhận và diện tích đất thế chấp ngân hàng.

Ví như, thời điểm DN vay vốn thế chấp 1 ha, nhưng đến khi rơi vào nợ xấu số đất lại nở ra 1,2 ha. Nguyên do chủ đất đã mua thêm, nhưng phần mua thêm chưa phải đất thổ cư nên chính quyền cơ sở không chứng nhận cho ngân hàng thu hồi tài sản đảm bảo vì còn có phần đất nông nghiệp dính vào tài sản đảm bảo nợ vay.

Chưa kể các hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp của ngân hàng trước đây gần như không thể hiện được nội dung thỏa thuận cụ thể được quyền thu giữ tài sản đảm bảo hoặc có thỏa thuận nhưng sử dụng các thuật ngữ chung chung như TCTD được quyền phát mãi, quyền định đoạt… trong khi chưa có văn bản hướng dẫn nội dung quyền thu giữ tài sản đảm bảo được hiểu như thế nào là đầy đủ.

Việc bán nợ xấu và tài sản đảm bảo, theo ACB, Nghị quyết 42 không điều chỉnh giá thị trường được xác định trên cơ sở nào, đơn vị nào đủ năng lực, thẩm quyền xác định giá trị thị trường. TCTD có được tự xác định giá trị thị trường của khoản nợ, giá thỏa thuận của các bên mua bán có được xem là giá thị trường?

Một đại diện Sacombank cho biết, hoạt động mua bán nợ xấu của TCTD cho các tổ chức, cá nhân chưa có nhiều do bên mua nợ còn e ngại thủ tục xử lý nợ trên thực tế gặp nhiều khó khăn về thời gian, chi phí. Thực tế đến nay cũng không nhiều tổ chức, cá nhân có tiềm lực tài chính mạnh để hoạt động mua bán nợ xấu theo giá thị trường.

Theo NHNN chi nhánh chúng tôi các TCTD trên địa bàn mong muốn cần có hướng dẫn cụ thể Điểm b, Khoản 2, Điều 7 của Nghị quyết 42/2017/QH14. Trong đó, Điểm b, tại hợp đồng bảo đảm có thỏa thuận về việc bên bảo đảm đồng ý cho TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có quyền thu giữ tài sản đảm bảo của khoản nợ xấu khi xảy ra trường hợp xử lý tài sản đảm bảo theo quy định của pháp luật. Trong đó, giải thích rõ thỏa thuận về quyền thu giữ tài sản đảm bảo theo hợp đồng bảo đảm là như thế nào để có cơ sở cho TCTD áp dụng đúng quy định. Cần có văn bản hướng dẫn rõ việc xác định tài sản như thế nào là không tranh chấp theo Nghị quyết 42/2014/QH14.

Từ đó, có quy định cơ quan thuế và cơ quan đăng ký có trách nhiệm cập nhật, đăng ký quyền sở hữu đối với tài sản đảm bảo xử lý nợ xấu, kể cả trường hợp tài sản đảm bảo sau khi xử lý không đủ thanh toán nợ cho ngân hàng thì ngân hàng bên mua trúng đấu giá vẫn không phải đóng thuế thu nhập cá nhân hoặc thuế chuyển quyền sử dụng đất.

Hải Nam

Nguồn:

11 Khó Khăn, Vướng Mắc Trong Quá Trình Xử Lý Nợ Xấu Theo Nghị Quyết 42

Trong báo cáo gửi tới Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIV về “Kết quả 3 năm thực hiện Nghị quyết số 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng”, Chính phủ cho biết, từ ngày 15/8/2017 đến ngày 31/5/2020, sau 3 năm đi vào thực tiễn, các giải pháp nêu tại Nghị quyết số 42 đã tạo ra những chuyển biến tích cực trong công tác xử lý nợ xấu và góp phần không nhỏ vào kết quả công tác cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016-2020, thể hiện định hướng, chính sách đúng đắn của Đảng, Quốc hội, Chính phủ tạo niềm tin đối với hệ thống các TCTD nói riêng và toàn bộ xã hội nói chung đối với công tác xử lý nợ xấu trong nền kinh tế.

Xử lý nợ xấu còn nhiều trở ngại

Tính từ cuối năm 2018 đến ngày 31/5/2020, toàn hệ thống các TCTD đã xử lý được 361,2 nghìn tỷ đồng nợ xấu. Trong đó, lũy kế từ ngày 15/8/2017 đến 31/5/2020, toàn hệ thống các TCTD đã xử lý được 293,88 nghìn tỷ đồng nợ xấu xác định theo Nghị quyết số 42, đạt trung bình khoảng 7,15 nghìn tỷ đồng/tháng, cao hơn 3,63 nghìn tỷ đồng/tháng so với kết quả xử lý nợ xấu nội bảng trung bình tháng từ năm 2012 – 2017 (giai đoạn trước khi Nghị quyết số 42 có hiệu lực). Kết quả đạt được là rất tích cực nhưng những khó khăn, vướng mắc đang ảnh hưởng rất lớn đến tiến độ xử lý nợ xấu của các TCTD.

Kết quả xử lý nợ xấu xác định theo Nghị quyết số 42 bằng hình thức khách hàng trả nợ tăng mạnh, phản ánh ý thức trả nợ của khách hàng đã cải thiện. Khách hàng chủ động và hợp tác hơn trong việc trả nợ TCTD, hạn chế tình trạng chủ tài sản cố ý chây ỳ, chống đối nhằm kéo dài thời gian xử lý. Đây là dấu hiệu tích cực cho thấy Nghị quyết số 42 đã và đang phát huy hiệu quả, góp phần tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc và đẩy mạnh công tác xử lý nợ xấu của hệ thống các TCTD.

Qua tổng hợp của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) cho thấy còn 11 khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai Nghị quyết số 42, cụ thể:

Thứ hai, về bán nợ xấu và TSBĐ theo giá trị thị trường, phát triển thị trường mua bán nợ (Điều 5 Nghị quyết số 42) vẫn còn gặp một số khó khăn như: Việc mua bán nợ xấu chủ yếu diễn ra giữa TCTD và 2 đơn vị mua nợ chính là VAMC và DATC; thiếu thị trường thứ cấp và phái sinh đối với các khoản nợ; việc thẩm định giá khoản nợ đang được các tổ chức thẩm định giá áp dụng theo Hệ thống Tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam (được áp dụng chung cho thẩm định giá các loại tài sản) nên khi định giá các khoản nợ đôi khi việc vận dụng của các tổ chức thẩm định giá là khác nhau, gây khó khăn cho các bên trong việc lựa chọn mức giá tham khảo làm cơ sở xác định mức giá khởi điểm trong giao dịch mua bán nợ.

Thứ tư, về quyền thu giữ TSBĐ (Điều 7 Nghị quyết số 42). Trên thực tế, việc thu giữ TSBĐ hiện nay vẫn phụ thuộc khá nhiều vào thiện chí của bên vay (đặc biệt trong trường hợp khách hàng không hợp tác, cố ý chây ỳ trong việc bàn giao TSBĐ). Đồng thời, sự phối hợp của các cơ quan hữu quan tại địa phương trong một số trường hợp chưa kịp thời (như xác minh thông tin khách hàng, hỗ trợ thu giữ TSBĐ)… cũng làm ảnh hưởng đến công tác xử lý thu hồi nợ xấu…

Thứ bảy, về điều kiện chuyển nhượng TSBĐ là dự án bất động sản (Điều 10 Nghị quyết số 42). Báo cáo cho biết, việc chuyển nhượng các dự án chưa có Giấy chứng nhận vẫn gặp phải khó khăn khi tiến hành các thủ tục chuyển nhượng dự án tại các cơ quan có thẩm quyền.

Thứ tám, về việc thực hiện thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý TSBĐ và việc nộp thuế khi chuyển nhượng TSBĐ (Điều 12, Nghị quyết số 42). Trong quá trình triển khai thực hiện, NHNN tiếp tục nhận được kiến nghị của các TCTD phản ánh về việc phải nộp các khoản thuế trước khi thực hiện nghĩa vụ ưu tiên thanh toán cho bên nhận bảo đảm là TCTD đã làm giảm số tiền thu hồi nợ của TCTD, nhiều trường hợp số tiền bán TSBĐ không đủ thu hồi nợ cho TCTD nhưng vẫn phải nộp thuế, gây khó khăn cho cả bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm, ảnh hưởng lớn đến quyền lợi chủ nợ có bảo đảm của TCTD…

Thứ mười, về công tác phối hợp trong hoạt động thi hành án dân sự. Dù đã có Quy chế phối hợp giữa NHNN và Bộ Tư pháp về hoạt động thi hành án dân sự, tuy nhiên, tại một số địa phương do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau, hoạt động thi hành án ngân hàng còn chưa thật sự hiệu quả, nhiều vụ việc kéo dài… phát sinh nhiều chi phí cho đơn vị xử lý nợ.

Mười một, về việc giới hạn phạm vi lựa chọn tổ chức thẩm định giá. Báo cáo cho biết, việc giới hạn tổ chức thẩm định giá phải nằm trên địa bàn tỉnh, thành phố đã làm hạn chế cơ hội lựa chọn được tổ chức định giá có đủ uy tín, năng lực để thực hiện định giá tài sản. Nhiều địa phương còn thiếu tổ chức thẩm định giá hoặc năng lực của tổ chức thẩm định giá còn yếu, dẫn đến chất lượng thẩm định giá chưa cao. Thậm chí có khả năng xảy ra tình trạng thiếu minh bạch, câu kết giữa chấp hành viên – thẩm định giá viên – đấu giá viên…

Gỡ vướng bằng nhiều giải pháp đồng bộ

Với những khó khăn, vướng mắc như trên, để đảm bảo công tác xử lý nợ xấu theo Nghị quyết số 42 được triển khai có hiệu quả trên thực tế, các TCTD phấn đấu đạt mục tiêu về tỷ lệ nợ xấu theo Quyết định số 1058 đến cuối năm 2020, Chính phủ cho biết, sẽ tiếp tục chỉ đạo các bộ, ngành, UBND các tỉnh, thành phố, các giải pháp sau:

Thứ nhất, ban hành các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn cụ thể nhằm hỗ trợ các TCTD triển khai có hiệu quả Nghị quyết số 42 và chỉ đạo các cấp hỗ trợ tối đa cho các TCTD trong quá trình xử lý TSBĐ, thu hồi nợ;

Thứ ba, đẩy mạnh hơn nữa quá trình phân loại, sắp xếp các doanh nghiệp, trọng tâm là các doanh nghiệp nhà nước, thực hiện tái cơ cấu, nâng cao năng lực tài chính, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, tạo điều kiện để hệ thống các TCTD xử lý nợ xấu, lành mạnh hóa tài chính. Các bộ chủ quản chỉ đạo các Tập đoàn, Tổng công ty, đơn vị thành viên thực hiện nghĩa vụ trả nợ/nghĩa vụ bảo lãnh đối với các khoản vay tại các TCTD mà các đơn vị đứng ra bảo lãnh cho các công ty con, công ty thành viên;

Thứ năm, trên cơ sở thực tế áp dụng chính sách tại Nghị quyết số 42 và kết quả tổng kết, đánh giá việc thực hiện Quyết định số 1058 đến cuối năm 2020, NHNN nghiên cứu xây dựng trình Chính phủ Đề án cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn 2021-2025 nhằm tiếp tục hỗ trợ các TCTD trong việc xử lý hiệu quả nợ xấu, góp phần thực hiện thành công các mục tiêu về cơ cấu lại hệ thống các TCTD và chiến lược phát triển ngành Ngân hàng trong giai đoạn tiếp theo.

Cuối cùng, rà soát các chính sách về tín dụng, có các giải pháp nhằm hạn chế nợ xấu gia tăng (theo Thông báo số 3616/TB-TTKQH về kết luận của Ủy ban Thường vụ Quốc hội tại phiên họp thứ 45 tháng 5/2020 đợt 2).

Cùng với các giải pháp trên, Chính phủ kiến nghị và đề xuất với Quốc hội 3 giải pháp, gồm:

Thứ hai, về thực hiện nhiệm vụ giám sát. Chính phủ kiến nghị Quốc hội tiếp tục: Thực hiện quyền giám sát tối cao đối với quá trình triển khai, thực hiện Nghị quyết số 42 của Chính phủ, các địa phương, các cấp, các ngành và các tổ chức xã hội; (ii) Chỉ đạo các Đoàn Đại biểu Quốc hội tăng cường hoạt động giám sát việc thực hiện Nghị quyết số 42 tại địa phương.

Những Vướng Mắc Trong Thu Giữ Tài Sản Bảo Đảm Theo Nghị Quyết 42 Của Quốc Hội Và Giải Pháp Xử Lý

Nghị quyết 42 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của cá Tổ chức tín dụng ra đời đã tạo thuận lợi cho việc xử lý các khoản nợ xấu của các Tổ chức tín dụng. Nhiều Tổ chức tín dụng đã áp dụng triệt để các quy định của Nghị quyết 42 về thu giữ tài sản bảo đảm, mua bán các khoản nợ xấu, cơ cấu lại thời hạn trả nợ, bán tài sản bảo đảm là các dự án bất động sản…để giảm tỷ lệ nợ xấu và tăng tỷ lệ an toàn vốn cho Tổ chức tín dụng. Bên cạnh những thuận lợi thì Nghị quyết 42 cũng bộc lộ một số bất cập cần được sửa đổi. Trong phạm vi của bài viết này chúng tôi muốn đề cập đến vướng mắc trong thu giữ tài sản theo Nghị quyết 42 của Quốc hội và kiến nghị để xử lý các vướng mắc này.

Tổ chức tín dụng được quyền thu giữ tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu khi đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 7 của Nghị quyết 42 của Quốc hội. Trong các điều kiện có quy định tại Hợp đồng bảo đảm có thỏa thuận khi khoản nợ quá hạn và khách hàng vay vốn không trả được nợ thì bên bảo đảm đồng ý để Tổ chức tín dụng được quyền thu giữ tài sản bảo đảm để xử lý thu hồi nợ.Tuy nhiên thực tế thu giữ tài sản bảo đảm phát sinh vướng mắc như sau:

1.1.Hợp đồng bảo đảm không có thỏa thuận về việc thu giữ tài sản bảo đảm nhưng Tổ chức tín dụng và khách hàng vay vốn, bên bảo đảm có thỏa thuận tại Biên bản làm việc về việc cho khách hàng kéo dài thời hạn trả nợ nếu hết thời gian này khách hàng không trả được nợ thì Tổ chức tín dụng sẽ tiến hành thu giữ tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu.

1.2. Hợp đồng bảo đảm chỉ quy định khi khoản nợ quá hạn và khách hang vay vốn không trả được nợ thì Tổ chức tín dụng có quyền áp dụng tất cả các biện pháp xử lý theo quy địnhpháp luật để xử lý tài sản bảo đảm thu hồi nợ.

Hiện nay có hai quan điểm về việc xử lý vướng mắc nêu trên cụ thể:

Quan điểm 1: Không đồng ý thu giữ tài sản bảo đảm vì không tuân thủ điều kiện thu giữ theo Nghị quyết 42 của Quốc hội. Mặc dù khách hàng vay vốn, bên bảo đảm có thỏa thuận về việc thu giữ tài sản nhưng thỏa thuận này không được ghi trong Hợp đồng bảo đảm nên không đủ điều kiện thu giữ. Đối với trường hợp 1.2 do không ghi cụ thể hình thức xử lý là thu giữ tài sản bảo đảm nên cũng không đủ điều kiện thu giữ theo Nghị quyết 42 của Quốc hội.

Quan điểm 2: Đối với mục 1.1 nêu trên đồng ý thu giữ tài sản bảo đảm theo Nghị quyết 42 của Quốc hội. Đối với mục 1.2 thì không đồng ý vì thỏa thuận ghi trong hợp đồng bảo đảm không rõ ràng nên không có căn cứ xác định đủ điều kiện thu giữ theo Nghị quyết 42.

Chúng tôi đồng ý với quan điểm 2 với các lý do sau: bản chất thỏa thuận ghi trong hợp đồng bảo đảm hay ghi trong Biên bản làm việc giữa Tổ chức tín dụng, khách hàng vay vốn và bên bảo đảm đều thể hiện ý chí của bên bảo đảm về việc đồng ý để Tổ chức tín dụng thực hiện quyền thu giữ tài sản bảo đảm khi khách hàng vay vốn không trả được nợ theo thỏa thuận. Sự thỏa thuận này là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc, cưỡng ép. Bên cạnh đó bên bảo đảm và Tổ chức tín dụng đã giao kết Hợp đồng bảo đảm và Hợp đồng này được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định pháp luật. Vì vậy, Tổ chức tín dụng được quyền thu giữ tài sản bảo đảm theo Nghị quyết 42 của Quốc hội.

Đối với mục 1.2 không đồng ý thu giữ theo Nghị quyết 42 vì thỏa thuận không chỉ rõ các biện pháp theo quy định của pháp luật gồm biện pháp thu giữ tài sản nên không có căn cứ để thu giữ tài sản bảo đảm theo Nghị quyết 42 của Quốc hội.

2.Về sự phối hợp của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn trong công tác thu giữ tài sản bảo đảm theo Nghị quyết 42 của Quốc hội.

Khoản 5 Điều 7 Nghị quyết 42 quy định như sau:

Chính quyền địa phương các cấp và cơ quan Công an nơi tiến hành thu giữ tài sản bảo đảm, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện việc bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội trong quá trình thu giữ tài sản bảo đảm theo đề nghị của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu. Trường hợp bên bảo đảm không hợp tác hoặc không có mặt theo thông báo của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu, đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã nơi tiến hành thu giữ tài sản bảo đảm tham gia chứng kiến và ký biên bản thu giữ tài sản bảo đảm “.

Tuy nhiên thực tế vẫn còn một số Ủy ban nhân dân nơi có tài sản thu giữ chưa thật sự phối hợp, tạo điều kiện cho Tổ chức tín dụng thực hiện quyền thu giữ tài sản bảo đảm theo Nghị quyết 42 của Quốc hội. Biểu hiện của sự không hợp tác, gây khó khăn thể hiện dưới các hình thức sau:

3.Về việc chiếm giữ tài sản bảo đảm khi thu giữ

Bên bảo đảm luôn tìm mọi cách để cản trở Tổ chức tín dụng trong việc thu giữ tài sản, biểu hiện của sự chống đối thể hiện dưới các hành vi sau:

– Sử dụng người già, trẻ em, người có công với cách mạng chiếm giữ tài sản bảo đảm, không ra khỏi tài sản bảo đảm theo yêu cầu của Tổ chức tín dụng;

Theo quy định của Nghị quyết 42 thì lực lượng Công an chỉ có trách nhiệm đảm bảo an ninh trât tự trong khi thu giữ tài sản. Như vậy đối với trường hợp bên bảo đảm không gây mất trật tự, an ninh thì lực lượng Công an cũng không thể buộc bên bảo đảm hay các đôi tượng bên bảo đảm sử dụng để chiếm giữ tài sản phải ra khỏi tài sản theo yêu cầu của Tổ chức tín dụng.

Trong trường hợp này các Tổ chức tín dụng có cách xử lý khác nhau: Có Tổ chức tín dụng dừng việc thu giữ vì đánh giá là không thu được tài sản và chuyển biện pháp khởi kiện khách hàng vay vốn, bên bảo đảm ra Tòa án để phát mại tài sản bảo đảm. Ngược lại có Tổ chức tín dụng thực hiện quyền của bên nhận thế chấp tài sản theo thỏa thuận tại Hợp đồng bảo đảm ‘ yêu cầu bên bảo đảm giao tài sản để xử lý vì bên bảo đảm không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình như thoả thuận tại Hợp đồng bảo đảm”. Tổ chức tín dụng thuê lực lượng bảo vệ chiếm giữ tài sản theo hình thức đưa người vào cùng ăn, cùng ở với bên bảo đảm, dùng lời nói, hành vi gây áp lực với bên bảo đảm buộc họ phải ra khỏi tài sản hoặc nộp tiền trả nợ. Tuy nhiên hình thưc này có thể gây rủi ro cho Tổ chức tín dụng khi lực lượng bảo vệ có hành vi trái quy định pháp luật (khóa cửa, nhốt bên bảo đảm không cho ra khỏi tài sản, gây mất trật tự trị an…). Những hành vi này có dấu hiệu tội ” Xâm phạm chỗ ở của người khác” và ” Bắt giữ người trái pháp luật ” và có thể bị xử lý hình sự.

Theo quan điểm của chúng tôi việc Tổ chức tín dụng sử dụng lực lượng bảo vệ thực hiện quyền chiếm giữ tài sản bảo đảm chỉ có thể thực hiện dược khi bên bảo đảm đồng ý bàn giao tài sản cho Tổ chức tín dụng. Trường hợp Tổ chức tín dụng đã yêu cầu bên bảo đảm bàn giao tài sản (theo quy định tại Điều 301 Bộ luật Dân sự năm 2015 và thỏa thuận tại Hợp đồng bảo đảm) mà bên bảo đảm không thực hiện và Tổ chức tín dụng đã thực hiện việc thu giữ tài sản theo Nghị quyết 42 của Quốc hội nhưng chưa chiếm giữ được tài sản thì Tổ chức tín dụng buộc phải khởi kiện ra Tòa án theo quy định tại Điều 301 Bộ luật Dân sự năm 2015 bởi lẽ:

+ Nghị quyết 42 của Quốc hội cho phép các Tổ chức tín dụng được quyền thu giữ tài sản bảo đảm, nhưng không có quy định nào cho phép Tổ chức tín dụng được quyền cưỡng chế buộc bên bảo đảm bàn giao tài sản bảo đảm đối với trường hợp bên bảo đảm không ra khỏi tài sản khi được yêu cầu.

Đối chiếu với quy định nêu trên thì mọi hành vi đưa người vào chiếm giữ tài sản bảo đảm bằng hình thức khóa cửa, hành hung chủ tài sản, gây mất trật tự tại tài sản với mục đích ép chủ tài sản phải ra khỏi tài sản bảo đảm đều là hành vi vi phạm quy định của Bộ luật Hình sự và sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.

3.Về việc di chuyển tài sản của bên bảo đảm sau khi thu giữ

Thực tế thu giữ tài sản cho thấy có một số trường hợp tài sản trống (bên bảo đảm bỏ tài sản) nhưng bên trong tài sản bảo đảm có nhiều tài sản của bên bảo đảm nhưng không thuộc tài sản thế chấp (giường, tủ, két sắt, bàn làm việc, bàn thờ…) khi Tổ chức tín dụng tiến hành thu giữ tài sản cần phải xử lý đối với các tài sản này để đảm bảo việc bàn giao tài sản cho người trúng đấu giá.

Hầu hết các Tổ chức tín dụng đều thuê Thừa phát lại và chính quyền kiểm đếm và chứng kiến kiểm đếm niêm phong các tài sản của bên bảo đảm, sau đó thông báo cho bên bảo đảm về việc di chuyển tài sản này ra khỏi tài sản bảo đảm trong thời gian nhất định (ví dụ 30 ngày kể từ ngày Tổ chức tín dụng thông báo). Sau thời hạn nêu trên nếu bên bảo đảm không di dời tài sản thì Tổ chức tín dụng sẽ thuê địa điểm và tiến hành di chuyển tài sản về địa điểm trông giữ mà Tổ chức tín dụng đã chuẩn bị. Việc di chuyển tài sản của bên bảo đảm trong nhiều trường hợp mất rất nhiều chi phí đặc biệt bảo quản các tài sản là chất lỏng, chất dễ cháy…

Để việc thu giữ tài sản bảo đảm theo Nghị quyết 42 của Quốc hội được hiệu quả đẩy nhanh quá trình xử lý thu hồi các khoản nợ xấu chúng tôi kiến nghị cần sửa đổi, bổ sung Nghị quyết 42 như sau:

Đối với điều kiện thu giữ tài sản: Nghị quyết 42 cần sửa đổi quy định tại điểm b khoản 1 Điều 7 theo hướng Tổ chức tín dụngđược quyền thu giữ tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu khi đáp ứng các quy định tại Điều 7 của Nghị quyết này, tuy nhiên sửa đổi cụm từ ” tại Hợp đồng bảo đảm có thỏa thuận về thu giữ tài sản bảo đảm” thành “có thỏa thuận về việc thu giữ tài sản bảo đảm bằng văn bản ” giữa Tổ chức tín dụng với Bên bảo đảm.

Về tổ chức thu giữ tài sản: Nghị quyết 42 cần quy định rõ Tổ chức tín dụng sau khi tiến hành đầy đủ thủ tục thu giữ tài sản bảo đảm và đã tiến hành thu giữ nhưng chưa chiếm giữ và quản lý tài sản bảo đảm do bên bảo đảm không ra khỏi tài sản bảo đảm thì phải khởi kiện ra Tòa án có thẩm quyền để phát mại tài sản bảo đảm thu hồi nợ cho Tổ chức tín dụng.

Xử Lý Nợ Xấu Theo Nghị Quyết 42 Còn Vướng Ở Đâu?

Riêng về kết quả xử lý nợ xấu được xác định theo Nghị quyết 42, lũy kế từ 15/8/2017 đến cuối tháng 8/2019, toàn hệ thống tổ chức tín dụng đã xử lý được 236,8 nghìn tỷ đồng (không bao gồm sử dụng dự phòng rủi ro và khoản nợ bán cho VAMC thông qua phát hành trái phiếu đặc biệt).

Trong đó, xử lý nợ xấu nội bảng đạt 137,7 nghìn tỷ đồng; xử lý các khoản nợ đang hạch toán ngoài bảng cân đối kế toán xác định theo Nghị quyết 42 là 47,97 nghìn tỷ đồng; xử lý các khoản nợ xấu xác định theo Nghị quyết 42 đã bán cho VAMC được thanh toán bằng trái phiếu đặc biệt là 51,12 nghìn tỷ đồng.

Như vậy, tính trung bình, mỗi tháng toàn hệ thống xử lý được khoảng 9,6 nghìn tỷ đồng, cao hơn 4,7 nghìn tỷ đồng so với kết quả xử lý nợ xấu trung bình trước khi Nghị quyết 42 có hiệu lực.

Bên cạnh đó, đến thời điểm cuối tháng 8/2019, các tổ chức tín dụng đã sử dụng 123,89 nghìn tỷ đồng dự phòng rủi ro để xử lý nợ xấu nội bảng.

Khó khăn trong triển khai

Còn tại một hội nghị gần đây về Nghị quyết 42 do Ngân hàng Nhà nước tổ chức, ông Phạm Toàn Vượng, Phó Tổng giám đốc Agribank chia sẻ: “Sau 2 năm Nghị quyết 42 ra đời, Agribank đã xử lý được gần 110 nghìn tỷ đồng. Đến nay, ngân hàng đã mua lại 100% nợ xấu đã bán cho VAMC. Đây là kết quả rất lớn và vượt xa so với trước khi Nghị quyết 42 ra đời”.

Theo đánh giá của Ngân hàng Nhà nước, nợ xấu theo Nghị quyết 42 đã xử lý được một bước quan trọng nhưng vẫn gặp phải không ít khó khăn trong việc triển khai.

Cụ thể, về áp dụng thủ tục rút gọn trong giải quyết tranh chấp về nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm và xử lý tài sản bảo đảm, ngày 15/5/2018, Hội đồng Thẩm phán đã ban hành Nghị quyết số 03/2018/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng thủ tục rút gọn trong giải quyết tranh chấp về nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm, tranh chấp về quyền xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu…

Tuy nhiên, hiện nay, số lượng các vụ việc xử lý nợ xấu thông qua thủ tục rút gọn tại Tòa án còn hạn chế, phần nào ảnh hưởng đến hiệu quả thu hồi nợ.

Về việc hoàn trả tài sản bảo đảm là vật chứng trong vụ án hình sự, hiện chưa có văn bản quy phạm pháp luật giải thích cụ thể về việc “ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và thi hành án” theo quy định tại Điều 14 Nghị quyết số 42.

Do đó, việc có hoàn trả vật chứng trong vụ án hình sự là tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu hay không sẽ phụ thuộc nhiều vào quan điểm của cơ quan tiến hành tố tụng.

Đồng thời, chưa có hướng dẫn về cơ chế xác định sớm hữu hiệu trong quá trình thẩm định, để xác định tài sản nào đang tranh chấp, tài sản nào đang phải áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, dẫn đến cách hiểu về tài sản tranh chấp giữa các cơ quan tố tụng tại nhiều nơi, nhiều cấp khác nhau, gây khó khăn khi áp dụng các biện pháp xử lý tài sản theo Nghị quyết số 42.

Tòa án nhân dân tối cao xem xét, phối hợp với Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp (Tổng cục Thi hành án dân sự) sớm có văn bản chỉ đạo về việc hoàn trả các tài sản bảo đảm là vật chứng của vụ án hình sự sau khi đã hoàn tất các thủ tục xác minh chứng cứ quy định tại Nghị quyết 42.