Website Pháp Luật Việt Nam / Top 10 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 4/2023 # Top View | Bac.edu.vn

Khái Quát Quy Định Về Tên Miền Website Theo Pháp Luật Việt Nam

Trang thông tin điện tử (website) là hệ thống thông tin dùng để thiết lập một hoặc nhiều trang thông tin được trình bày dưới dạng ký hiệu, số, chữ viết, hình ảnh, âm thanh và các dạng thông tin khác phục vụ cho việc cung cấp và sử dụng thông tin trên Internet. Để thiết lập một website, doanh nghiệp cần phải lựa chọn và mua cho mình một tên miền để định danh website của mình.

Vì vậy, doanh nghiệp cần nắm được khái quát quy định về tên miền website theo pháp luật Việt Nam sau đây:

1. Khái quát về tên miền và các loại tên miền:

1.1. Tên miền là tên được sử dụng để định danh địa chỉ Internet của máy chủ gồm các dãy ký tự cách nhau bằng dấu chấm “.”. Tên miền bao gồm:

-Tên miền dùng các kí tự dựa trên cơ sở bảng mã ASCII còn gọi là tên miền mã ASCII;

– Tên miền dùng bảng chữ cái dựa trên cơ sở ngôn ngữ truyền thống của từng quốc gia, còn gọi là tên miền đa ngữ (IDN).

1.2. Tên miền cấp cao nhất là dãy ký tự cuối cùng trong cấu trúc tên miền toàn cầu. Tên miền cấp cao nhất (TLD) bao gồm:

– Tên miền chung cấp cao nhất (gTLD) là các tên miền “.com”; “.net”; “.edu”; “.org”; “.int”; “.biz”; “.info”; “.name”; “.pro”; “.aero”; “.museum”; “.coop” và những tên miền chung cấp cao nhất khác;

– Tên miền quốc gia cấp cao nhất (ccTLD) làtên miền cấp cao nhất dành riêng cho mỗi quốc gia và vùng lãnh thổ quy định theo chuẩn quốc tế về mã quốc gia (ISO-3166), trong đó tên miền “.vn” là tên miền quốc gia Việt Nam cấp cao nhất.

1.3. Tên miền chung mới cấp cao nhất (New gTLD) là tên miền chung cấp cao nhất (gTLD) được Tổ chức quản lý tên miền quốc tế – ICANN mở rộng cấp phát trực tiếp cho các tổ chức, cá nhân trên thế giới theo Chương trình mở rộng đuôi tên miền dùng chung cấp cao nhất của ICANN (Chương trình New gTLD).

1.4. Tên miền quốc gia Việt Nam là tập hợp tên miền các cấp dưới tên miền quốc gia Việt Nam cấp cao nhất “.vn” (sau đây gọi chung là tên miền “.vn”) và tên miền các cấp dưới tên miền cấp cao nhất khác thuộc quyền quản lý của Việt Nam.

1.4. Tên miền quốc tế là tên miền các cấp dưới tên miền chung cấp cao nhất (gTLD) và tên miền các cấp dưới tên miền quốc gia cấp cao nhất (ccTLD), ngoài tên miền quốc gia Việt Nam.

9. Tên miền các cấp (cấp 2, cấp 3, …) là các dãy ký tự tạo nên tên miền theo trật tự lần lượt nằm dưới tên miền cấp cao nhất.

2. Quy định chung về quyền và nghĩa vụ của tổ chức cá nhân đăng ký tên miền

Tổ chức, cá nhân khi đăng ký tên miền phải tuân thủ quy định chung về quyền và nghĩa vụ đăng ký tên miền quy định tại Điều 12 Nghị định 72/2013/NĐ-CP về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng. Cụ thể:

– Mọi tổ chức, cá nhân đều có quyền đăng ký tên miền quốc gia Việt Nam “.vn” và tên miền quốc tế.

– Việc đăng ký tên miền quốc gia Việt Nam “.vn” thực hiện thông qua nhà đăng ký tên miền “.vn”.

– Việc đăng ký tên miền quốc gia Việt Nam “.vn” thực hiện theo các nguyên tắc sau đây:

+ Bình đẳng, không phân biệt đối xử;

+ Đăng ký trước được quyền sử dụng trước, trừ các tên miền được dành cho đấu giá theo quy định của pháp Luật;

+ Tuân thủ các quy định về bảo vệ tên miền quốc gia Việt Nam “.vn” theo Điều 68 Luật công nghệ thông tin;

+ Tuân thủ quy định về đấu giá, chuyển nhượng quyền sử dụng tên miền theo quy định của Luật viễn thông.

– Tên miền do tổ chức, cá nhân đăng ký phải bảo đảm không có cụm từ xâm phạm đến lợi ích quốc gia hoặc không phù hợp với đạo đức xã hội, thuần phong, mỹ tục của dân tộc; phải thể hiện tính nghiêm túc để tránh sự hiểu nhầm hoặc xuyên tạc do tính đa âm, đa nghĩa hoặc khi không dùng dấu trong tiếng Việt.

– Tên miền là tên gọi của tổ chức Đảng, cơ quan Nhà nước chỉ dành cho tổ chức Đảng, cơ quan Nhà nước; tổ chức, cá nhân khác không được đăng ký, sử dụng các tên miền này.

– Cơ quan, tổ chức chỉ được cấp tên miền dưới tên miền đã đăng ký cho các đơn vị thành viên, các cá nhân đang làm việc trong cơ quan, tổ chức của mình và phải có trách nhiệm quản lý các tên miền cấp dưới mà mình đã cấp; không cấp tên miền dưới tên miền của mình cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác. – Báo điện tử, trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử của các cơ quan Đảng, Nhà nước phải sử dụng ít nhất 01 tên miền “.vn” và lưu giữ thông tin tại hệ thống máy chủ có địa chỉ IP ở Việt Nam.”

Thành Lập Website Thương Mại Điện Tử Bán Hàng Tại Việt Nam

Hoạt động thương mại điện tử là một xu hướng tất yếu khi công nghệ phát triển và có vai trò quan trọng trong cuộc sống. Ngôn ngữ quen thuộc chúng ta thường nghe là “bán hàng qua mạng”. Hiện nay, hình thức kinh doanh này không chỉ giới hạn ở những cá nhân nhỏ lẻ, mà đang trở thành công cụ để các chủ thể kinh doanh cạnh tranh với nhau. Bán hàng thông qua website giúp cắt giảm nhiều loại chi phí như thuê mặt bằng, kho hàng, chi phí nhân công… giúp giảm giá bán mà thu hút được khách hàng.

Hoạt động thương mại điện tử được quy định cụ thể tại Nghị định 52/2013, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 07 năm 2013. Theo đó, các thương nhân, tổ chức, cá nhân có thể tự thiết lập website thương mại điện tử để phục vụ hoạt động xúc tiến thương mại, bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ của mình.

Căn cứ pháp lý:

Nghị định 52/2013/ NĐ-CP về Thương mại điện tử;

Thông tư 47/2014/ TT- BTC Quy định quản lý website thương mại điện tử.

Điều kiện thiết lập website thương mại điện tử bán hàng:

Là thương nhân, tổ chức hoặc cá nhân đã được cấp mã số thuế cá nhân

Như vậy, các thương nhân như doanh nghiệp có mã số thuế được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, các hộ kinh doanh cá thể có mã số thuế cá nhân, tổ chức khác có mã số thuế sẽ là chủ thể thiết lập website thương mại điện tử bán hàng.

Có website thuộc sở hữu của thương nhân, tổ chức, cá nhân thiết lập

Lưu ý trên “Trang chủ” của website cần phải hiển thị đầy đủ các thông tin sau:

Cập nhật đầy đủ thông tin về sản phẩm, dịch vụ do công ty cung cấp

Chính sách & Quy định chung (Bao gồm các điều kiện hạn chế, tiêu chuẩn dịch vụ, quy trình, quy định, nghĩa vụ các bên…. nếu có)

Quy định và hình thức thanh toán: Lưu ý nếu website thương mại điện tử có chức năng thanh toán trực tuyến, thương nhân, tổ chức, cá nhân phải thiết lập cơ chế để khách hàng sử dụng chức năng này được rà soát và xác nhận thông tin chi tiết về từng giao dịch thanh toán trước khi thực hiện việc thanh toán.

Chính sách vận chuyển/giao nhận/cài đặt, bao gồm:

Thương nhân, tổ chức, cá nhân phải công bố những thông tin sau về điều kiện vận chuyển và giao nhận áp dụng cho hàng hóa hoặc dịch vụ giới thiệu trên website:

Các phương thức giao hàng hoặc cung ứng dịch vụ;

Thời hạn ước tính cho việc giao hàng hoặc cung ứng dịch vụ, có tính đến yếu tố khoảng cách địa lý và phương thức giao hàng;

Các giới hạn về mặt địa lý cho việc giao hàng hoặc cung ứng dịch vụ, nếu có.

Trường hợp phát sinh chậm trễ trong việc giao hàng hoặc cung ứng dịch vụ, thương nhân, tổ chức, cá nhân phải có thông tin kịp thời cho khách hàng và tạo cơ hội để khách hàng có thể hủy hợp đồng nếu muốn.

e) Chính sách bảo hành/bảo trì (nhóm hàng hóa/dịch vụ có bảo hành)

f) Chính sách đổi/trả hàng và hoàn tiền

Chính sách hoàn trả, bao gồm thời hạn hoàn trả, phương thức trả hoặc đổi hàng đã mua, cách thức lấy lại tiền, chi phí cho việc hoàn trả này;

g) Chính sách bảo vệ thông tin cá nhân của người tiêu dùng, bao gồm:

Hiển thị đầy đủ thông tin về chủ sở hữu website (Ví dụ: chân trang chủ), bao gồm: Tên đơn vị, địa chỉ, điện thoại, email và Số giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, ngày cấp, nơi cấp.

Sử dụng ngôn ngữ Tiếng Việt cho website.

Đã thông báo với Bộ Công Thương về việc thiết lập website thương mại điện tử bán hàng

Mục đích thu thập thông tin cá nhân;

Phạm vi sử dụng thông tin;

Thời gian lưu trữ thông tin;

Những người hoặc tổ chức có thể được tiếp cận với thông tin đó;

Phương thức và công cụ để người tiêu dùng tiếp cận và chỉnh sửa dữ liệu cá nhân của mình trên hệ thống thương mại điện tử của đơn vị thu thập thông tin.

Thủ tục thông báo website thương mại điện tử bán hàng

Sau khi hoàn thiện các nội dung trên website thương mại điện tử bán hàng, thương nhân, tổ chức, cá nhân tiến hành thông báo với Bộ công thương thông qua website online.gov.vn để được xét duyệt mà không phải nộp hồ sơ bản giấy.

Bước 1: Đăng ký tài khoản đăng nhập với những thông tin sau:

Tên thương nhân, tổ chức, cá nhân;

Số đăng ký kinh doanh của thương nhân hoặc số quyết định thành lập của tổ chức hoặc mã số thuế cá nhân của cá nhân;

Lĩnh vực kinh doanh/hoạt động;

Địa chỉ trụ sở của thương nhân, tổ chức hoặc địa chỉ thường trú của cá nhân;

Các thông tin liên hệ.

Bước 2: Chờ xác nhân đăng ký tài khoản thành công

Trong vòng 3 ngày làm việc, nếu thông tin đầy đủ, thương nhân, tổ chức, cá nhân được cấp tài khoản đăng nhập và qua bước 3;

Nếu việc đăng ký tài khoản bị từ chối hoặc có yêu cầu bổ sung, thương nhân, tổ chức, cá nhân phải tiến hành đăng ký lại hoặc bổ sung theo yêu cầu.

Bước 3: Sau khi được cấp tài khoản, thương nhân, tổ chức, cá nhân tiến hành đăng nhập và thực hiện chức năng thông báo. Bước 4: Trong vòng 3 ngày làm việc, Bộ Công thương sẽ phản hồi thông qua địa chỉ thư điện tử một trong các nội dung sau:

Xác nhận thông tin khai báo đầy đủ, hợp lệ;

Cho biết thông tin khai báo chưa đầy đủ hoặc không hợp lệ; quay lại bước 3 để sửa đổi hoặc bổ sung thông tin. Trong vòng 10 ngày làm việc kể từ nhận được thông báo yêu cầu bổ sung thông tin mà thương nhân, tổ chức, cá nhân không có phản hồi thì hồ sơ thông báo bị chấm dứt và tiến hành thông báo lại từ bước 3.

Thương nhân, tổ chức, cá nhân thực hiện thông báo tại Cổng thông tin Quản lý hoạt động thương mại điện tử: online.gov.vn các bước thực hiện như sau:

Kết quả: Bộ Công thương sẽ gửi cho thương nhân, tổ chức, cá nhân một đoạn mã để gắn lên website thương mại điện tử bán hàng và thể hiện dưới dạng một biểu tượng. Biểu tượng này sẽ dẫn người sử dụng đến những thông tin của thương nhân, tổ chức, cá nhân tại Cổng thông tin Quản lý hoạt động thương mại điện tử như sau:

Nội dung tư vấn của Luật Việt An

Tư vấn thiết lập website thương mại điện tử bán hàng;

Tư vấn hoàn thiện các chính sách, quy định đăng tải trên website phù hợp với quy định của pháp luật;

Tư vấn và hướng dẫn thủ tục thông báo website thương mại điện tử bán hàng với Bộ công thương.

Pháp Luật Rừng Rú Tại Việt Nam.

Posted on by Doi Thoai

Thứ Năm, ngày 20 tháng 11 năm 2014 Blog Dân Oan

Được sống trong một đất nước pháp quyền , nơi mà luật pháp được tôn trọng và thực thi nghiêm chỉnh là một mong ước xa vời của người dân Việt Nam .

Ở Việt Nam hiện nay luật pháp chỉ là một trò hề , đồng thời những kẻ thực thi pháp luật mang danh nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam luôn sẵn sàng vì lợi ích của chúng mà trà đạp lên luật pháp do chính chúng tạo ra .

Để thỏa mãn lòng tham tiền bạc và quyền lực , chúng có thể bất chấp đạo lý con người và làm những việc như dụ dỗ , đánh đập , ăn cướp , khủng bố , tra tấn người dân vô tội .

Hiện nay đất đai đã và đang là một miếng mồi béo ngậy mà bọn quan tham luôn thèm muốn . Chúng sẵn sàng huy động công an , bộ đội , dân phòng , xã hội đen để tổ chức ăn cướp đất của những người dân . việc ăn cướp này đã diễn ra từ bắc vào nam , đẩy hàng vạn người dân vào cảnh thất nghiệp , nghèo khổ . Các vụ cướp ” nổi tiếng ” ( ở quy mô ăn cướp , mức độ tàn bạo trong hành vi ăn cướp ) của nhà cầm quyền có thể kể đến là các vụ Văn Giang – Hưng Yên , Tiên Lãng – Hải Phòng , và mới đây nhất là trận càn cướp đất ngày 25/04/2014 của 356 hộ nông dân Dương Nội – Hà Đông – Hà Nội .

Các hành động cướp bóc trắng trợn , tàn bạo của nhà cầm quyền bất chấp luật pháp đã gây ra một làn sóng bất mãn trong nhân dân , tuy còn âm ỉ nhưng có thể bùng phát bất cứ khi nào , không sớm thì muộn những con người bị áp bức bóc lột sẽ đoàn kết lại để đòi lại công lý , nhân phẩm , nhân quyền đã bị tước đoạt , khi ấy Việt Nam sẽ bước sang một trang sử mới .

Fb TB

Share this:

Twitter

Facebook

Like this:

Số lượt thích

Đang tải…

Việt Nam Thuộc Hệ Thống Pháp Luật Nào?

10950

Ngày nay, hệ thống pháp luật Việt Nam có đặc trưng của hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa kết hợp những yếu tố ngoại lai do quá trình hội nhập kinh tế với phương Tây kể từ thời kỳ đổi mới.

Quan niệm về pháp luật

Ở Việt Nam và các nước thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa, lấy học thuyết Mác – Lênin làm nền tảng phát triển cho toàn xã hội, trong đó có lĩnh vực pháp lý. Pháp luật là sự thể chế hóa đường lối của chính trị, công cụ của giai cấp thống trị dùng để đảm bảo cho lợi ích kinh tế và giữ vững nền chuyên chính. Trong quan điểm này, luật không thể sinh ra từ khu vực “tư”, đó là một luận điểm của Lênin. Khẳng định theo Lênin rằng: “Mọi pháp luật đều là luật công, đó chỉ là một phương thức khác thể hiện tư tưởng: Mọi quan hệ pháp lý đều tuân theo tư tưởng chính trị và quy phạm pháp luật không thể là sự phản ánh cho những nguyên tắc công lý tiêu biểu cho chúng” . Bị ảnh hưởng sâu sắc bởi hệ tư tưởng trên, pháp luật Việt Nam là sự thể chế hóa các chính sách của Đảng cộng sản cầm quyền.

Các đặc trưng pháp lý

– Cơ quan ban hành luật

Việc ban hành Hiến pháp và các đạo luật ở Việt Nam thuộc thẩm quyền của Quốc hội (Điều 70 Hiến pháp năm 2013). Bên cạnh đó, các cơ quan khác như Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án cũng có quyền ban hành những văn bản có tính chất luật (được quy định trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008). Điều này có căn nguyên bởi cơ chế tập quyền Quốc hội, là nơi tập trung quyền lực lớn nhất (về nguyên tắc) sẽ có quyền thiết lập hệ thống pháp luật cho quốc gia và áp dụng các đạo luật do Quốc hội ban hành là yêu cầu bắt buộc đối với thẩm phán trong quá trình xử án.

– Thủ tục xét xử

Ở Việt Nam, việc xét – hỏi do thẩm phán thực hiện, cáo buộc người phạm tội (các tội hình sự) là do Viện kiểm sát (đồng thời là cơ quan kiểm sát tư pháp), các luật sư chỉ thực hiện tranh tụng dựa trên cơ sở những chứng cứ tự thu thập được.

– Nền pháp chế

Nền pháp chế của Việt Nam được gọi tên “Pháp chế xã hội chủ nghĩa”, coi trọng việc lấp đầy các lỗ hổng pháp lý bằng quy phạm pháp luật do cơ quan lập pháp ban hành. Nguyên tắc pháp chế đòi hỏi sự thống nhất cao độ hay tính pháp điển của hệ thống các quy phạm thành văn. Cơ quan thực thi pháp luật và xét xử bắt buộc phải tuân thủ các quy tắc pháp lý định sẵn, do vậy tính sáng tạo trong các cơ quan này rất hạn chế. Sau cùng, nó đòi hỏi tất cả công dân và các cơ quan nhà nước đều phải tuân thủ nền pháp luật được làm ra bởi cơ quan lập pháp. Nền pháp chế Việt Nam mang đặc trưng lý tưởng của nền pháp chế xã hội chủ nghĩa, nhưng bị khập khiễng bởi tư duy lập pháp hay thay đổi cộng với nền tư pháp thiếu độc lập.

Nguồn của luật

Dựa trên nền tảng của hai yếu tố: “Công hữu hóa tư liệu sản xuất và sự thiết lập chính quyền nhân dân”, pháp luật xã hội chủ nghĩa thiết lập các hình thức pháp luật thông qua kỹ thuật lập pháp. Pháp luật Việt Nam cũng bị chi phối bởi nền tảng trên để xây dựng nguồn pháp luật của mình. Hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay về nguyên tắc chỉ coi văn bản quy phạm pháp luật là nguồn duy nhất và “là hình thức pháp lý tiến bộ nhất” so với các loại nguồn luật khác. Có thể dẫn ra mấy lý do như sau: Một là, sự coi trọng nguyên tắc tập trung quyền lực vào Quốc hội dẫn đến thiết lập thẩm quyền tối cao về lập pháp cho cơ quan này; Hai là, bị ảnh hưởng bởi truyền thống pháp luật xã hội chủ nghĩa không công nhận án lệ là một nguồn chính thức; Ba là, năng lực của các thẩm phán không hội đủ điều kiện để xây dựng nguồn luật từ án lệ.

Như vậy, ngoài những đặc thù của chế độ chính trị, việc Việt Nam không coi luật án lệ là một nguồn luật cũng bắt nguồn từ những nguyên nhân thực tế của một nền tư pháp ít được tin cậy. Hệ thống văn bản do Quốc hội và các cơ quan khác ban hành vẫn chiếm lĩnh một vị trí trọng yếu trong hệ thống pháp luật Việt Nam thời gian tới.

Vai trò của tư pháp

Hệ thống tư pháp ở Việt Nam được đặc trưng bởi hai cơ quan là Tòa án (cơ quan xét xử) và Viện kiểm sát ( cơ quan công tố và giám sát tư pháp). Cả Tòa án và Viện kiểm sát đều được tổ chức dựa trên sự phân cấp lãnh thổ hành chính. Có Tòa án tối cao và Tòa án cấp cao cho toàn quốc gia, Tòa án cấp tỉnh và Tòa án cấp huyện tương ứng với các cấp hành chính, ở cấp hành chính thấp nhất (cấp xã) không tổ chức Tòa án. Nhiệm kỳ của Chánh án Tòa án tối cao theo nhiệm kỳ của Quốc hội; chế độ bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức và nhiệm kỳ của thẩm phán, chế độ bầu cử và nhiệm kỳ của Hội thẩm do Luật Tổ chức tòa án quy định. Khoản 2 Điều 103 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”. Việt Nam cũng ghi nhận về yêu cầu độc lập của tư pháp trong cả Hiến pháp, nhưng thực tế tổ chức bộ máy tư pháp và cách tuyển lựa thẩm phán hiện nay dẫn đến tư pháp là một ngành vừa yếu, lại vừa thiếu, do đó, yêu cầu về sự độc lập của tư pháp chỉ minh chứng trên quy định.

Vấn đề bảo hiến

Bảo hiến không đơn thuần là kiểm tra xem một văn bản pháp luật có trái với Hiến pháp không? Thông qua việc kiểm hiến sẽ kiểm soát các hành vi của Chính phủ, thậm chí là hành vi của nhà lập pháp. Việc bảo hiến hiệu quả sẽ bảo vệ được dân chúng trước hành vi lạm dụng quyền lực của chính quyền cũng như tạo được hệ thống các văn bản thống nhất, đảm bảo quyền lợi của các bên trong quan hệ pháp luật. Hướng đến một cơ chế kiểm hiến hiệu quả là hướng đến một hệ thống pháp luật đề cao pháp quyền, đề cao các giá trị con người và một nhà nước hiệu quả.

Nguyễn Quang Đức Khoa Luật – ĐH Quốc gia Hà Nội

Ở Việt Nam hiện không có tố tụng hiến pháp, mặc dù có một vài thiết chế kiểm soát pháp luật từ Quốc hội nhưng không phát huy tác dụng. Một hệ thống pháp luật có số lượng văn bản khá đồ sộ, khoảng 13.500 văn bản quy phạm pháp luật còn hiệu lực thi hành và được bổ sung hàng ngày bởi tất cả các cơ quan có thẩm quyền ban hành luật. Việc thiếu một cơ chế kiểm hiến vì bất cứ lý do gì cũng đang làm cho trật tự pháp lý gặp phải những bất cập như truyền thông đưa tin, tạo nên những phản ứng không tốt từ phía xã hội. Việt Nam đã xây dựng quy trình tố tụng trong các lĩnh vực về dân sự, hình sự, hành chính, kinh tế, lao động, nhưng tố tụng Hiến pháp thì vẫn chỉ là kết quả nghiên cứu của các nhà luật học. Việc ban hành chồng chéo hay lẫn lộn về thẩm quyền vẫn đang hàng ngày diễn ra mà không hứa hẹn sẽ được chấm dứt khi nào là một thiệt hại rất lớn cho xã hội, cả về phương diện tư duy lập pháp.