Xây Dựng Bộ Luật Dân Sự Trở Thành Luật Chung Của Hệ Thống Pháp Luật

Theo chương trình kỳ họp thứ 9, Quốc hội sẽ nghe Báo cáo kết quả lấy ý kiến nhân dân và dự kiến tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Bộ luật dân sự (sửa đổi) và Báo cáo thẩm tra dự án Bộ luật dân sự (sửa đổi). Đây là lần sửa đổi lớn với mục đích xây dựng Bộ luật Dân sự thực sự trở thành luật chung của hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội được hình thành trên nguyên tắc tự do, tự nguyện, bình đẳng và tự chịu trách nhiệm giữa các bên tham gia; qua đó ghi nhận và bảo vệ tốt hơn các quyền của cá nhân, pháp nhân trong giao lưu dân sự; góp phần hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, ổn định môi trường pháp lý cho sự phát triển kinh tế – xã hội sau khi Hiến pháp năm 2013 được ban hành.

* Thể chế hóa đầy đủ, toàn diện các quan điểm, chủ trương của Đảng

Tại kỳ họp thứ 9, dự thảo Bộ luật dân sự (sửa đổi) được Quốc hội xem xét lần thứ 2 sau khi tổ chức lấy ý kiến nhân dân đóng góp vào 10 vấn đề lớn của dự thảo. Theo Báo cáo kết quả lấy ý kiến nhân dân và tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi), đa số ý kiến đánh giá dự thảo Bộ luật được xây dựng công phu, thể chế hóa được đầy đủ, toàn diện các quan điểm, chủ trương của Đảng đã được xác định tại Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, Cương lĩnh Xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội và Chiến lược Cải cách tư pháp; cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền con người, quyền công dân, về xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa… Những vấn đề bất cập, tồn tại của thực tiễn đặt ra trong quá trình tổng kết việc thi hành Bộ luật Dân sự năm 2005 về cơ bản đều đã có phương hướng giải quyết hợp lý trong dự thảo Bộ luật.

Tuy nhiên, bên cạnh những đánh giá tích cực, cũng có nhiều ý kiến cho rằng, dự thảo bộ luật vẫn còn nhiều lỗi về mặt kỹ thuật văn bản; một số quy định có nội dung hoặc chưa rõ ràng, chưa hợp lý hoặc chưa giải quyết được triệt để các vấn đề phát sinh trong thực tiễn giao lưu dân sự.

Những vấn đề này cần được khắc phục để bảo đảm quy định của Bộ luật Dân sự thực sự trở thành những chuẩn mực pháp lý trong ứng xử của người dân, trong hoạt động của các cơ quan có thẩm quyền; bảo đảm hành lang pháp lý thuận lợi, an toàn, ít rủi ro hơn cho người dân, cho các hoạt động kinh tế nói riêng và cho sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nói chung và trong hội nhập quốc tế.

* Cần ghi nhận sở hữu toàn dân là một hình thức sở hữu độc lập

Hình thức sở hữu là một trong 10 nội dung đưa ra lấy ý kiến nhân dân. Vấn đề này tồn tại hai loại ý kiến cơ bản. Đa số ý kiến nhất trí với quy định như trong dự thảo Bộ luật, theo đó, bên cạnh sở hữu riêng, sở hữu chung thì cần ghi nhận sở hữu toàn dân là một hình thức sở hữu độc lập. Loại ý kiến này cho rằng, Bộ luật dân sự cần ghi nhận hình thức sở hữu toàn dân để phù hợp với Hiến pháp (Điều 53), phù hợp với tầm quan trọng về khách thể của sở hữu toàn dân cũng như cơ chế thực hiện quyền sở hữu này.

Loại ý kiến thứ hai đề nghị, hình thức sở hữu được quy định trong Bộ luật dân sự chỉ bao gồm sở hữu riêng và sở hữu chung. Đối với sở hữu toàn dân, việc thực hiện quyền của chủ sở hữu đối với tài sản thuộc sở hữu toàn dân mang yếu tố chính trị – kinh tế rất phức tạp nên cần được điều chỉnh ở các luật chuyên ngành.

Chính phủ nhất trí theo loại ý kiến đa số nêu trên và cho rằng, việc Bộ luật dân sự quy định hình thức sở hữu toàn dân là cần thiết để cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013 trong chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc sở hữu toàn dân và trong tạo cơ chế pháp lý để Nhà nước thực hiện các quyền năng của chủ thể đại diện chủ sở hữu đối với tài sản thuộc sở hữu toàn dân trong các quan hệ dân sự.

* Xác định chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự

Hiện có ba loại ý kiến cơ bản về chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự. Đa số ý kiến nhất trí với quy định như trong dự thảo Bộ luật, theo đó, chủ thể quan hệ pháp luật dân sự bao gồm cá nhân, pháp nhân, còn về hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân thì Bộ luật dân sự quy định như là những thực thể pháp lý để thông qua đó, cá nhân thay mặt, đại diện cho các thành viên tham gia vào các quan hệ pháp luật dân sự.

Loại ý kiến thứ hai đề nghị, dự thảo bộ luật cần tiếp tục ghi nhận hộ gia đình và tổ hợp tác là các chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự như Bộ luật dân sự hiện hành vì đây là những thực thể đang tồn tại trong xã hội, tham gia vào nhiều quan hệ pháp luật dân sự, như quan hệ sử dụng đất, điện, nước…; phù hợp với các điều kiện đặc thù về kinh tế, văn hóa, xã hội, gia đình và lịch sử của nước ta. Các hạn chế, bất cập trong các quy định pháp luật về hộ gia đình, tổ hợp tác hiện nay là có thật nhưng có thể khắc phục được trong quá trình hoàn thiện pháp luật để tạo cơ sở pháp lý tốt hơn cho hộ gia đình, tổ hợp tác tồn tại và phát triển.

Chính phủ nhất trí theo loại ý kiến đa số nêu trên. Về hộ gia đình, Chính phủ cho rằng, xuất phát từ điều kiện và hoàn cảnh lịch sử của nước ta, hộ gia đình có vị trí và vai trò quan trọng trong việc tham gia sản xuất, kinh doanh nói chung và sản xuất nông nghiệp nói riêng.

Luật đất đai (từ năm 1993 đến nay) luôn quy định hộ gia đình là chủ thể được Nhà nước giao quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, Bộ luật dân sự năm 1995 và Bộ luật dân sự hiện hành đã cụ thể hóa vấn đề này bằng việc ghi nhận hộ gia đình là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự.

Tuy nhiên, thực tiễn thi hành pháp luật cho thấy, pháp luật đang điều chỉnh hộ gia đình ở trạng thái “tĩnh”, trong khi đó các quan hệ trong hộ gia đình, thành viên của hộ gia đình, người đại diện, tài sản chung, trách nhiệm pháp lý của các thành viên… thường có sự biến động (do tách, nhập, sinh, tử, kết hôn…). Điều đó đã làm phát sinh rất nhiều bất cập, hạn chế trong việc điều chỉnh các quan hệ dân sự có sự tham gia của hộ gia đình.

Tổng kết thi hành Bộ luật dân sự cho thấy, hộ gia đình cũng rất ít tham gia vào các quan hệ pháp luật dân sự với tư cách là chủ thể của các quan hệ này. Mặt khác, thực chất đó là sự tham gia của cá nhân thành viên, vì họ (chủ hộ hoặc thành viên hộ gia đình) chính là người có quyền, nghĩa vụ dân sự và chịu trách nhiệm dân sự vô hạn bằng toàn bộ tài sản riêng của mình trong các quan hệ pháp luật dân sự mà hộ gia đình tham gia. Thực tiễn xét xử cũng cho thấy, hầu như không có nguyên đơn hoặc bị đơn là hộ gia đình.

Về tổ hợp tác, Chính phủ cho rằng, tổ hợp tác là thực thể pháp lý đã và đang tham gia giao lưu dân sự, đóng vai trò nhất định trong việc phát triển kinh tế – xã hội, đặc biệt góp phần xóa đói giảm nghèo ở khu vực nông thôn, miền núi, khu vực có khó khăn. Tuy nhiên, xét về phương diện chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự thì tổ hợp tác thực chất là một nhóm cá nhân liên kết và tham gia quan hệ dân sự thông qua hợp đồng.

Do đó, việc điều chỉnh pháp luật đối với thực thể này bằng chế định hợp đồng hợp tác là hợp lý, vừa phù hợp với bản chất pháp lý vừa phù hợp với thực tiễn giao lưu dân sự hiện nay. Dự thảo Bộ luật đã bổ sung hợp đồng hợp tác là một trong những loại hợp đồng thông dụng (từ Điều 520 đến Điều 528) để tạo cơ sở pháp lý cho việc tổ chức và hoạt động của thực thể pháp lý này trong thực tiễn.

Đồng thời, tiếp thu ý kiến Nhân dân về việc dự thảo Bộ luật cần làm rõ hơn địa vị pháp lý của cá nhân thành viên, về tài sản chung của các thành viên và trách nhiệm dân sự phát sinh trong các quan hệ pháp luật dân sự có sự tham gia của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân, Chính phủ đã chỉ đạo chỉnh lý quy định về vấn đề này theo hướng: Xác định mỗi thành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân là chủ thể của các quan hệ pháp luật dân sự có sự tham gia của các thực thể pháp lý này.

Trường hợp hộ gia đình sử dụng đất tham gia quan hệ pháp luật dân sự thì việc xác định chủ thể được thực hiện theo quy định của Luật đất đai (Điều 102). Quy định căn cứ riêng, tách biệt về xác định tài sản chung của các thành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác và tổ chức khác không có tư cách pháp nhân (Điều 103)…

Các vấn đề khác về trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền trong việc bảo vệ quyền dân sự; quyền nhân thân của cá nhân; chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự; hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự không tuân thủ quy định về hình thức; bảo vệ người thứ ba ngay tình trong trường hợp giao dịch dân sự bị vô hiệu; đ iều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi; lãi suất trong hợp đồng vay tài sản; thời hiệu… cũng đã được lấy ý kiến đóng góp của nhân dân.

Bt Xây Dựng Tình Huống Luật Dân Sự 1_Thừa Kế

Tình Huống Ông A là cán bộ xã Cố Nghĩa, huyện Lạc Thủy, Tỉnh Hòa bình, cả cuộc đời ông sinh sống và làm việc đây. Năm 1962 ông kết hôn với bà B và có hai người con chung là chị C và chị D. Vào năm 1971, ông A do không còn tình cảm với bà B và muốn kiếm một đứa con trai để nối dõi tông đường nên đã bỏ mẹ con bà B để chung sống với bà T như vợ chồng và đã có với bà T hai người con chung là anh N và anh M. Vào tháng 3 năm 2007, chị C gặp tai nạn giao thông và đã chết trên đường đi cấp cứu. Trước đó, chị C đã kết hôn với anh H và có hai nguời con là E năm nay 19 tuổi và F 20 tuổi. Sau khi chị C chết toàn bộ tài sản do anh H nắm giữ. Vì vậy tháng 5 năm 2007, ông A đã kiện đến tòa án xin chia di sản của chị C. Tòa án đã xác định: Tài sản chung hợp nhất của chị C và anh H còn lại 240.000.000 đồng. Sau khi di sản của chị C được chia ông bà A, B đã đưa phần di sản được thừa kế của mình vào tài sản chung của hai vợ chồng. Tháng 9 năm 2009, ông A chết do tuổi già. Khi còn sống ông A rất quý E là đứa cháu trai, con của chị C. Vì vậy khi qua đời ông A đã để lại di chúc cho cháu E, và hai người con trai M,N mỗi người được 1/4 di sản, chị D là con gái nên không được ông A để lại di chúc. Còn 1/4 di sản còn lại, ông không định đoạt trong di chúc mà để lại, phòng khi có lúc dùng đến. Khi ông A chết bà B đã đứng ra làm mai táng cho ông hết 10.000.000 đồng, từ tài sản chung hợp nhất giữa hai vợ chồng. Tháng 12/2009, bà B đã kiện đến Tòa án xin được hưởng thừa kế của ông A, đồng thời bà đề nghị tòa xem xét lại việc chia di sản thừa kế của chị C vì bà cho rằng bà là mẹ của chị C nhẽ ra phải được hưởng nhiều hơn .Tòa án xác định được: 1) Tài sản chung hợp nhất của ông A và bà B còn lại là 710.000.000 đồng. 2) Tài sản của ông A và bà T chung nhau có 1.920.000.000 đồng. Giải quyết của Tòa án Tại thời điểm chị C chết: Trước hết, xác định di sản của chị C trong khối tài sản chung hợp nhất của hai vợ chồng: C = 240.000.000 đồng : 2 = 120.000.000 đồng. Chị C không để lại nghĩa vụ tài sản nào với người khác mà chưa thanh toán, do vậy di sản sản thừa kế của chị có trọn vẹn 120.000.000 đồng. Chị C chết mà không để lại di chúc nên di sản của chị được chia theo pháp luật. Hàng thừa kế thứ nhất của chị C gồm ông A, bà B, anh H hai người con là E và F. Trong đó không có ai bị vi phạm Điều 635,643 BLDS. Như vậy cả ông A, bà B, anh H và hai người con E,F đều được hưởng di sản của chị C mỗi người một phần bằng nhau. A=B=H=E=F= 120.000.000 đồng : 5 = 24.000.000 đồng. Như vậy bà B sẽ không được hưởng nhiều hơn như yêu cầu của bà. Tại thời điểm ông A chết: nhận thấy ông A đã có vợ là bà B nhưng sau đó lại chung sống với bà T như vợ chồng và đều sinh sống ở Miền Bắc. Như vậy theo Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 ở miền Bắc thì quan hệ giữa ông A và bà T là quan hệ trái pháp luật, do vậy bà T không phải là vợ của ông A. Theo tình huống trên không có căn cứ để xác định công sức của ông A và bà T cùng tạo khối tài sản chung theo phần, thì coi như phần quyền tài sản của ông A và bà T là ngang nhau và phần tài sản của ông A chung với bà T vẫn thuộc quyền sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng ông A và bà B mà không phải là tài sản riêng của ông A. Bà B mai táng cho ông A hết 10.000.000 đồng từ tài sản chung hợp nhất của vợ chồng. Như vậy tài sản chung hợp nhất của vợ chồng ông A, bà B có được trong thời kì hôn nhân hợp pháp là: = 710.000.000 đồng + 10.000.000 đồng + ( 1.920.000.000 đồng : 2) = 1.680.000.000 đồng. Theo quy định của pháp luật thì di sản thừa kế của ông A được xác định từ tài sản chung hợp nhất với bà B là: A=1.680.000.000 đồng : 2 =840.000.000 đồng. Theo điều 683 BLDS thì mai táng phí được trừ vào di sản của người chết. Vậy phần di sản còn lại của ông A là: A =840.000.000 đồng -10.000.000 đồng = 830.000.000 đồng. Theo tình huống ông A để lại di chúc cho E, M, N mỗi người hưởng 1/4 di sản. Vậy E=M=N= 830.000.000 đồng : 4 = 207. 500.000 đồng. Phần di sản còn lại, ông A không định đoạt nên được chia theo pháp luật. Hàng thừa kế thứ nhất của ông A bao gồm bà B, và bốn người con C,D,M,N. (bà T không phải vợ ông A nên không được hưởng). Trong đó không có ai vi phạm Điều 635, 643 BLDS. Như vậy: B=C=D=M=N= 207.500.000 đồng : 5 = 41.500.000 đồng. Tuy nhiên vì C đã chết trước ông A nên không được nhận di sản, nhưng theo Điều 677 BLDS thì hai người con E, F của C sẽ được hưởng thừa kế vị thay phần di sản mà nhẽ ra C được hưởng. Vậy: E=F= 41.500.000 đồng : 2 = 20.750.000 đồng. Bà B đã được hưởng phần di sản là 41.500.000 đồng. Nhưng theo điều 669 BLDS thì bà B phải được hưởng phần di sản tối thiểu là B=(830.000.000 đồng : 5) x 2/3 = 110.666.000 đồng. Vậy bà B còn phải được nhận thêm một phần di sản nữa là: 110.666.000 đồng – 41.500.000 đồng = 69.166.000 đồng. Theo tình huống E, M,N mỗi người được hưởng theo di chúc 1/4 di sản, nên phần di sản còn thiếu của bà B được chia đều cho E,M,N mỗi người chịu một phần bằng 69.166.000 đồng : 3 = 23.055.000 đồng. Vậy phần di sản mà E,M,N được hưởng là: E= 207.500.000 đồng – 23.055.000 đồng = 184.445.000 đồng M=207.500.000 đồng – 23.055.000 đồng = 184.445.000 đồng N=207.500.000 đồng – 23.055.000 đồng = 184.445.000 đồng

Xây Dựng Pháp Luật Là Gì? Phân Tích Khái Niệm Xây Dựng Pháp Luật?

Xây dựng pháp luật là gì? Phân tích khái niệm xây dựng pháp luật?

1 – Theo nghĩa rộng – Xây dựng pháp luật là hoạt động của tất cả tổ chức và cá nhân (các cơ quan nhà nước, nhà chức trách có thẩm quyền, các Tổ chức xã hội và các cá nhân trong xã hội) tham gia vào quá trình tạo lập pháp luật

Quá trình tạo lập pháp luật rất phức tạp, bao gồm rất nhiều hoạt động kế tiếp nhau, liên hệ chặt chẽ với nhau, do nhiều tổ chức và cá nhân có vị trí, vai trò, chức năng, quyền hạn khác nhau cùng tiến hành, nhằm chuyến hoá ý chí nhà nước thành những quy định pháp luật dựa trên những nguyên tắc nhất định và được thể hiện dưới những hình thức pháp lý nhất định, đặc biệt là hình thức văn bản quy phạm pháp luật.

2 – Theo nghĩa hẹp – Xây dựng pháp luật là quá trình hoạt động của các cơ quan nhà nước hoặc nhà chức trách có thẩm quyền theo trình tự và thủ tục do pháp luật quy định nhằm ban hành các quy phạm pháp luật để điều chỉnh quan hệ xã hội theo mục đích của nhà nước

Theo nghĩa này, xây dựng pháp luật có đặc điểm sau:

– Xây dựng pháp luật là hoạt động được tiến hành bởi các cơ quan nhà nước hoặc nhà chức trách có thẩm quyền ban hành pháp luật theo quy định của pháp luật. Pháp luật của các nước thường qưy định cụ thể các chủ thể có thẩm quyền sáng tạo ra pháp luật.

– Hoạt động xây dựng pháp luật được tiến hành theo những trình tự, thủ tục do pháp luật quy định. Do đó, xây dựng pháp luật là hoạt động mang tính tổ chức rất chặt chẽ, được diễn ra theo quy trình nhất định với những bước cơ bản sau:

Thứ nhất, làm sáng tỏ những nhu cầu về sự cần thiết phải xây dựng hoặc sửa đổi pháp luật, loại văn bản cần xây dựng (luật, pháp lệnh, nghị định hay án lệ…), xác định đối tượng áp dụng, phạm vi áp dụng và phương pháp điều chỉnh pháp luật đối với quan hệ xã hội đó;

Thứ hai, công nghệ sáng tạo ra quy phạm pháp luật: Xác định những nội dung cơ bản, nội dung của từng chương, mục, điều, khoản, điểm cụ thể của văn bản.

Nhìn chung, các nhà nước thường có những quy định rất chặt chẽ về thẩm quyền, tên gọi, nội dung, nguyên tắc và trình tự, thủ tục ban hành đối với mỗi loại hình thức (nguồn) pháp luật nhất định trong Hiến pháp hoặc luật hoặc văn bản dưới luật…

– Kết quả của hoạt động xây dựng pháp luật là làm hình thành nên các quy định pháp luật mới để bổ sung vào hệ thống quy phạm pháp luật hiện hành hoặc sửa đổi, loại bỏ những quy định pháp luật đã lỗi thời, không còn phù hợp với tình hình kinh tế, chính trị, xã hội hiện tại, không đáp ứng được nhu cầu phát triển của đất nước. Do vậy, xây dựng pháp luật là hoạt động mang tính sáng tạo, là một quá trình sáng tạo ra các quy định pháp luật.

Việc tạo ra các quy phạm pháp luật có thể tiến hành thông qua hoạt động xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, thông qua việc thừa nhận các quy tắc đạo đức, phong tục, tập quán… hoặc qua việc đưa ra các án lệ được thừa nhận.

Xây Dựng Và Hoàn Thiện Pháp Luật Về Dân Sự, Kinh Tế Theo Nghị Quyết Số 48

    Xây dựng và hoàn thiện pháp luật về dân sự, kinh tế là một trong 06 định hướng quan trọng của Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam (theo Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24-5-2005 của Bộ Chính trị), với trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Qua 10 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW, hệ thống pháp luật về dân sự, kinh tế đã cơ bản hoàn thiện, được bổ sung nhiều về số lượng, chất lượng, điều chỉnh khá toàn diện các quan hệ dân sự, kinh tế, tạo ra khung pháp lý quan trọng cho sự vận hành của nền kinh tế thị trường, cơ bản đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế.

    1. Một số kết quả đạt được

    Trong 10 năm qua, Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành mới, sửa đổi, bổ sung khoảng 80 luật, pháp lệnh trong lĩnh vực dân sự, kinh tế, chiếm khoảng 30% tổng số luật, pháp lệnh được ban hành trong giai đoạn này. Trong đó, nổi lên ở những điểm sau:

    Thứ nhất, pháp luật về sở hữu, về quyền tự do kinh doanh Pháp luật đã dần xác định rõ các loại hình thức sở hữu(1) và không phân biệt đối xử giữa các chế độ và hình thức sở hữu, các thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường. Hiến pháp năm 2013 và hàng loạt các luật được ban hành nhằm cụ thể hóa Hiến pháp trong lĩnh vực này đã thể hiện tư tưởng chủ đạo: Bảo đảm quyền tự do kinh doanh của công dân, hạn chế sự can thiệp hành chính của Nhà nước vào các quan hệ dân sự, kinh tế; xác định địa vị pháp lý của doanh nghiệp; bảo đảm quyền tự do hoạt động đầu tư, thương mại, quyền thỏa thuận, ký kết, giao dịch và thực thi hợp đồng; cơ chế cạnh tranh lành mạnh, chống độc quyền, khuyến khích và bảo đảm đầu tư, xóa dần ranh giới giữa đầu tư trong nước với đầu tư nước ngoài; giảm dần sự can thiệp bằng biện pháp hành chính của Nhà nước vào các quan hệ dân sự, kinh tế; dần tháo gỡ các vướng mắc, rào cản trong sản xuất, kinh doanh, phát triển lành mạnh thị trường.

    Pháp luật về hợp đồng đã được hoàn thiện theo hướng tôn trọng thỏa thuận của các bên nếu thỏa thuận đó không trái với đạo đức xã hội, không xâm phạm trật tự công cộng, phù hợp với tập quán, thông lệ thương mại quốc tế. Bộ luật dân sự năm 2005 được coi là luật gốc quy định các vấn đề chung về hợp đồng, các loại hợp đồng, về hình thức giao kết hợp đồng, thực hiện hợp đồng, điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, chấm dứt hợp đồng…, đã góp phần thúc đẩy sự hình thành và phát triển của quan hệ thị trường thông qua việc ghi nhận nguyên tắc tự do hợp đồng, hạn chế sự can thiệp của các cơ quan công quyền vào hoạt động sản xuất, kinh doanh.

    Pháp luật về đầu tư đã quy định thống nhất áp dụng đối với đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài, tạo lập môi trường kinh doanh bình đẳng, thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính và làm tăng tính minh bạch môi trường đầu tư của Việt Nam. Luật đầu tư năm 2014 thay thế Luật đầu tư năm 2005 đã tạo lập môi trường kinh doanh cởi mở hơn, phạm vi điều chỉnh rõ ràng hơn theo hướng bảo đảm quyền tự do kinh doanh của công dân trên cơ sở những ngành nghề mà Luật không cấm.

    Pháp luật về doanh nghiệp với việc ban hành Luật doanh nghiệp năm 2014 đã tạo hành lang pháp lý thông thoáng, như đổi mới đơn giản hóa thủ tục đăng ký kinh doanh, mô hình quản trị công ty cổ phần, đổi mới trong quản lý doanh nghiệp nhà nước…

    Pháp luật về đấu thầu đã đơn giản hóa thủ tục hành chính trong hoạt động đấu thầu; bổ sung phương pháp đánh giá mới nhằm đa dạng hóa phương pháp đánh giá để phù hợp với từng loại hình và quy mô của gói thầu, đồng thời khắc phục tình trạng bỏ thầu giá thấp nhưng không đủ năng lực, kinh nghiệm để thực hiện gói thầu…

    Pháp luật về hải quan đã có những đột phá trong việc thay đổi căn bản phương thức thực hiện thủ tục hải quan, từ phương thức truyền thống, bán điện tử sang phương thức điện tử; đẩy mạnh thực thi các giải pháp đơn giản hóa thủ tục hành chính về hải quan. Tiếp tục kiện toàn hệ thống tổ chức hải quan; nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lý hải quan; tăng cường phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, gian lận thương mại…

    Pháp luật về cạnh tranh được ban hành hoặc sửa đổi trong giai đoạn này cũng đã tạo lập khuôn khổ pháp lý cho hoạt động cạnh tranh lành mạnh, kiểm soát loại bỏ những hành vi độc quyền, cạnh tranh không lành mạnh,… góp phần tạo lập và duy trì một môi trường kinh doanh bình đẳng. Pháp luật phá sản với việc ban hành Luật phá sản năm 2014 thay thế Luật phá sản năm 2004 đã đưa ra những cơ hội thực tiễn cho việc duy trì hoặc tổ chức lại doanh nghiệp, phục hồi hoạt động sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp; đưa ra các quy trình, thủ tục giải quyết việc phá sản doanh nghiệp đơn giản, nhanh gọn hơn; góp phần hạn chế đến thấp nhất những hậu quả do phá sản gây ra, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên tham gia quan hệ kinh tế trước các rủi ro xảy ra.

    Thứ hai, xây dựng pháp luật cho việc tạo lập đồng bộ các loại thị trường

    Pháp luật về các yếu tố thị trường và các loại thị trường được xây dựng ngày càng đồng bộ hơn, phù hợp với các quan hệ cung – cầu, cạnh tranh lành mạnh, sử dụng linh hoạt và có hiệu quả các công cụ chính sách vĩ mô theo các nguyên tắc của thị trường. Đối với thị trường hàng hóa dịch vụ, hàng loạt đạo luật đã được ban hành mới hoặc sửa đổi, bổ sung để bảo đảm môi trường pháp lý thông thoáng, tự do kinh doanh, phát triển lành mạnh, bảo đảm quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của nhà đầu tư cũng như quyền lợi người tiêu dùng(2). Đối với thị trường bất động sản, thể chế cho việc hình thành và phát triển thị trường bất động sản, đã góp phần cải cách thủ tục hành chính về quy hoạch, quản lý sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, giải phóng mặt bằng, đấu giá quyền sử dụng đất; đưa công tác quản lý, sử dụng đất đai vào nền nếp; thị trường bất động sản cho người Việt Nam ở nước ngoài và người nước ngoài đầu tư ở Việt Nam từng bước được mở rộng. Đối với thị trường lao động, Bộ luật lao động được sửa đổi nhiều lần qua các năm (2002, 2006, 2007, 2012); Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2006; Luật việc làm năm 2013 đã tạo hành lang pháp lý tương đối hoàn chỉnh theo hướng đa dạng hóa các hình thức tạo việc làm, cơ hội tìm việc làm, khuyến khích mở rộng thị trường lao động có hàm lượng chất xám cao; quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động và người sử dụng lao động được bảo đảm tốt hơn; hoàn thiện các tiêu chuẩn lao động, thiết lập quan hệ lao động giữa các chủ thể, điều chỉnh các hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể, tiền lương, bảo hiểm, thời gian làm việc, kỷ luật lao động…, đồng thời, nội luật hóa các quy định trong các Công ước của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO). Đối với thị trường khoa học – công nghệ, Pháp luật bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cùng với pháp luật về khoa học và công nghệ góp phần hình thành và phát triển thị trường khoa học – công nghệ. Phạm vi các đối tượng được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đã được mở rộng phù hợp với Hiệp định TRIPS của WTO về các khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đối với thị trường tài chính, khuôn khổ pháp lý cho lĩnh vực kinh doanh tiền tệ – tín dụng cơ bản được hoàn thiện(3), tạo môi trường lành mạnh, bình đẳng cho hoạt động ngân hàng, chứng khoán, kinh doanh bảo hiểm; khuyến khích cạnh tranh trong các hoạt động này trên nguyên tắc an toàn hệ thống.

    Thứ ba, hoàn thiện pháp luật về tài chính công

    Pháp luật trong lĩnh vực tài chính công đã đáp ứng yêu cầu đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, quản lý ngân sách, cải cách hành chính; bảo đảm thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, xử lý vi phạm trong quản lý, sử dụng ngân sách, vốn và tài sản nhà nước; quản lý, sử dụng tài nguyên trong hoạt động sản xuất kinh doanh; định hướng huy động, sử dụng vốn vay; tổ chức huy động, phân bổ sử dụng vốn vay đúng mục đích, hiệu quả, bảo đảm an toàn nợ công, an ninh tài chính; bảo đảm cơ chế đồng bộ cho quản lý, sử dụng nguồn lực dự trữ quốc gia hiệu quả. Bên cạnh đó, hành lang pháp lý về quyền tự chủ đối với cơ quan nhà nước; cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập cũng đã được xác lập đầy đủ, đồng bộ; khắc phục tình trạng ỷ lại vào ngân sách nhà nước, thúc đẩy cải cách hành chính.

    Luật quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp năm 2014, tạo cơ sở pháp lý cao cho hoạt động đầu tư và quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp, phát huy vai trò nòng cốt của kinh tế nhà nước, thực hiện công khai, minh bạch và giám sát chặt chẽ mọi hoạt động trong đầu tư và quản lý vốn đã đầu tư của Nhà nước vào doanh nghiệp.

    Luật đầu tư công năm 2014 đã tạo cơ sở pháp lý thống nhất, đồng bộ để nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý hoạt động đầu tư và sử dụng vốn đầu tư công; chống thất thoát, lãng phí; bảo đảm tính công khai, minh bạch trong quản lý đầu tư công.

    Pháp luật về thuế, phí, lệ phí và quản lý thuế(4) đã được ban hành theo đúng lộ trình, vừa bảo đảm yêu cầu về hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng, vừa đáp ứng yêu cầu cải cách hệ thống thuế theo hướng mở rộng các đối tượng chịu thuế, bao quát các nguồn thu ngân sách nhà nước, đơn giản hóa thủ tục hành chính. 

    Thứ tư, hình thành đồng bộ pháp luật về các chuyên ngành kinh tế – kỹ thuật .

    Pháp luật trong lĩnh vực xây dựng, giao thông vận tải, điện lực cũng đã được hình thành khá đồng bộ(5); thể hiện phân cấp mạnh mẽ giữa Trung ương và địa phương và làm rõ trách nhiệm của các cấp, các ngành và các chủ thể tham gia, tạo động lực thúc đẩy các hoạt động đầu tư, phát triển thị trường xây dựng và thị trường bất động sản với quy mô ngày càng rộng lớn, đa dạng; có các chính sách thông thoáng, đẩy mạnh xã hội hóa dịch vụ giao thông công cộng; linh hoạt trong thu hút nguồn vốn đầu tư từ mọi nguồn lực xã hội, tạo lập hệ thống giao thông, kết cấu hạ tầng giao thông khá đồng bộ, có những đổi thay rõ rệt so với những năm trước đây; chính sách phát triển điện lực của Nhà nước đã thu hút mọi thành phần kinh tế tham gia hoạt động phát, phân phối điện, xây dựng thị trường điện cạnh tranh; hoạt động điện lực và nhiệm vụ quản lý sản xuất kinh doanh điện được phân định, quản lý và chịu sự điều tiết của Nhà nước.

    Pháp luật về nông nghiệp – nông thôn đã tập trung chủ yếu hướng tới điều chỉnh các lĩnh vực về đất đai, đầu tư, sản xuất nông nghiệp, thủy lợi, đê điều và phòng chống lụt bão; bảo vệ và phát triển rừng, thủy sản, thương mại nông lâm thủy sản, bảo vệ môi trường nông nghiệp, nông thôn; nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn; khuyến nông, khuyến ngư và phát triển ngành nghề nông thôn(6) góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tăng công nghiệp, dịch vụ, ngành nghề; đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp – nông thôn; đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của kinh tế tập thể, tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản; cải thiện đời sống, vật chất, tinh thần của người dân ở hầu hết các vùng nông thôn phù hợp với các tiêu chí của mô hình Nông thôn mới.

    Thứ năm, hoàn thiện pháp luật về tài nguyên và môi trường Pháp luật về tài nguyên và môi trường(7) đã kịp thời điều chỉnh nhiều vấn đề mới phát sinh như ứng phó với biến đổi khí hậu, bảo đảm an ninh môi trường, sinh thái với các giải pháp đồng bộ, đủ mạnh, có tính đột phá; chấn chỉnh các hoạt động khai thác khoáng sản, tài nguyên nước không phù hợp với quy định của pháp luật; quản lý tổng hợp tài nguyên và môi trường biển, hải đảo; tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư từ nhiều thành phần kinh tế khác nhau đầu tư vốn, kỹ thuật công nghệ, thiết bị vào lĩnh vực hoạt động khai thác tài nguyên, khoáng sản; gắn hoạt động sản xuất, kinh doanh tài nguyên, khoáng sản với mục tiêu phát triển bền vững kinh tế – xã hội của đất nước, địa phương.

    2. Hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân

    Nhìn chung, pháp luật trong lĩnh vực dân sự, kinh tế đã cơ bản hoàn thiện, tạo lập khuôn khổ pháp lý quan trọng cho vận hành của nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, đối phó linh hoạt với các thách thức, phục vụ có hiệu quả công cuộc đổi mới và phát triển của đất nước. Tuy nhiên, hệ thống pháp luật về dân sự, kinh tế vẫn chưa thực sự đồng bộ, chất lượng chưa cao, thiếu ổn định và tính dự báo thấp; trong lĩnh vực này vẫn còn tình trạng luật ban hành phải đợi Nghị định, Thông tư hướng dẫn thi hành làm cho luật chậm đi vào cuộc sống, giảm hiệu lực của hệ thống pháp luật; vẫn còn có sự chồng chéo và mâu thuẫn giữa các văn bản luật cùng điều chỉnh một vấn đề làm cho việc thi hành gặp nhiều khó khăn(8), đáng lưu ý là:

    - Về chế độ sở hữu, sở hữu toàn dân còn nhiều điểm chưa rõ về mặt pháp lý, đặc biệt là đối với các tài sản thuộc sở hữu toàn dân được đầu tư vào doanh nghiệp nhà nước, nhất là các tập đoàn nhà nước; chưa minh định rõ sở hữu hỗn hợp với nhiều thành phần trong nền kinh tế.

    - Chưa phân định rõ ràng, rành mạch giữa quản lý nhà nước với quản lý sản xuất kinh doanh (nhất là cấp bộ, ngành); thể chế chưa đầy đủ các quyền tự do kinh doanh; môi trường kinh doanh chưa thật sự bảo đảm cạnh tranh công bằng, lành mạnh giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế; doanh nghiệp gia nhập, hoạt động và rút lui khỏi thị trường còn gặp nhiều vướng mắc; giá cả một số hàng hóa, dịch vụ thiết yếu chưa tuân theo quy luật kinh tế thị trường; quản trị doanh nghiệp còn yếu kém, chưa theo kịp chuẩn mực quốc tế…

    - Tình trạng luật khung còn nhiều; văn bản quy định chi tiết hướng dẫn thi hành trong lĩnh vực này còn chậm được ban hành hoặc không đầy đủ, có không ít quy định thiếu tính thực tế. Những vướng mắc về thủ tục hành chính – cả trong thể chế lẫn trong thực tiễn thi hành, đang là rào cản lớn đối với quá trình gia nhập thị trường, vận hành hoạt động sản xuất, kinh doanh của các chủ thể, làm giảm đáng kể sức cạnh tranh, thu hút đầu tư trong và ngoài nước của Việt Nam.

    - Chưa ưu tiên xây dựng thể chế về sử dụng vốn nhà nước vào đầu tư kinh doanh, về đầu tư công, đặc biệt là thể chế về kiểm tra, giám sát hiệu quả sử dụng vốn nhà nước; chưa xóa bỏ triệt để cơ chế xin cho trong quản lý, phân bổ vốn nhà nước và độc quyền kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước.

    - Pháp luật về tài nguyên môi trường còn phức tạp, nhiều tầng nấc, thậm chí mâu thuẫn; chưa đồng bộ, các chế tài xử lý chưa nghiêm, thiếu thiết chế thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường quốc gia và thực hiện các cam kết quốc tế, điều ước quốc tế về môi trường.

    - Pháp luật về hình thành và hoạt động của các thị trường chưa đồng bộ. Việt Nam chưa tạo ra được thị trường theo đúng nghĩa, nhất là thị trường lao động, thị trường tài chính, thị trường bất động sản, thị trường khoa học công nghệ…

    3. Một số đề xuất, giải pháp tiếp tục hoàn thiện pháp luật về dân sự, kinh tế trong những năm tới

    Trên cơ sở kết quả tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW, để khắc phục những hạn chế, bất cập trong thực tiễn, đồng thời căn cứ vào Chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2011-2024 và các phương hướng, nhiệm vụ về phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2024-2024 trong các văn kiện Đại hội lần thứ XII của Đảng để đề ra các định hướng, nhiệm vụ xây dựng pháp luật cho giai đoạn 20242024, trong đó cần tiếp tục bổ sung, hoàn thiện pháp luật về dân sự, kinh tế như sau:

    - Tiếp tục cụ thể hóa các quy định về các quyền tài sản của Nhà nước, tổ chức và cá nhân trong Hiến pháp năm 2013 vào các luật chuyên ngành. Bảo đảm minh bạch về nghĩa vụ và trách nhiệm trong thủ tục hành chính nhà nước và dịch vụ công để quyền tài sản được giao dịch thông suốt. Nâng cao năng lực các thiết chế và hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp dân sự, kinh tế trong bảo vệ quyền tài sản.

    - Tiếp tục hoàn thiện pháp luật về định giá, chuyển nhượng các loại tài sản đặc thù (đất đai, tài nguyên nước, khoáng sản) và tài sản vô hình, tài sản trí tuệ, cổ phiếu, trái phiếu.

    - Hoàn thiện pháp luật về gia nhập thị trường và rút khỏi thị trường theo hướng bảo đảm quyền tự do kinh doanh với nguyên tắc công dân được kinh doanh các ngành nghề mà pháp luật không cấm; bảo đảm sự quản lý của Nhà nước đối với các chủ thể thị trường; tiếp tục đơn giản hóa thủ tục thành lập doanh nghiệp, thủ tục đầu tư; tạo cơ chế pháp lý thuận lợi, đơn giản cho việc tuyên bố phá sản, tổ chức lại doanh nghiệp.

    - Nghiên cứu xây dựng Luật về cổ phần hóa, tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước theo hướng doanh nghiệp nhà nước tập trung vào những lĩnh vực then chốt, thiết yếu; tách bạch nhiệm vụ sản xuất kinh doanh và nhiệm vụ chính trị, công ích; xóa bỏ cơ chế phân tán chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước cho các bộ, UBND đối với vốn, tài sản nhà nước tại các doanh nghiệp.

    - Tiếp tục hoàn thiện pháp luật về các thị trường, bao gồm: Thực hiện đa dạng hóa thị trường hàng hóa, dịch vụ theo hướng hiện đại, tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về thị trường bất động sản, phù hợp với quy luật cung – cầu nhằm khai thác, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả nguồn lực từ đất đai và tài sản, kết cấu hạ tầng trên đất; tạo môi trường pháp lý cho sự hình thành, phát triển lành mạnh thị trường lao động theo hướng đa dạng hóa các hình thức tìm việc làm, giới thiệu việc làm và tuyển chọn lao động; khuyến khích mở rộng thị trường lao động sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao; hình thành và phát triển thị trường khoa học – công nghệ phù hợp với yêu cầu của WTO và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; tiếp tục phát triển thị trường tài chính – tiền tệ theo hướng hình thành đồng bộ khuôn khổ pháp lý cho việc áp dụng các thiết chế và chuẩn mực quốc tế về an toàn pháp lý trong kinh doanh tiền tệ – tín dụng và phân bổ nguồn vốn; hoàn thiện pháp luật về thị trường chứng khoán để trở thành kênh huy động vốn và đầu tư gián tiếp an toàn, hiệu quả; hoàn thiện pháp luật về kinh doanh bảo hiểm cho phù hợp với thực tiễn và các cam kết quốc tế; thực hiện nhất quán cơ chế giá thị trường, bảo đảm sự công khai, minh bạch đối với các hàng hóa, dịch vụ thiết yếu; bảo đảm tối đa cạnh tranh lành mạnh, hạn chế hiệu quả những hành vi lũng đoạn thị trường.

    - Hoàn thiện pháp luật về các công cụ quản lý kinh tế vĩ mô bao gồm thuế, quy hoạch, các tiêu chuẩn về chất lượng, quản lý giá và các công cụ hỗ trợ quản lý vĩ mô như thống kê, đăng ký giao dịch, đăng ký tài sản, các tiêu chuẩn và quy chuẩn hướng đến kết quả và hiệu quả kinh tế – xã hội, sự liên kết tổng thể, ổn định, đơn giản và minh bạch, góp phần thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế, chống thất thoát, lãng phí các nguồn lực của Nhà nước và xã hội. Xây dựng hệ thống chính sách thuế đồng bộ, thống nhất, công bằng, hiệu quả, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và các cam kết quốc tế. 

    - Hoàn thiện pháp luật bảo vệ người tiêu dùng, vệ sinh an toàn thực phẩm theo hướng Nhà nước can thiệp hiệu quả hơn nhằm giảm thiểu thông tin bất cân xứng, bảo vệ người yếu thế trong cạnh tranh (ví dụ người mua căn hộ, người tiêu dùng); hạn chế những yếu tố mặt trái của thị trường; tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quản lý, khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên công cộng.

Sang Nhật Bản Học Tập Kinh Nghiệm Xây Dựng Bộ Luật Dân Sự

Theo thông tin từ Bộ Tư pháp, hoạt động này nằm trong khuôn khổ hoạt động hợp tác giữa Cơ quan hợp tác quốc tế của Nhật Bản (JICA) và Bộ Tư pháp Việt Nam. Chuyến đi diễn ra từ ngày 1/3/2024 đến ngày 14/3/2024 do ông Đinh Trung Tụng – Thứ trưởng Bộ Tư pháp – dẫn đầu.

Bộ luật Dân sự hiện hành có hiệu lực từ năm 2006 với 777 điều.

Tham gia đoàn gồm có ông Trần Đình Long – Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội, đại diện Thường trực Tổ biên tập dự án Bộ luật Dân sự, Văn phòng Quốc hội (Vụ Pháp luật, Vụ Tư pháp), Vụ Pháp luật của Văn phòng Chính phủ, đại diện Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội.

Tại buổi làm việc với Bộ trưởng Bộ Tư pháp Nhật Bản Yoko Kamikawa, ông Đinh Trung Tụng cho biết mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng Việt Nam quyết tâm xây dựng Bộ luật Dân sự và hệ thống pháp luật đáp ứng tốt hơn việc tôn trọng, bảo vệ quyền con người, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.

Ông Tụng đề nghị Bộ Tư pháp Nhật Bản, JICA, các giáo sư và chuyên gia Nhật Bản tiếp tục có những hỗ trợ Việt Nam để thực hiện mục tiêu nêu trên trong giai đoạn 3 của dự án hỗ trợ tư pháp.

Dự kiến đoàn công tác liên ngành sẽ tiếp tục làm việc, trao đổi với các giáo sư Nhật Bản xung quanh những nội dung quan trọng về vị trí, vai trò của Bộ luật Dân sư, về cá nhân, pháp nhân, quyền sở hữu và các vật quyền khác, nghĩa vụ và hợp đồng.

Bộ luật Dân sự được lấy ý kiến rộng rãi tới hết ngày 5/4. Ba đầu mối tiếp nhận góp ý gồm: Chính phủ, UBND; Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam; TAND Tối cao và VKSND Tối cao.

Theo đại diện Bộ Tư pháp, 10 vấn đề trọng tâm của bộ luật sửa đổi bao gồm: quyền nhân thân; bảo vệ người thứ ba ngay tình trong trường hợp giao dịch dân sự bị vô hiệu; lãi suất trong hợp đồng vay tài sản; thời hiệu khởi kiện vụ việc dân sự, hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự không tuân thủ quy định về hình thức; thời điểm xác lập quyền sở hữu và các vật quyền khác; điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi…

So với bộ luật hiện hành (có hiệu lực từ ngày 1/1/2006 gồm 777 điều), dự thảo Bộ luật Dân sự lần này giữ nguyên 265 điều, sửa đổi 298 điều, bổ sung 170 điều, bãi bỏ gần 150 điều.

Bộ Tư pháp khẳng định người dân sẽ được tạo điều kiện thuận lợi để đóng góp ý kiến. Các cơ quan có thẩm quyền sẽ tổng hợp đầy đủ, chính xác để ban soạn thảo nghiên cứu và hoàn thiện dự thảo.

Thế Kha