Xử Lý Nợ Xấu Theo Nghị Quyết 42 / 2023 / Top 12 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 12/2022 # Top View | Bac.edu.vn

Tiếp Tục Xử Lý Nợ Xấu Theo Nghị Quyết 42 / 2023

Theo số liệu thống kê của NHNN chi nhánh chúng tôi kể từ khi Nghị quyết 42 chính thức có hiệu lực (ngày 15/8/2017) đến hết ngày 31/5/2020, tổng số nợ xấu xác định theo Nghị quyết 42 đã được xử lý là 123.274 tỷ đồng. Trong số này, thu từ nguồn khách hàng trả nợ là 32.583 tỷ đồng; các TCTD nhận tài sản đảm bảo thay cho nghĩa vụ trả nợ 525 tỷ đồng; bán, phát mãi tài sản đảm bảo để thu hồi nợ 1.503 tỷ đồng; bán cho Công ty Mua bán nợ Việt Nam (DATC) 429 tỷ đồng; bán cho các tổ chức khác 5.536 tỷ đồng và xử lý theo hình thức khác trên 6.000 tỷ đồng.

Cũng theo báo cáo, việc xử lý các khoản nợ đang hạch toán ngoài bảng cân đối kế toán xác định theo Nghị quyết 42 tại các TCTD ở chúng tôi hiện nay là gần 18.500 tỷ đồng. Các TCTD cũng đã xử lý được khoảng 58.165 tỷ đồng nợ xấu đã bán cho VAMC thanh toán bằng trái phiếu đặc biệt.

Theo nhận xét của Sở Tư pháp chúng tôi hoạt động xử lý nợ xấu theo Nghị quyết 42 mặc dù đạt được khá nhiều kết quả tích cực, tuy nhiên quá trình xử lý vẫn diễn ra chậm và gặp nhiều vướng mắc. Việc xử lý nợ chủ yếu được các bên tiến hành theo hình thức thông thường, tức là đôn đốc khách hàng trả nợ và mua lại các khoản nợ đã bán cho VAMC. Việc xử lý nợ thông qua thủ tục rút gọn là không đáng kể. Vì vậy có thể cho rằng việc áp dụng triệt để các quy định của Nghị quyết 42 vào xử lý nợ xấu là chưa cao và chưa mang lại nhiều hiệu quả.

Đại diện Sở Tư pháp chúng tôi cho rằng, hiện nay những vướng mắc lớn nhất trong việc triển khai Nghị quyết 42 vẫn nằm ở khâu xử lý, thu giữ tài sản đảm bảo. Ông Nguyễn Hữu Hùng – Phó Giám đốc Trung tâm đấu giá chúng tôi cho rằng, thực tế kết quả những cuộc bán đấu giá thành công tài sản đảm bảo nợ chỉ chiếm khoảng 50%. Nhiều gói tài sản đảm bảo nợ xấu phải định giá, giảm giá nhiều lần, nhưng do tâm lý e ngại của nhà đầu tư nên việc bán thành công là rất khó khăn. Chưa kể thành phần tài sản đảm bảo nợ đối với nhiều khoản nợ xấu là rất phức tạp, bao gồm nhiều loại hình tài sản như xe cộ, nhà cửa, máy móc, hàng hóa nên việc định giá và hoàn thiện các hồ sơ thủ tục luôn mất nhiều thời gian, chi phí.

Quy trình rút gọn tại tòa tiếp tục phát sinh khó khăn

Ông Trần Đình Cường – Phó Giám đốc NHNN chi nhánh chúng tôi cho rằng, hiện nay việc thu giữ tài sản đảm bảo vẫn là vướng mắc chính, khiến các TCTD trên địa bàn khó tiến hành xử lý nhanh các khoản nợ xấu. Vì vậy, trong thời gian tới, nếu Nghị quyết 42 được Quốc hội xem xét “luật hóa” thì cần tính đến việc mở rộng phạm vi, quyền hạn và quy định cụ thể hơn, tạo sự chủ động nhiều hơn cho các TCTD trong khâu thu giữ tài sản đảm bảo nợ.

Kết luận tại buổi làm việc, ông Dương Quốc Anh – Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội cho biết, chúng tôi là địa phương đầu tiên Ủy ban Kinh tế của Quốc hội tiến hành làm việc, ghi nhận về kết quả xử lý nợ xấu theo Nghị quyết 42 sau 3 năm triển khai. Sắp tới đây các buổi làm việc tương tự sẽ được tổ chức tại Hà Nội và một số tỉnh thành khác.

Ông Dương Quốc Anh đánh giá cao những kết quả xử lý nợ xấu theo Nghị quyết 42 mà hệ thống ngân hàng cũng như các cơ quan, ban, ngành tại chúng tôi đã phối hợp thực hiện được trong suốt 3 năm vừa qua. Đồng thời ghi nhận từ khi có Nghị quyết 42 nhiều TCTD trên địa bàn chúng tôi đã xử lý giảm mạnh tỷ lệ nợ xấu, đảm bảo được các chỉ tiêu an toàn vốn và lành mạnh về tài chính.

Kết Quả Tích Cực Từ Xử Lý Nợ Xấu Theo Nghị Quyết 42 / 2023

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) vừa có Báo cáo kết quả 3 năm thực hiện Nghị quyết số 42/2017/QH14 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng (TCTD).

ĐÃ XỬ LÝ GẦN 294 NGHÌN TỶ ĐỒNG NỢ XẤU XÁC ĐỊNH THEO NGHỊ QUYẾT 42

Cụ thể, về kết quả xử lý nợ xấu nội bảng, NHNN cho biết, đã chỉ đạo các TCTD sát sao, quyết liệt và đồng bộ cùng với sự chủ động, nỗ lực của các TCTD, tỷ lệ nợ xấu nội bảng của hệ thống các TCTD trong giai đoạn 2016-2020 đã được xử lý, kiểm soát và duy trì ở mức dưới 3%.

Cụ thể, cuối năm 2016 là 2,46%; cuối tháng 8/2017: 2,45%; cuối năm 2017: 1,99%; cuối năm 2018: 1,91%; cuối năm 2019: 1,63% và thời điểm 31/5/2020 là 1,86%. Như vậy, tỷ lệ nợ xấu nội bảng của các TCTD giảm liên tục qua các năm.

Tính từ cuối năm 2018 đến 31/5/2020, toàn hệ thống các TCTD đã xử lý được 361,2 nghìn tỷ đồng nợ xấu, trong đó, nợ xấu do các TCTD tự xử lý là 307,96 nghìn tỷ đồng (chiếm 85,26%); nợ xấu bán cho Công ty Quản lý tài sản các TCTD Việt Nam ( VAMC ) là 48,52 nghìn tỷ đồng (chiếm 13,43%); và nợ xấu bán cho tổ chức, cá nhân khác là 4,72 nghìn tỷ đồng (chiếm 1,3%).

Bên cạnh kết quả trong xử lý nợ xấu nói chung, xử lý nợ xấu xác định theo Nghị quyết số 42 từ khi Nghị quyết có hiệu lực đến 31/5/2020 cũng đạt được kết quả bước đầu quan trọng; các hình thức xử lý nợ xấu được các TCTD vận dụng, áp dụng đa dạng, đẩy nhanh quá trình xử lý nợ xấu.

Cụ thể, lũy kế từ 15/8/2017 đến 31/5/2020, toàn hệ thống các TCTD đã xử lý được 293,88 nghìn tỷ đồng nợ xấu xác định theo Nghị quyết số 42; trong đó, xử lý nợ xấu nội bảng là 160,92 nghìn tỷ đồng (chiếm 54,76% tổng nợ xấu xác định theo Nghị quyết số 42 đã xử lý); Xử lý các khoản nợ đang hạch toán ngoài bảng cân đối kế toán xác định theo Nghị quyết số 42 là 67,28 nghìn tỷ đồng (chiếm 22,89% tổng nợ xấu xác định theo Nghị quyết số 42 đã xử lý); xử lý các khoản nợ xấu xác định theo Nghị quyết số 42 đã bán cho VAMC được thanh toán bằng trái phiếu đặc biệt là 65,68 nghìn tỷ đồng (chiếm 22,35% tổng nợ xấu xác định theo Nghị quyết số 42 đã xử lý).

Tổng số nợ xấu xác định theo Nghị quyết số 42 được xử lý từ 15/8/2017 đến 31/5/2020 đạt trung bình khoảng 7,15 nghìn tỷ đồng/tháng, cao hơn 3,63 nghìn tỷ đồng/tháng so với kết quả xử lý nợ xấu nội bảng trung bình tháng từ năm 2012 – 2017 của hệ thống các TCTD trước khi Nghị quyết số 42 có hiệu lực (khoảng 3,52 nghìn tỷ đồng/tháng).

TỶ TRỌNG KHÁCH HÀNG CHỦ ĐỘNG TRẢ NỢ XẤU TĂNG MẠNH

NHNN cho biết, trước khi có Nghị quyết số 42, nợ xấu của toàn hệ thống các TCTD chủ yếu được xử lý bằng dự phòng rủi ro, các biện pháp xử lý nợ xấu thông qua xử lý TSBĐ và khách hàng trả nợ còn chưa cao.

Tuy nhiên, kể từ khi Nghị quyết số 42 có hiệu lực từ 15/8/2017 đến 31/5/2020, xử lý nợ xấu nội bảng xác định theo Nghị quyết số 42 chủ yếu thông qua hình thức khách hàng trả nợ là 121,4 nghìn tỷ đồng (chiếm khoảng 40,1% tổng nợ xấu nội bảng theo Nghị quyết số 42 đã xử lý), cao hơn nhiều tỷ trọng nợ xấu được xử lý do khách hàng tự trả nợ/tổng nợ xấu nội bảng đã xử lý trung bình năm từ 2012-2017 là khoảng 22,8%.

Kết quả xử lý nợ xấu xác định theo Nghị quyết số 42 bằng hình thức khách hàng trả nợ tăng mạnh, phản ánh ý thức trả nợ của khách hàng đã cải thiện. Khách hàng chủ động và hợp tác hơn trong việc trả nợ TCTD, hạn chế tình trạng chủ tài sản cố ý chây ỳ, chống đối nhằm kéo dài thời gian xử lý.

Đây là dấu hiệu tích cực cho thấy Nghị quyết số 42 đã và đang phát huy hiệu quả, góp phần tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc và đẩy mạnh công tác xử lý nợ xấu của hệ thống các TCTD.

Với VAMC, báo cáo cho biết, từ khi Nghị quyết số 42 có hiệu lực, kết quả thu hồi nợ của đầu mối này đạt 91.469 tỷ đồng, bằng 60% tổng giá trị thu hồi nợ lũy kế từ năm 2013 đến 31/5/2020.

Cũng từ khi Nghị quyết số 42 có hiệu lực đến 31/5/2020, VAMC đã tổ chức đấu giá thành công 15 khoản nợ với tổng giá trị trúng đấu giá đạt 1.322 tỷ đồng; đồng thời, VAMC đã thu giữ, nhận bàn giao TSBĐ của 7 khách hàng/nhóm khách hàng.

Xử Lý Nợ Xấu Theo Nghị Quyết 42: Kết Quả Có Thể Tốt Hơn Nếu… / 2023

Chia sẻ với Báo Ðầu tư Chứng khoán, giám đốc công ty quản lý tài sản (AMC) một ngân hàng thương mại cổ phần có trụ sở tại chúng tôi cho biết, Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21/06/2017 của Quốc hội (Nghị quyết 42) cho phép tổ chức tín dụng (TCTD) được quyền thu giữ tài sản bảo đảm (TSBÐ) để xử lý nợ xấu.

Tuy nhiên, trên thực tế, phương thức thu giữ TSBÐ để xử lý nợ xấu chỉ thành công khi khách hàng hợp tác, hoặc trong một số trường hợp nhất định như khách hàng đã bỏ trốn khỏi địa phương mà TSBÐ không có tranh chấp, TSBÐ là đất trống…, còn khi khách hàng không hợp tác bàn giao TSBÐ, chống đối khi tiến hành thu giữ, TCTD vẫn phải khởi kiện khách hàng ra tòa án để được quyền xử lý TSBÐ thông qua thi hành án, do Nghị quyết 42 không quy định cơ quan có thẩm quyền cưỡng chế, yêu cầu/buộc người đang chiếm hữu, sử dụng tài sản phải bàn giao tài sản như cơ quan thi hành án.

Thực tế, theo Nghị quyết 42, các TCTD thực hiện quyền thu giữ TSBÐ đi kèm với điều kiện trong hồ sơ thế chấp phải có thỏa thuận về điều khoản thu giữ TSBÐ. Tuy nhiên, các hợp đồng bảo đảm được ký kết trước thời điểm Nghị quyết 42 có hiệu lực đều không quy định trực tiếp nội dung này (vì tại thời điểm hợp đồng được ký kết thì Nghị định 163/2006/NÐ-CP không quy định nội dung này). Do vậy, để đủ điều kiện áp dụng quyền thu giữ TSBÐ theo quy định trên, các TCTD phải đàm phán với bên vay điều chỉnh lại hợp đồng, nhưng khách hàng thường không hợp tác (không ký). Vì vậy, các TCTD rất khó để thực hiện việc thu giữ TSBÐ theo Ðiều 7 – Nghị quyết 42.

“Ngoài ra, khi thu giữ đối với tài sản là nhà đất, trong nhà đất đó có các tài sản khác của người có nhà đất thế chấp hoặc của bên thứ ba (các đồ gia dụng, điện tử, quần áo, giường tủ…) mà họ không tự nguyện dời đi thì cơ chế, phương thức để xử lý đối với các tài sản này thế nào (gửi giữ ở đâu, nếu người có tài sản không hợp tác để nhận và di dời tài sản thì sẽ xử lý phát mại và xử lý tiền thu được như thế nào…)?

Hoặc khi thu giữ đối với tài sản là nhà đất, trong nhà đất đó có những người không phải là người thế chấp (như bố mẹ, các con cái của người thế chấp) đang sinh sống thì cơ chế, phương thức để xử lý đối với những người này ra sao?”, vị giám đốc AMC băn khoăn.

Một điểm đáng chú ý khác là thứ tự ưu tiên thu nợ, thanh toán nghĩa vụ nộp thuế sau khi xử lý TSBÐ. Theo Nghị quyết 42, số tiền thu được từ xử lý TSBÐ của khoản nợ xấu được ưu tiên thanh toán cho nghĩa vụ nợ của các TCTD trước khi thực hiện nghĩa vụ thuế, nghĩa vụ khác không có bảo đảm.

Tuy nhiên, từ thực tế triển khai, các ngân hàng cho biết, ngành thuế nhiều địa phương vẫn yêu cầu bên nhận bảo đảm/bên nhận chuyển nhượng phải đóng thay tiền thuế thu nhập cho bên bảo đảm mới thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận, sang tên trước bạ (mặc dù TSBÐ sau khi xử lý không đủ trả nợ cho TCTD).

“Ðiều này không phù hợp với quy định tại Nghị quyết 42, hạn chế các TCTD trong công tác xử lý nợ xấu”, phó tổng giám đốc phụ trách khối pháp chế một ngân hàng thương mại cổ phần nói.

“Ngoài ra, Nghị quyết 42 chỉ quy định áp dụng thủ tục rút gọn để giải quyết tranh chấp về nghĩa vụ giao TSBÐ, tranh chấp về quyền xử lý TSBÐ của khoản nợ xấu của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu, mà chưa quy định được áp dụng thủ tục rút gọn đối với các tranh chấp hợp đồng tín dụng của các TCTD với khách hàng vay”, vị giám đốc AMC thông tin.

Vướng mắc vẫn chồng… vướng mắc

Ðiều 14 – Nghị quyết 42 mới chỉ quy định về việc hoàn trả TSBÐ là vật chứng trong vụ án hình sự cho các TCTD, mà chưa quy định về việc hoàn trả TSBÐ là tang vật của các vụ việc hành chính cho các TCTD. Trên thực tế xảy ra nhiều vụ việc TSBÐ là phương tiện vận tải bị cơ quan công an tịch thu, tạm giữ do là tang vật trong vụ việc vi phạm bị xử lý hành chính, hoặc do vi phạm luật giao thông đường bộ.

Các cơ quan nhà nước không hoàn trả các TSBÐ này cho TCTD do chưa có văn bản pháp luật quy định. Trong trường hợp này, cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính như xử lý bán đấu giá TSBÐ là tang vật của vụ án hành chính theo quyết định xử lý vi phạm hành chính, số tiền thu được từ việc xử lý tài sản này sẽ được sử dụng theo quy định của pháp luật mà không chuyển cho TCTD.

“Như vậy, việc xử lý TSBÐ là tang vật trong vụ việc vi phạm hành chính đã gây thiệt hại cho TCTD (TCTD bị mất TSBÐ). Trường hợp cơ quan nhà nước trả lại TSBÐ cho chủ tài sản – bên bảo đảm, sẽ làm kéo dài thời gian xử lý nợ của TCTD”, một nhân viên xử lý nợ của Vietcombank than thở.

Vị phó tổng giám đốc phụ trách pháp chế cho biết, TCTD thực hiện quyền thu giữ tài sản theo quy định tại Khoản 2, Ðiều 7 – Nghị quyết 42 khi bên bảo đảm không tự nguyện bàn giao TSBÐ theo yêu cầu của TCTD. Khi tiến hành thu giữ tài sản, chủ tài sản bất hợp tác, chống đối hoặc không có mặt theo thông báo và TCTD phải lập biên bản thu giữ TSBÐ có sự chứng kiến và ký biên bản của đại diện ủy ban nhân cấp xã nơi tiến hành thu giữ TSBÐ theo đúng quy định tại Khoản 5, Ðiều 7 – Nghị quyết 42. Như vậy, về pháp lý, biên bản thu giữ TSBÐ có xác nhận của ủy ban nhân dân cấp xã có giá trị tương đương và có thể thay thế cho văn bản bàn giao tài sản thế chấp.

“Tuy nhiên, do Thông tư 24/2014/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường chưa quy định thành phần hồ sơ đăng ký biến động quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất trong trường hợp TCTD thực hiện quyền thu giữ TSBÐ theo quy định tại Ðiều 7 – Nghị quyết 42 để xử lý tài sản thế chấp, nên nhiều văn phòng đăng ký đất đai không chấp nhận biên bản thu giữ TSBÐ và từ chối việc đăng ký biến động cho người mua tài sản thế chấp.

Việc khó khăn trong sang tên tài sản khiến các cá nhân, tổ chức có nhu cầu không muốn mua tài sản do các TCTD thu giữ, phát mại theo Nghị quyết 42, dẫn đến làm chậm trễ quá trình xử lý nợ xấu của các TCTD”, vị phó tổng giám đốc phụ trách pháp chế nhấn mạnh.

Ðặc biệt, tranh chấp tài sản đang là vấn đề phức tạp nhất, gây khó khăn nhất đối với các TCTD trong quá trình xử lý TSBÐ nếu không có quy định rõ ràng. Ðối với vấn đề này, tại Ðiểm d, Khoản 2, Ðiều 7 – Nghị quyết 42 quy định: “TSBÐ không phải là tài sản tranh chấp trong vụ án đã được thụ lý, nhưng chưa được giải quyết hoặc đang được giải quyết tại tòa án có thẩm quyền; không đang bị tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; không đang bị kê biên hoặc áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án theo quy định của pháp luật”.

Dù vậy, hiện chưa có hướng dẫn thế nào là tài sản đang tranh chấp, dẫn đến cách hiểu về tài sản tranh chấp giữa các cơ quan tố tụng tại nhiều nơi, nhiều cấp khác nhau, gây khó khăn cho các TCTD trong việc xác định TSBÐ nào đang tranh chấp khi xử lý TSBÐ theo Nghị quyết 42.

Xử Lý Nợ Xấu Theo Nghị Quyết 42: Nút Thắt Là Tài Sản Đảm Bảo / 2023

Các chuyên gia cho rằng, để quá trình xử lý nợ xấu mang lại hiệu quả cao hơn, chính quyền địa phương và các cơ quan quản lý cần nhanh chóng, chủ động, tích cực tháo gỡ các vướng mắc.

Đến nay, Nghị quyết 42/2017/QH14 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu (Nghị quyết 42) đã đi được hơn 1/3 chặng đường thực hiện. Dù kết quả đã đạt được là khá rõ nét, nhưng theo các chuyên gia và những người thực hiện xử lý nợ trực tiếp thì vẫn còn một số vướng mắc cần được tháo gỡ để Nghị quyết 42 phát huy hiệu quả cao hơn…

Đi vào thực chất

Chuyên gia tài chính ngân hàng Cấn Văn Lực đánh giá cách thức quản lý, theo dõi, đánh giá nợ xấu có bước tiến rõ nét làm động lực thúc đẩy xử lý nợ xấu theo hướng chủ động và thực chất hơn. Theo đó, tại Đề án 1058 về “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016-2020,” mục tiêu đưa tỷ lệ nợ xấu gộp (gồm nợ xấu nội bảng, nợ bán cho VAMC chưa được xử lý và nợ xấu tiềm ẩn) về mức 3% đến năm 2020 đã được đưa ra thay cho chỉ tiêu tỷ lệ nợ xấu thường thấy trước đây.

Cũng theo ông Lực, việc đưa ra mục tiêu tỷ lệ nợ xấu gộp đã giúp cho công tác quản lý nợ xấu tại các cơ quan quản lý cũng như tổ chức tín dụng đi vào thực chất hơn, tạo động lực và cả áp lực đối với hệ thống các tổ chức tín dụng trong việc tích cực, chủ động xử lý nợ xấu.

Chính vì vậy, tính đến cuối năm 2018, tỷ lệ nợ xấu nội bảng của các tổ chức tín dụng đã giảm xuống mức 1,89% (so với mức 1,99% cuối năm 2017 và 2,46% cuối năm 2016) và tỷ lệ nợ xấu gộp khoảng 6,67% tổng dư nợ, giảm mạnh so với mức 10,08% vào cuối năm 2016 và 7,36% cuối năm 2017.

Tại buổi công bố kết quả hoạt động quý 1, bà Nguyễn Thị Hồng, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cho biết, tính đến cuối tháng Một, ước tính toàn hệ thống các tổ chức tín dụng đã xử lý được 204.400 tỷ đồng nợ xấu, ước đạt trên 40,1% tổng số nợ xấu được xác định theo Nghị quyết 42. Riêng năm 2018 đã xử lý được 113.400 tỷ đồng, trong đó xử lý nợ xấu nội bảng ước đạt 117.200 tỷ đồng.

Bà Hồng cho biết, kết quả xử lý nợ xấu như vậy là rất khả quan. Tỷ lệ nợ xấu nội bảng đang được duy trì dưới 2%.

Các giải pháp xử lý nợ xấu được triển khai đồng bộ cùng với các biện pháp kiểm soát, phòng ngừa nợ xấu mới phát sinh, đã góp phần nâng cao chất lượng tín dụng và giảm tỷ lệ nợ xấu của hệ thống các tổ chức tín dụng.

Còn nhiều vướng mắc

Chủ tịch Hội đồng quản trị VAMC Nguyễn Tiến Đông cho biết, hiện tại, VAMC cũng như tổ chức tín dụng đang gặp một số vướng mắc trong quá trình triển khai theo Nghị quyết 42.

Đơn cử, việc giải quyết tranh chấp theo thủ tục rút gọn rất hạn chế, thứ tự ưu tiên xử lý trong vụ việc có nhiều tài sản thi hành án được hiểu và áp dụng khác nhau. Trong chuyển nhượng dự án bất động sản cũng gặp vướng mắc. Sự hỗ trợ từ chính quyền địa phương vẫn chưa đồng đều do cách hiểu khác nhau, nên có nơi hỗ trợ rất tốt, nhưng có nơi vẫn chưa tích cực…

Ông Đông nhấn mạnh, giải quyết những vấn đề lớn này cần sự vào cuộc chung của toàn hệ thống để chỉnh sửa kịp thời các quy định được đặt ra như Bộ Tài chính có quy định cụ thể về nghĩa vụ thuế như thế nào, Bộ Tài nguyên và Môi trường có hướng dẫn chuyển nhượng dự án bất động sản ra sao…

Theo Nghị quyết 42, quyền thu giữ tài sản bảo đảm đi kèm với điều kiện hồ sơ thế chấp phải có thỏa thuận về điều khoản thu giữ tài sản bảo đảm, trong khi đó tính đến thời điểm Nghị quyết 42 có hiệu lực, nhiều hợp đồng thế chấp chưa có điều khoản này. Vì vậy, các tổ chức tín dụng cần đàm phán với bên vay để điều chỉnh hợp đồng.

Ngoài ra, ngay cả với những khoản vay đáp ứng được điều kiện này thì việc thực hiện quyền thu giữ tài sản bảo đảm của các tổ chức tín dụng vẫn cần đến sự hỗ trợ của cơ quan công an các cấp. Tuy nhiên, đến nay Bộ Công an vẫn chưa có văn bản hướng dẫn về cơ chế, cách thức thực hiện cưỡng chế đối với các trường hợp bên bảo đảm chống đối, không hợp tác. Do đó, việc thu giữ tài sản bảo đảm thành công hay không hiện nay phụ thuộc khá nhiều vào thiện chí của bên vay (bên bảo đảm).

Các chuyên gia cho rằng, để quá trình xử lý nợ xấu và thực hiện Nghị quyết 42 mang lại hiệu quả cao hơn, đáp ứng yêu cầu đề ra, chính quyền địa phương và các cơ quan quản lý cần nhanh chóng, chủ động, tích cực tháo gỡ các vướng mắc nêu trên. Đồng thời, cần nghiêm túc thực hiện đánh giá kết quả thực hiện giữa kỳ vào thời điểm cuối năm 2019…