Ý Nghĩa Của Luật An Ninh Quốc Gia Đối Với Việc Bảo Vệ “Một Nước, Hai Chế Độ” Ở Hong Kong

Theo tờ Global Times (Thời báo Hoàn cầu), ấn bản của Nhân dân Nhật báo – cơ quan ngôn luận của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc ngày 30/6, Ủy ban Thường vụ Quốc hội Trung Quốc đã thông qua Luật an ninh Quốc gia về Hong Kong. Luật này có hiệu lực từ 23 giờ đêm 30/6.

Cả chính quyền trung ương lẫn xã hội Trung Quốc đều không muốn hủy bỏ nguyên tắc “một nước, hai chế độ” không có nghĩa là một số ít lực lượng cực đoan ở Hong Kong có thể thông đồng với Mỹ và các lực lượng bên ngoài khác để gây rối cho thành phố, cũng không cho phép các cuộc biểu tình bạo lực tồn tại ở Hong Kong. Luật an ninh quốc gia bảo vệ “một nước, hai chế độ” và sẽ ngăn Hong Kong trở thành thành phố hỗn loạn nhất châu Á. Bên trong rào cản này, dân chủ, tự do, đa nguyên và cởi mở sẽ không bị đàn áp. Thay vào đó, chúng sẽ được phát huy đầy đủ hơn.

Global Times nhấn mạnh rằng cái gọi là “một nước, hai chế độ” là cáo buộc được đưa ra bởi các lực lượng cực đoan ở Hong Kong và Mỹ cùng các lực lượng bên ngoài khác. Trung Quốc Đại lục không có ý định như vậy. Tuy nhiên, có một kế hoạch độc hại để kéo Hong Kong từ Trung Quốc vào vòng tròn quyền lực của Mỹ và biến thành phố này thành điểm tựa để Washington kiềm chế Bắc Kinh. Một số lực lượng tại Hong Kong đã tích cực phối với một âm mưu như vậy.

Các lực lượng này đã kéo Hong Kong ra khỏi con đường phát triển đúng đắn. Trong vài chục năm qua, khu tự trị này đột nhiên trở nên chính trị hóa và bạo lực cao độ, không quan tâm đến vị thế quý giá của nó như là một trung tâm tài chính quốc tế, biến thành một “con rối” của Mỹ và lạc đường. Nhiệm vụ cốt lõi của Luật an ninh quốc gia là “chữa lành” những thương tích chết người này cho Hong Kong.

Vài giờ trước khi luật được thông qua vào ngày 30/6, một số nhóm ly khai ở Hong Kong tuyên bố giải tán, chỉ số chứng khoán Hang Seng tăng. Tất cả những điều này sẽ làm tăng sự tự tin của xã hội Hong Kong trong việc thực thi luật pháp.

Trước khi Trung Quốc thông qua Luật an ninh quốc gia áp dụng đối với Hong Kong, Mỹ tuyên bố hủy bỏ chế độ ưu đãi đối với Hong Kong. Tuy nhiên, Mỹ chỉ đình chỉ hiệu lực các giấy phép xuất khẩu ngoại lệ và chấm dứt xuất khẩu thiết bị quốc phòng của Mỹ sang Hong Kong. Họ không đụng đến tình tràng của Hong Kong như một lãnh thổ hải quan riêng biệt. Do đó, dư luận quốc tế nói chung tin rằng tác động trực tiếp của việc đó sẽ vừa phải. Trung Quốc sẵn sàng đối phó với tình hình tồi tệ hơn và sự đe dọa từ Mỹ đất thất bại.

Với sự hỗ trợ của Luật an ninh quốc gia, Hong Kong cần phải tăng cường ổn định và tập trung vào phát triển kinh tế, xã hội. Dựa vào nền kinh tế của Đại lục, vị thế cảu một trung tâm tài chính quốc tế của Hong Kong không thể bị mất đi.

Luật an ninh quốc gia đối với Hong Kong không hồi tố và điều này khiến cho ngày 30/6/2024 trở thành một bước ngoặt. Những người nhận thức được tình hình hiện tại và thay đổi cách hành xử của họ sẽ được an toàn. Luật này có hình phạt tối đa là tù chung thân. Đặc biệt, thủ phạm chính sẽ phải đối mặt với hình phạt nghiêm khắc.

Cân nhắc của Bắc Kinh trên hồ sơ Hong Kong

Theo đài RFI, giới quan sát cho rằng việc mạnh tay và bằng mọi giá nhanh chóng giành lại quyền kiểm soát Hong Kong, Trung Quốc đã có nhiều tính toán cùng lúc. Một là vĩnh viễn dẹp các phong trào phản kháng âm ỉ từ mùa xuân năm ngoái với các cuộc xuống đường có khi huy động được hơn 1 triệu dân Hong Kong chống đối dự luật dẫn độ. Chính quyền Trung Quốc lo ngại làn sóng phản kháng này, một thứ “virus chính trị” trong con mắt Bắc Kinh, có nguy cơ lan tới Hoa Lục.

Nhà báo Pierre Haski, nguyên phóng viên của báo Libération tại Bắc Kinh, cho rằng Luật an ninh quốc gia đối với Hong Kong có thể là dấu hiệu rõ rệt nhất cho thấy Trung Quốc đã “đủ mạnh và sẵn sàng thách thức phần còn lại của thế giới, mà đứng đầu là Mỹ.

Có lẽ Bắc Kinh biết rõ đòn “giơ cao đánh khẽ” của chính quyền Trump, sự chia rẽ vì những lợi ích kinh tế và thương mại của các thành viên trong Liên minh châu Âu (EU), cũng như thế yếu của chính quyền London sau đại dịch COVID-19 và Brexit.

Giới quan sát hy vọng là phe dân chủ Hong Kong đủ chín chắn để hiểu được rằng sẽ là một sai lầm nếu trông đợi vào sự yểm trợ của các nền dân chủ lâu đời phương Tây để cưỡng lại guồng máy an ninh của Hoa Lục.

Nguồn: TKNB – 03/07/2024.

Ý Nghĩa To Lớn Của Luật An Ninh Mạng

86.86% đại biểu Quốc hội đồng ý thông qua Luật An ninh mạng

Theo điều khoản quy định trong Luật An ninh mạng thì sẽ có nhiều hành vi bị cấm trên mạng Internet như: Đăng tải, tán phát thông tin trên không gian mạng có nội dung tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; kích động gây bạo loạn, phá rối an ninh, gây rối trật tự công cộng; Xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xúc phạm tôn giáo, phân biệt đối xử về giới, phân biệt chủng tộc; Thông tin sai sự thật gây hoang mang trong nhân dân, gây thiệt hại cho các hoạt động kinh tế – xã hội, gây khó khăn cho hoạt động của cơ quan nhà nước hoặc người thi hành công vụ, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác;… sẽ bị xử lý nghiêm.

BBC tiếng Việt lo sợ việc ban hành Luật An ninh mạng

Luật An ninh mạng ra đời sẽ là lời cảnh tỉnh cho những kẻ lợi dụng không gian mạng để đăng tải bài viết chống Đảng, chống Nhà nước; kích động, xúi giục biểu tình chống chính quyền,… Luật An ninh mạng ban hành đồng nghĩa với việc cắt “cần câu cơm” của đám rận chủ, bởi những bài viết mà các đối tượng đăng tải lên không gian mạng sẽ được các thế lực bên ngoài trả tiền. Điều này lý giải vì sao trước khi Luật này thông qua, đám rận chủ và các thế lực thù địch ra sức đưa ra các luận điệu với những lý lẽ thiếu căn cứ, chính xác để bác bỏ Luật An ninh mạng.

Có thể nói, Luật An ninh mạng có ý nghĩa hết sức quan trọng trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, công nghệ trong điều kiện của cách mạng công nghiệp 4.0 và Việt Nam đang hội nhập sâu rộng với thế giới, mở rộng giao lưu, hợp tác quốc tế trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Luật An ninh mạng được ban hành sẽ bảo đảm cơ sở pháp lý vững chắc cho các cơ quan, tổ chức và nhân dân có thể chủ động tiến hành có hiệu quả các hoạt động, biện pháp cần thiết để phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn và loại trừ các hành vi xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội trên không gian mạng; các hành vi tấn công vào hạ tầng kỹ thuật mạng máy tính, viễn thông, internet ở Việt Nam; đồng thời bảo đảm quyền con người, quyền công dân; khắc phục các hạn chế của pháp luật hiện hành, góp phần bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội trong tình hình mới.

Việc Nghiên Cứu Mở Lại Đường Bay Quốc Tế Thực Hiện Như Thế Nào?

Bộ Giao thông Vận tải (GTVT) vừa giao Cục Hàng không Việt Nam (VN) nghiên cứu, đề xuất thời điểm và nguyên tắc dần nới lỏng xuất nhập cảnh, nối lại một số đường bay phục hồi giao thương, thăm thân, du lịch, thương mại, đầu tư trên cơ sở song phương. Theo đó, Bộ GTVT yêu cầu Cục Hàng không VN nghiên cứu, báo cáo lại Bộ việc nối lại một số đường bay quốc tế trên cơ sở song phương trước ngày 10-6 để trình Thủ tướng xem xét, quyết định.

Trao đổi với Báo Người Lao Động, đại diện Cục Hàng không VN cho biết hiện nay Cục vẫn đang nghiên cứu, theo sát tình hình khu vực và thế giới để có những đề xuất phù hợp.

Được biết, các hãng hàng không trong nước đều sẵn sàng bay quốc tế như thời điểm trước dịch. Cục Hàng không VN cũng đã tiếp nhận đề nghị của nhiều hãng hàng không Đài Loan và Hàn Quốc muốn được bay đến Việt Nam. Cục Hàng không VN đã có kế hoạch nối lại các đường bay, song việc này phụ thuộc vào đánh giá tình hình dịch bệnh tại các quốc gia. Sau khi Cục làm đánh giá sẽ báo cáo lên Bộ GTVT và các Bộ Ngoại giao, Y tế, Ban Chỉ đạo quốc gia phòng chống dịch Covid -19 sẽ phải làm việc rất chặt chẽ về vấn đề này, đánh giá và quyết định thời điểm cho mở đường bay nào.

Trao đổi với Báo Người Lao Động, ông Đặng Anh Tuấn, Trưởng ban Truyền thông thương hiệu của Vietnam Airlines, cho biết Cục Hàng không VN chưa làm việc với hãng về việc nghiên cứu nối lại một số đường bay quốc tế. Tuy nhiên, về mặt nguyên tắc, hãng hàng không đã chuẩn bị sẵn sàng cho việc này từ cách đây 2 tháng. Kể cả đang trong thời điểm dịch Covid-19, các kế hoạch và hoạt động chuẩn bị cho việc bay quốc tế vẫn phải sẵn sàng. Lý do là bởi sau dịch, những yêu cầu chắc chắn của việc phục hồi kinh tế, phục hồi du lịch là không thể chậm trễ. Bên cạnh đó, là xuất phát từ yêu cầu nội bộ của hãng hàng không. Dịch Covid-19 khiến ngành hàng không nói chung và Vietnam Airlines nói riêng bị thiệt hại nặng nề, nên khi thị trường cho phép, Chính phủ đồng ý thì phải bay ngay để có doanh thu.

“Từ cách đây 2 tháng, Vietnam Airlines đã lập tổ chuyên trách của từng khu vực, thị trường, đường bay để chuẩn bị về nguồn lực, tổ bay, tiếp viên, các chính sách thương mại… tất cả phải sẵn sàng để chờ khi nào Chính phủ “phát lệnh” là xuất phát luôn”- ông Tuấn chia sẻ.

Được biết, trong tháng 6, Vietnam Airlines sẽ mở lại chuyến bay giữa TP HCM/ Hà Nội đến Incheon (Hàn Quốc) với tần suất 4 chuyến/tuần. Đây là những chuyến bay thương mại nhưng chỉ khai thác một chiều từ Việt Nam, mức giá dao động từ 195 USD – 600 USD/ vé. Chiều từ Hàn Quốc về sẽ không chở khách theo yêu cầu của Chính phủ Việt Nam. Hành khách có thể transit (quá cảnh) tại Incheon để đi đến một số thành phố của Mỹ.

Vừa qua, ông Trịnh Văn Quyết, Chủ tịch HĐQT Bamboo Airways, cũng tái khẳng định mục tiêu sẽ tăng gần gấp đôi số đường bay nội địa, lên con số 60 đường bay cho đến hết năm 2024, và tăng số đường bay quốc tế từ 6 đường bay lên 25. Trong đó, dự kiến đường bay Mỹ sẽ được tái khởi động vào cuối năm 2024 hoặc đầu năm 2024.

Tại cuộc tọa đàm về kích cầu du lịch sau Covid-19 mới đây, một số chuyên gia hàng không và du lịch đề xuất nối lại các chuyến bay quốc tế trên cơ sở song phương với những quốc gia có công tác chống dịch tốt như Úc, New Zealand. Ngoài ra, một thị trường cũng được đánh giá khả quan là Đài Loan (Trung Quốc) đã kiểm soát dịch bệnh rất tốt. Đó có thể là một cơ hội nếu Chính phủ đánh giá Đài Loan đã kiểm soát dịch bệnh tốt, hai bên có thể mở được đường bay. Nhật Bản, Hàn Quốc cũng tương tự.

Theo đánh giá của một chuyên gia hàng không, thị trường vừa qua đã nén lại một thời gian, bản thân các thị trường đó cũng có nhu cầu nối lại giao thương để phục hồi kinh tế: Du lịch, hoạt động của các nhà đầu tư, doanh nghiệp, nhiều chuyên gia đang mắc kẹt… Tuy nhiên, việc nối lại đường bay quốc tế không phải là câu chuyện về thị trường, mà là về mặt kiểm soát dịch bệnh và cả mặt ngoại giao.

Nhu cầu nối lại các đường bay cao, song việc nối lại một số đường bay quốc tế sẽ được thực hiện từng bước, trên cơ sở song phương. Thủ tướng đã yêu cầu ngành du lịch, ngoại giao tiếp tục thúc đẩy, chuẩn bị cho mở cửa du lịch quốc tế, trước hết là một số đối tác đã ngăn ngừa được dịch bệnh tốt trong thời gian qua. Tại cuộc họp ngày 28-5, các thành viên Ban Chỉ đạo quốc gia phòng, chống Covid-19 thống nhất trước mắt, Việt Nam chưa mở cửa du lịch quốc tế; chỉ mở cửa đón khách quốc tế với công dân các nước trong vòng ít nhất 30 ngày không phát hiện ca nhiễm mới.

Ý Nghĩa, Tác Dụng Của Luật An Ninh Mạng

Luật An ninh mạng được thông qua có ý nghĩa, tác dụng sau đây:

Bảo vệ an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia được giao cho lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng, trực tiếp là lực lượng An ninh mạng thuộc Bộ Công an, lực lượng Tác chiến Không gian mạng thuộc Bộ Quốc phòng. Để bảo đảm phù hợp với hệ thống pháp luật trong nước, Luật An ninh mạng cũng giao Chính phủ quy định cụ thể việc phối hợp giữa Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Thông tin và Truyền thông, Ban Cơ yếu Chính phủ, các bộ, ngành chức năng trong việc thẩm định, đánh giá, kiểm tra, giám sát, ứng phó, khắc phục sự cố đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia.

– Hệ thống thông tin của cơ quan, tổ chức, cá nhân được bảo vệ trước hoạt động tấn công mạng theo quy định của Luật An ninh mạng.

– Các hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia được bảo vệ tương xứng với tầm quan trọng đối với an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội.

– Quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân được bảo vệ trước các hành vi tấn công mạng.

– Luật An ninh mạng cũng quy định cụ thể cơ chế phối hợp phòng, chống tấn công mạng của các bộ, ngành chức năng, xác định trách nhiệm cụ thể của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Ban Cơ yếu Chính phủ trong phòng, chống tấn công mạng.

Anh Vi Nhật Bình, Phó Bí thư Đoàn trường Đại học Kỹ thuật- Công nghệ Cần Thơ:Luật An ninh mạng sẽ giúp ngăn ngừa thông tin sai sự thật

Tôi nghĩ Luật ANM có hiệu lực sẽ hạn chế được những tin sai sự thật lan truyền trong cộng đồng mạng, ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Tôi cũng mong rằng mọi người, nhất là các bạn trẻ sẽ quan tâm, tìm hiểu về Luật ANM để bản thân không vi phạm hay bị người khác lợi dụng. Đặc biệt, không nên lạm dụng mạng xã hội để đưa thông tin sai sự thật, không có căn cứ dù chỉ nhằm mục đích trêu đùa, không có chủ đích xâm phạm đến quyền lợi của người khác. Trong trường hợp phát hiện có người tung tin đồn thất thiệt trên mạng xã hội, mọi người cần thông báo ngay với các cơ quan chính quyền địa phương, cơ quan công an nơi xảy ra vụ việc để có biện pháp xử lý kịp thời.

Phạm Trung (ghi)

Luật An Ninh Quốc Gia

LUẬT

AN NINH QUỐC GIA

Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10; Luật này quy định về an ninh quốc gia.

Chương I Những quy định chung

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Luật này quy định về chính sách an ninh quốc gia; nguyên tắc, nhiệm vụ, biện pháp bảo vệ an ninh quốc gia; quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, công dân trong bảo vệ an ninh quốc gia.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Luật này áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; cá nhân, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế cư trú, hoạt động trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập quy định khác thì áp dụng theo điều ước quốc tế đó.

Điều 3. Giải thích từ ngữ

1. An ninh quốc gia là sự ổn định, phát triển bền vững của chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, sự bất khả xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

2. Bảo vệ an ninh quốc gia là phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh làm thất bại các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia.

3. Hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia là những hành vi xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, an ninh, quốc phòng, đối ngoại, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

4. Nguy cơ đe doạ an ninh quốc gia là những nhân tố bên trong, bên ngoài lãnh thổ Việt Nam có khả năng thực tế gây nguy hại cho an ninh quốc gia của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

5. Cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia là cơ quan chỉ đạo, chỉ huy và đơn vị nghiệp vụ thuộc lực lượng vũ trang nhân dân được giao nhiệm vụ chuyên trách làm tham mưu, tổ chức, trực tiếp thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia.

6. Cán bộ chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia là sĩ quan, hạ sĩ quan của cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia được giao nhiệm vụ chuyên trách làm tham mưu, tổ chức, trực tiếp thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia.

7. Biện pháp nghiệp vụ là biện pháp công tác của cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia được thực hiện theo quy định của pháp luật.

9. Nền an ninh nhân dân là sức mạnh về tinh thần, vật chất, sự đoàn kết và truyền thống dựng nước, giữ nước của toàn dân tộc được huy động vào sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia, trong đó lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia làm nòng cốt.

10. Thế trận an ninh nhân dân là việc tổ chức, bố trí lực lượng bảo vệ an ninh quốc gia và các nguồn lực cần thiết để chủ động bảo vệ an ninh quốc gia.

Điều 4. Chính sách an ninh quốc gia

1. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện chính sách hòa bình, hữu nghị, mở rộng giao lưu và hợp tác với tất cả các nước trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và cùng có lợi.

2. Nhà nước có chính sách xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, công nghệ, an ninh, quốc phòng, đối ngoại vững mạnh, giữ vững ổn định chính trị để bảo đảm an ninh quốc gia.

Điều 5. Nguyên tắc hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia

1. Tuân thủ Hiến pháp, pháp luật, bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

2. Đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý thống nhất của Nhà nước; huy động sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và toàn dân tộc, lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia làm nòng cốt.

3. Kết hợp chặt chẽ giữa nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia với nhiệm vụ xây dựng, phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội; phối hợp có hiệu quả hoạt động an ninh, quốc phòng và đối ngoại.

4. Chủ động phòng ngừa, chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia.

Điều 6. Xây dựng lực lượng bảo vệ an ninh quốc gia

1. Nhà nước xây dựng lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại làm nòng cốt thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia.

2. Cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm xây dựng lực lượng công an xã, dân quân tự vệ, bảo vệ cơ quan, doanh nghiệp, bảo vệ dân phố, dân phòng tham gia hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia theo quy định của pháp luật.

Điều 7. Bảo đảm điều kiện cho hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia

Nhà nước bảo đảm ngân sách và cơ sở vật chất cho các hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia trong mọi tình huống, ưu tiên các địa bàn chiến lược, xung yếu, quan trọng về an ninh quốc gia; có chính sách huy động thành tựu khoa học và công nghệ phục vụ hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia.

Điều 8. Trách nhiệm, nghĩa vụ bảo vệ an ninh quốc gia

Bảo vệ an ninh quốc gia là sự nghiệp của toàn dân. Cơ quan, tổ chức, công dân có trách nhiệm, nghĩa vụ bảo vệ an ninh quốc gia theo quy định của pháp luật.

Điều 9. Chế độ, chính sách đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia

1. Nhà nước bảo vệ, giữ bí mật cho cán bộ, chiến sĩ thuộc lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia và cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia bảo vệ an ninh quốc gia.

2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia có thành tích thì được khen thưởng, bị tổn hại về danh dự thì được khôi phục, bị thiệt hại về tài sản thì được đền bù; người bị thương tích, tổn hại về sức khỏe, bị thiệt hại về tính mạng thì bản thân và gia đình được hưởng chế độ, chính sách theo quy định của pháp luật.

Điều 10. Tuyên truyền, giáo dục bảo vệ an ninh quốc gia

1. Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm tổ chức, chỉ đạo công tác tuyên truyền, giáo dục bảo vệ an ninh quốc gia.

2. Cơ quan thông tin, tuyên truyền có trách nhiệm tổ chức tuyên truyền, phổ biến pháp luật và nâng cao ý thức bảo vệ an ninh quốc gia cho toàn dân.

3. Cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tuyên truyền, giáo dục, vận động công dân Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài bảo vệ an ninh quốc gia.

4. Giáo dục bảo vệ an ninh quốc gia là một nội dung giáo dục quốc dân. Cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo có trách nhiệm đưa nội dung giáo dục bảo vệ an ninh quốc gia vào chương trình dạy học trong nhà trường và các cơ sở giáo dục khác phù hợp với ngành học, cấp học.

Điều 11. Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ an ninh quốc gia

Điều 12. Chính sách xử lý các hành vi xâm phạm an ninh quốc gia

1. Mọi hành vi xâm phạm an ninh quốc gia đều phải bị xử lý nghiêm minh, kịp thời theo đúng quy định của pháp luật. Người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối thì bị nghiêm trị.

2. Người bị ép buộc, lừa gạt, lôi kéo nhận làm việc cho tổ chức, cá nhân để hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia mà tự thú, thành khẩn khai báo thì được khoan hồng; nếu lập công thì được khen thưởng.

3. Người nước ngoài có hành vi xâm phạm an ninh quốc gia của Việt Nam ở ngoài lãnh thổ Việt Nam có thể bị xử lý theo pháp luật của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có quy định.

Điều 13. Các hành vi bị nghiêm cấm

1. Tổ chức, hoạt động, câu kết, xúi giục, khống chế, kích động, mua chuộc, lừa gạt, lôi kéo người khác nhằm chống chính quyền nhân dân, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, chia cắt đất nước, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

2. Nhận nhiệm vụ của tổ chức, cá nhân để hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tham gia, giúp sức, cung cấp tài chính, vũ khí, phương tiện cho các tổ chức, cá nhân hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia.

3. Thu thập, tàng trữ, vận chuyển, mua bán, sử dụng, tiết lộ, cung cấp, tán phát trái phép tin tức, tài liệu, vật phẩm thuộc bí mật nhà nước.

4. Xâm phạm mục tiêu quan trọng về an ninh quốc gia.

5. Chống lại hoặc cản trở cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia.

6. Lợi dụng việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

CHƯƠNG II BẢO VỆ AN NINH QUỐC GIA

Điều 14. Nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia

1. Bảo vệ chế độ chính trị và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

2. Bảo vệ an ninh về tư tưởng và văn hoá, khối đại đoàn kết toàn dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

3. Bảo vệ an ninh trong các lĩnh vực kinh tế, quốc phòng, đối ngoại và các lợi ích khác của quốc gia.

4. Bảo vệ bí mật nhà nước và các mục tiêu quan trọng về an ninh quốc gia.

5. Phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh làm thất bại và loại trừ các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia, nguy cơ đe doạ an ninh quốc gia.

Điều 15. Các biện pháp cơ bản bảo vệ an ninh quốc gia

1. Các biện pháp cơ bản bảo vệ an ninh quốc gia bao gồm vận động quần chúng, pháp luật, ngoại giao, kinh tế, khoa học – kỹ thuật, nghiệp vụ, vũ trang.

2. Nội dung, điều kiện, thẩm quyền, trình tự, thủ tục và trách nhiệm áp dụng các biện pháp quy định tại khoản 1 Điều này do pháp luật quy định.

Điều 16. Xây dựng nền an ninh nhân dân và thế trận an ninh nhân dân

1. Vận động toàn dân tham gia phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc; giáo dục, động viên cán bộ, công chức, người lao động và mọi công dân tham gia xây dựng địa phương, cơ quan, tổ chức vững mạnh; xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.

2. Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, chính sách, kế hoạch bảo vệ an ninh quốc gia gắn với xây dựng, củng cố hệ thống chính trị, phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, đối ngoại và kết hợp chặt chẽ với xây dựng nền quốc phòng toàn dân.

3. Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ an ninh quốc gia; xác định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong bảo vệ an ninh quốc gia.

4. Xây dựng lực lượng bảo vệ an ninh quốc gia vững mạnh; xây dựng các phương án và tổ chức, bố trí lực lượng, phương tiện cần thiết để chủ động bảo vệ an ninh quốc gia trong mọi tình huống.

Điều 17. Quyền và nghĩa vụ của công dân trong bảo vệ an ninh quốc gia

1. Tham gia lực lượng bảo vệ an ninh quốc gia và thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia theo quy định của pháp luật.

2. Tố cáo hành vi xâm phạm an ninh quốc gia, hành vi lợi dụng việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

3. Phát hiện, kiến nghị với chính quyền hoặc cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia khắc phục sơ hở, thiếu sót trong việc thực hiện pháp luật về bảo vệ an ninh quốc gia.

5. Thực hiện yêu cầu của cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia theo quy định của pháp luật.

6. Giúp đỡ, tạo điều kiện cho cơ quan và người có trách nhiệm tiến hành các biện pháp phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh với hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia.

Điều 18. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong bảo vệ an ninh quốc gia

1. Cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tổ chức thực hiện các nhiệm vụ quy định tại Điều 14 của Luật này và các quy định khác của pháp luật về bảo vệ an ninh quốc gia.

2. Thực hiện các biện pháp bảo vệ an ninh chính trị nội bộ, huy động sức mạnh của cơ quan, tổ chức để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia; đưa nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia vào chương trình, kế hoạch và các hoạt động chuyên môn của cơ quan, tổ chức.

3. Giáo dục, động viên mọi thành viên của cơ quan, tổ chức mình và nhân dân tham gia bảo vệ an ninh quốc gia.

5. Thực hiện yêu cầu của cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia theo quy định của pháp luật.

Điều 19. Trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên trong bảo vệ an ninh quốc gia

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tuyên truyền, động viên nhân dân xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật về bảo vệ an ninh quốc gia; giám sát việc thực hiện pháp luật về bảo vệ an ninh quốc gia của tổ chức, cá nhân.

Điều 20. Bảo vệ an ninh quốc gia khi có tình trạng khẩn cấp, tình trạng chiến tranh

Khi có tình trạng khẩn cấp, tình trạng chiến tranh, việc bảo vệ an ninh quốc gia được thực hiện theo quy định của pháp luật về tình trạng khẩn cấp, tình trạng chiến tranh.

Hội đồng quốc phòng và an ninh có trách nhiệm động viên mọi lực lượng và khả năng của đất nước để bảo vệ Tổ quốc; thực hiện những nhiệm vụ và quyền hạn đặc biệt do Quốc hội giao.

Điều 21. Áp dụng một số biện pháp cần thiết khi có nguy cơ đe doạ an ninh quốc gia nhưng chưa đến mức ban bố tình trạng khẩn cấp

1. Khi có nguy cơ đe doạ an ninh quốc gia nhưng chưa đến mức ban bố tình trạng khẩn cấp, Thủ tướng Chính phủ được quyết định áp dụng một số biện pháp sau đây:

a) Tăng cường bảo vệ các mục tiêu quan trọng;

b) Tổ chức các trạm canh gác để hạn chế hoặc kiểm soát người, phương tiện hoạt động vào những giờ nhất định, tại những khu vực nhất định;

c) Thực hiện kiểm soát đặc biệt tại các cửa khẩu, các chuyến vận chuyển bằng đường hàng không, đường biển, đường thuỷ nội địa, đường sắt và đường bộ;

d) Hạn chế hoặc tạm ngừng việc vận chuyển, sử dụng chất cháy, chất nổ, chất độc, hoá chất độc hại, chất phóng xạ thuộc quyền sử dụng hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; kiểm soát chặt chẽ việc vận chuyển, sử dụng các loại vũ khí, công cụ hỗ trợ;

đ) Cấm, giải tán hoặc hạn chế các cuộc tụ tập đông người và những hoạt động của cá nhân, tổ chức xét thấy có hại cho an ninh quốc gia;

e) Hạn chế hoặc tạm ngừng hoạt động của nhà hát, rạp chiếu phim và nơi sinh hoạt công cộng khác;

g) Kiểm soát việc sử dụng các phương tiện thông tin liên lạc tại một địa phương hay khu vực nhất định;

h) Buộc người có hành vi gây nguy hại cho an ninh quốc gia rời khỏi các khu vực quan trọng về chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng hoặc không được rời khỏi nơi cư trú;

i) Huy động nhân lực, vật lực để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia.

2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân phải chấp hành các mệnh lệnh, quyết định của cơ quan và người thi hành các biện pháp quy định tại khoản 1 Điều này.

CHƯƠNG III CƠ QUAN CHUYÊN TRÁCH BẢO VỆ AN NINH QUỐC GIA

Điều 22. Các cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia

1. Các cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia bao gồm:

a) Cơ quan chỉ đạo, chỉ huy và các đơn vị an ninh, tình báo, cảnh vệ Công an nhân dân;

b) Cơ quan chỉ đạo, chỉ huy và các đơn vị bảo vệ an ninh quân đội, tình báo Quân đội nhân dân;

c) Bộ đội biên phòng, cảnh sát biển là cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia ở khu vực biên giới trên đất liền và khu vực biên giới trên biển.

2. Tổ chức bộ máy, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể, phạm vi trách nhiệm hoạt động và quan hệ phối hợp của các cơ quan quy định tại khoản 1 Điều này do pháp luật quy định.

Điều 23. Nhiệm vụ của cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia

1. Cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia thực hiện nhiệm vụ quy định tại Điều 14 của Luật này.

2. Các nhiệm vụ cụ thể của cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia:

a) Tổ chức thu thập thông tin, phân tích, đánh giá, dự báo tình hình và đề xuất các chủ trương, giải pháp, phương án bảo vệ an ninh quốc gia;

b) Hướng dẫn, kiểm tra cơ quan, tổ chức và công dân thực hiện quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm bảo vệ an ninh quốc gia, bảo vệ bí mật nhà nước, xây dựng cơ quan, đơn vị an toàn, xây dựng phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc;

c) Tổ chức, chỉ đạo công tác phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh với các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia;

d) Nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ vào công tác bảo vệ an ninh quốc gia;

đ) Thực hiện hợp tác với các nước, các tổ chức quốc tế theo điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập trong phòng, chống hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia.

Điều 24. Quyền hạn, trách nhiệm của cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia

1. Cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia được quyền:

a) Sử dụng các biện pháp nghiệp vụ theo quy định của pháp luật;

d) Yêu cầu cơ quan, tổ chức bưu chính, viễn thông, hải quan bóc mở hoặc giao thư tín, điện tín, bưu phẩm, bưu kiện, hàng hoá để kiểm tra khi có căn cứ xác định trong đó có thông tin, tài liệu, chất nổ, vũ khí, vật phẩm khác có nguy hại cho an ninh quốc gia;

e) Trưng dụng theo quy định của pháp luật phương tiện thông tin, phương tiện giao thông, phương tiện khác và người đang sử dụng, điều khiển phương tiện đó trong trường hợp cấp bách để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia hoặc để ngăn chặn hậu quả thiệt hại cho xã hội đang xảy ra hoặc có nguy cơ xảy ra;

g) Tạm đình chỉ hoặc đình chỉ việc sử dụng phương tiện thông tin liên lạc hoặc các hoạt động khác trên lãnh thổ Việt Nam khi có căn cứ xác định các hoạt động này gây nguy hại cho an ninh quốc gia; yêu cầu ngừng các chuyến vận chuyển bằng các loại phương tiện giao thông của Việt Nam hoặc các phương tiện giao thông của nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam để bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm an toàn cho các phương tiện đó;

h) Áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ người cộng tác, người tố giác, người làm chứng, người bị hại trong các vụ án xâm phạm an ninh quốc gia.

2. Thủ trưởng cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia quyết định việc sử dụng các quyền hạn quy định tại khoản 1 Điều này theo thủ tục, thẩm quyền do Chính phủ quy định và chịu trách nhiệm trước pháp luật về các quyết định của mình.

3. Cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia có trách nhiệm:

a) Tiến hành các hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định của pháp luật;

b) Tuân thủ các quy định của pháp luật về bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; trong trường hợp vì yêu cầu bảo vệ an ninh quốc gia phải hạn chế các quyền và lợi ích đó thì phải được người có thẩm quyền quyết định;

c) Giữ bí mật về sự giúp đỡ của cơ quan, tổ chức, cá nhân đối với công tác bảo vệ an ninh quốc gia.

Điều 25. Quyền hạn, trách nhiệm của cán bộ chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia

1. Cán bộ chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia trong khi thực hiện nhiệm vụ được quyền:

a) Thực hiện các quyền quy định tại khoản 1 Điều 24 của Luật này theo quyết định của người có thẩm quyền của cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia;

b) Giữ bí mật về nhân thân, lai lịch, nhiệm vụ và phương tiện thực hiện nhiệm vụ;

c) Miễn thủ tục hải quan đối với tài liệu, phương tiện nghiệp vụ mang theo khi nhập cảnh, xuất cảnh qua biên giới, cửa khẩu;

d) Xuất trình giấy chứng minh an ninh trong trường hợp cần thiết để yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân giúp đỡ.

2. Chính phủ quy định cụ thể trình tự, thủ tục, thẩm quyền thực hiện các quy định tại khoản 1 Điều này.

3. Cán bộ chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia có trách nhiệm chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật của Nhà nước, các quy tắc nghiệp vụ chuyên môn, kỷ luật của lực lượng vũ trang nhân dân và chịu trách nhiệm trước pháp luật về những việc làm của mình.

Điều 26. Trang bị và sử dụng vũ khí, phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ, công cụ hỗ trợ của cán bộ, chiến sĩ cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia

Cán bộ, chiến sĩ cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia được trang bị và sử dụng vũ khí, phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ, công cụ hỗ trợ để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia theo quy định của pháp luật.

Điều 27. Chế độ quản lý thông tin, tài liệu, đồ vật về bảo vệ an ninh quốc gia

2. Thông tin, tài liệu, đồ vật quy định tại khoản 1 Điều này có giá trị lịch sử, khoa học và công nghệ đã được công bố theo quy định của pháp luật thì có thể được chuyển giao cho cơ quan lưu trữ nhà nước quản lý.

Điều 28. Chế độ, chính sách đối với cán bộ, chiến sĩ cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia

Cán bộ, chiến sĩ cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia được tuyển chọn, bồi dưỡng, đào tạo, được phong, thăng hàm, cấp lực lượng vũ trang nhân dân và hưởng chế độ, chính sách ưu đãi theo quy định của pháp luật.

CHƯƠNG IV QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ AN NINH QUỐC GIA

Điều 29. Nội dung quản lý nhà nước về an ninh quốc gia

1. Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, chính sách, kế hoạch, phương án bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm điều kiện cần thiết cho hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia; ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ an ninh quốc gia.

3. Chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện các biện pháp bảo vệ an ninh quốc gia.

4. Tổ chức bộ máy, trang bị phương tiện, đào tạo cán bộ làm công tác bảo vệ an ninh quốc gia; bồi dưỡng kiến thức bảo vệ an ninh quốc gia cho cán bộ chủ chốt của các cơ quan, tổ chức; xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình giáo dục về bảo vệ an ninh quốc gia; xây dựng và thực hiện chế độ, chính sách đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia bảo vệ an ninh quốc gia.

5. Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia.

6. Hợp tác quốc tế về bảo vệ an ninh quốc gia.

Điều 30. Thống nhất quản lý nhà nước về an ninh quốc gia

1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về bảo vệ an ninh quốc gia.

2. Bộ Công an chịu trách nhiệm trước Chính phủ chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại giao, các bộ, cơ quan ngang bộ thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ an ninh quốc gia.

Điều 31. Trách nhiệm của Bộ Quốc phòng trong quản lý nhà nước về an ninh quốc gia

Bộ Quốc phòng trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình chịu trách nhiệm trước Chính phủ phối hợp với Bộ Công an thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ an ninh quốc gia; chỉ đạo các lực lượng thuộc quyền phối hợp chặt chẽ với lực lượng Công an nhân dân và chính quyền địa phương để bảo vệ an ninh quốc gia theo quy định của pháp luật.

Quy chế phối hợp giữa Bộ Công an với Bộ Quốc phòng trong việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia do Thủ tướng Chính phủ quy định.

Điều 32. Trách nhiệm của Bộ Ngoại giao trong quản lý nhà nước về an ninh quốc gia

Quy chế phối hợp giữa Bộ Công an với Bộ Ngoại giao trong việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia do Thủ tướng Chính phủ quy định.

Điều 33. Trách nhiệm của các bộ, cơ quan ngang bộ trong quản lý nhà nước về an ninh quốc gia

Điều 34. Trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân các cấp trong quản lý nhà nước về an ninh quốc gia

CHƯƠNG V ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 35. Hiệu lực thi hành

Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2005.

Những quy định trước đây trái với Luật này đều bãi bỏ.

Điều 36. Hướng dẫn thi hành

Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật này.

Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 03 tháng 12 năm 2004.