Xu Hướng 2/2023 # Trao Duyên ( Truyện Kiều # Top 4 View | Bac.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Trao Duyên ( Truyện Kiều # Top 4 View

Bạn đang xem bài viết Trao Duyên ( Truyện Kiều được cập nhật mới nhất trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

11 TA5_BÁT NHÁO_THPT Vũng Tàu

Đoàn Kêt & Bát Nháo 

Tìm kiếm

Display results as : Số bài Chủ đề

Advanced Search

   

TRAO DUYÊN ( Truyện Kiều – Nguyễn Du)

Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:

Bạn không có quyền trả lời bài viết

11 TA5_BÁT NHÁO_THPT Vũng Tàu :: Học Tập :: toán,lý, hoá,sinh, văn 11 TA5_BÁT NHÁO_THPT Vũng Tàu :: Học Tập :: toán,lý, hoá,sinh, văn

Chuyển đến:  

Soạn Bài Trao Duyên (Chi Tiết)

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Câu 1 Câu 1 (trang 106 SGK Ngữ văn 10 tập 2) Việc Kiều nhắc đến những kỷ niệm của tình yêu có ý nghĩa gì? Lời giải chi tiết:

Việc Kim – Kiều hẹn ước Vân không hề biết. Vì vậy mà Kiều phải kể rõ nguồn cơn cho Vân nghe, nàng kể tha thiết không hề giấu diếm. Trong khi kể với Thúy Vân, Kiều tưởng như sống lại với những kỉ niệm tình yêu:

– Cảnh cùng chàng Kim tặng nhau quạt để nhỏ ý ước hẹn trăm năm (“khi ngày quạt ước”)

– Cảnh hai người ngồi uống chén rượu thề để nguyện chung thủy (“khi đêm chén thề”)

– Những kỉ vật của tình yêu (“Chiếc vành với bức tơ mây”)

Đặc biệt là Kiều tưởng nhớ lại sự kiện đêm thề nguyền thiêng liêng:

– Cảnh Kim trọng cho thêm hương vào lò hương (“mảnh hương nguyền”, “đốt lò hương ấy”).

– Cảnh nàng đàn cho Kim Trọng nghe (“phím đàn”, “so tơ phím này”) Thúy Kiều nói với Thúy Vân mà như nói với chính mình và nói cùng chàng Kim.

* Ý nghĩa:

– Những từ ngữ trên cho thấy trong tâm hồn Kiều, những kỉ niệm tình yêu có sức sống mãnh liệt.

– Thúy Kiều hi sinh tình yêu, trao duyên cho Thúy Vân nhưng con người lý trí không ngăn được con người tình cảm. Tất cả những kỉ niệm về tình yêu được nàng cất giữ cẩn thận. Nàng trao duyên cho Thúy Vân nhưng không thể trao tình. Nàng trao cho Thúy Vân những kỉ vật nhưng không thể trao những kỉ niệm của tình yêu.

– Kiều sống trong hồi ức đẹp nên càng thấy xót nên thấy xót xa, đau đớn khi mọi thứ chia lìa

Câu 2 Câu 2 (trang 106 SGK Ngữ văn 10 tập 2) Hãy tìm những từ ngữ cho thấy Kiều nghĩ đếnLời giải chi tiết: cái chết. Việc tập trung dày đặc những từ ngữ đó có ý nghĩa gì?

– Suốt quá trình trao duyên, Kiều luôn nghĩ đến cái chết. Khi thuyết phục em nhận lời trao duyên. Kiều đã lấy cái chết làm lời ủy thác (“Chị dù thịt nát xương mòn/ Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây”). Trao kỉ vật cho Thúy Vân xong, Kiều lại nghĩ đến cái chết. Cả một đoạn thơ dài hiện lên mảnh hồn oan sau khi chết của Thúy Kiều như một nỗi ám ảnh: “Trông ra ngọn cỏ lá cây/ Thấy hiu hiu gió thì hay chị về”, “hồn”, “dạ đài cách mặt khuất lời”, “Người thác oan”… Thúy Kiều liên tưởng mảnh hồn oan của mình với hồn ma Đạm Tiên và dự cảm cái chết của mình cũng đầy oan nghiệt. Tiếng nói của Thúy Kiều là tiếng nói thương thân, xót phận của một người con gái tha thiết với tình yêu và không được sống trong tình yêu, nguyện thủy chung với mối tình đầu mà đành chấp nhận “đứt gánh tương tư”, “trâm gãy gương tan”. Kiều nghĩ đến cái chết và cảm thấy đây là cái chết đầy oan nghiệt.

Câu 3 Câu 3 (trang 106 SGK Ngữ văn 10 tập 2) Kiều đối thoại với những ai? Phân tích diễn biến tâm trạng của Kiều qua lời đối thoại trong đoạn trích. Lời giải chi tiết:

– Nếu liên tưởng rộng đến những sáng tác khác của Nguyễn Du như: Văn tế thập loại chúng sinh (Văn chiêu hồn), Phản chiêu hồn, Độc Tiểu Thanh kí… ta sẽ nhận thấy một mô-tip nghệ thuật, gọi hồn, tri âm cùng người đã khuất. Sở dĩ có điều này là vì nhà thơ chịu ảnh hưởng của thuyết “luân hồi” trong đạo Phật. Nhưng sâu sắc hơn là nhà thơ luôn quan tâm đến nỗi “kì oan” (nỗi oan kì lạ) của con người. Con người chết đi mà không được siêu thoát, những mảnh hồn oan còn vật vờ cõi nhân gian. Bằng cách này, nhà nhân đạo chủ nghĩa Nguyễn Du đã vượt qua biên giới của sự sinh hóa, trụ diệt để xót đau cho những kiếp đời bất hạnh, oan ức. Đây là một phương diện độc đáo trong tư tưởng nhân đạo của Nguyễn Du.

* Với Thúy Vân:

– Toàn bộ đoạn trích, về hình thức là lời Kiều nói với Thúy Vân. Tuy nhiên, nếu lắng nghe thật kĩ ta sẽ thấy nhiều khi Kiều như đang nói với chính mình, có lúc lại nói với Kim Trọng. Việc chuyển đối tượng đối thoại thể hiện khả năng nắm bắt một cách tinh tế quy luật diễn biến tâm trạng nhân vật của tác giả. Nếu chỉ đơn thuần là những lời dặn dò Thúy Vân thì cảm xúc của nhân vật không đạt tới cao trào, bi kịch của thân phận và tình yêu không được đẩy tới đỉnh điểm, nhân cách cao đẹp của Kiều không có điều kiện bộc lộ rõ.

– Với Thúy Vân (hai chữ “cậy” và “chịu” cùng cử chỉ “lạy”) Kiều coi việc nhận lời của em là một sự hi sinh và Kiều đã “lạy” sự hi sinh ấy

– Tiếp theo, Thúy Kiều phân tích cho em hiểu về tình cảm hiện tại khiến nàng không còn cách lựa chọn nào khác (“Sóng gió bất ki “hiếu tình’ không thể vẹn)

– Rồi Kiều động viên, an ủi em: “Ngày xuân em hãy còn dài”

– Kiều viện đến tình máu mủ ruột rà: “xót tình máu mủ” để làm một cồng việc tình nghĩa sâu nặng: “thay lời nước non”.

– Cuối cùng, Thúy Kiều lấy cả cái chết của bản thân ra để ủy thác (“Chị dù thịt nát xương mòn/Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây”)

* Với chính mình

Như vậy, Nguyễn Du đã để cho Kiều nói bằng ngôn ngữ của lí trí còn rất tỉnh táo. Kiều không để Vân có cơ hội từ chối, cứ sau một giây thăm dò Kiều lại viện thêm lí lẽ, lí lẽ nào cũng vừa có tình có lí, trên hết vẫn là tình, cách nói, lời nói, cử chỉ thiết tha, cầu khẩu như vậy khiến Thúy Vân không thể từ chối.

Chiếc vành với bức tờ mây Duyên này thì giữ, vật này của chung

– Tâm trạng Thúy Kiều phải trải qua những giằng xé mâu thuẫn, đau đớn đặc biệt trong thời khắc trao kỉ vật cho Thúy Vân:

Mâu thuẫn nằm trong hai chữ “của chung”. Mới đọc tưởng Kiều nói của em với Kim Trọng nhưng lắng nghe từ trong đau khổ của con tim rớm máu sẽ thấy “của chung” có một phần của Kiều, về lí trí Kiều muốn em nên vợ nên chồng, về tình cảm Kiều không thể nói đoạn tuyệt là đoạn tuyệt. Kỉ vật là hiện thân của mối tình vàng đá. Với Thúy Vân nó chỉ là vật đầu đời, cầm kỉ vật là kỉ niệm sống dậy. Nhưng kỉ vật còn đó mà mối tình đành trao, kỉ vật chỉ gợi xót xa, đau khổ mà thôi.

* Với Kim Trọng

Với Kiểu, mất tình yêu là mất mát quá lớn đối với nàng không gì có thể bù đắp được. Kiều rơi vào bi kịch đau thương tang tóc. Nàng đã nghi đến cái chết. Kiều tự coi mình là kẻ đã chết bởi trao duyên là trao cả trái tim mình thì dù có sống cũng như chết. Nỗi đau trong tâm hồn đến cùng cực, nàng mong với sự trở về (dù là hồn ma) có thể gặp Kim Trọng nhưng cả sự trở về ấy cũng không thể an ủi được khiến nàng càng đau đớn hơn.

Tám câu cuối của đoạn trích, Kiều quay sang tâm sự với Kim Trọng trong tưởng tượng. Lời tâm sự chứa đầy mâu thuẫn, đối lập giữa khát vọng tình yêu mãnh liệt và hiện thực phũ phàng. Khát vọng là “kể làm sao xiết muôn vàn ái ân” còn hiện thực là “trâm gãy gương tan”, là “tơ duyên ngắn ngủi”, là “phận bạc như vôi”, đau đớn tan nát hiện thực đã trùm lên khát vọng.

Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang! Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!

Hai câu cuối:

ND chính

Đoạn trích là những dòng thơ lâm li, đau đớn bậc nhất trong Truyện Kiều biểu hiện bi kịch tình yêu tan vỡ mà thực chất là bi kịch của một số phận bất hạnh, sự hi sinh của Kiều khiến nàng trở nên cao thượng. Nỗi đau đớn xót xa của nàng lại cho thấy cái giá của sự hi sinh. Mối quan hệ giữa tình cảm và lí trí, nhân cách và thân phận của Kiểu đã được Nguyễn Du thể hiện một cách sâu sắc, tinh tế.

chúng tôi

Kiều yêu Kim Trọng tha thiết. Nhưng vì chữ “hiếu” nàng buộc phải chọn và nàng đã hi sinh tình yêu. Về lí trí, Kiều nhận thức được tính tất yếu của việc trao duyên cho Thúy Vân, nhưng về tình cảm, nàng yêu với tình yêu sâu sắc, mãnh liệt. Kiều phải thuyết phục bằng mọi cách để Thúy Vân nhận lời; nhưng Kiều vẫn không sao ngăn được nỗi thổn thức, đau đớn, Kiều sẽ thanh thản về lí trí nhưng trái tim thì rớm máu. Mâu thuẫn giữa lí trí và tình cảm chính là mâu thuẫn giữa các phạm trù đạo đức thời phong kiến với tâm hồn con người. Với Thúy Kiều, cả lí trí và tình cảm đều sâu nặng, tạo nên nhân cách của nàng. Đó là một nhân cách trong sáng, đẹp đẽ, cao thượng, sâu sắc…

– Phần 1: 12 câu đầu: Thúy Kiều tìm cách thuyết phục, trao duyên cho Thúy Vân.

– Phần 2: 14 câu tiếp: Thúy Kiều trao kỉ vật cho em và dặn dò em.

– Phần 3: 8 câu còn lại: Tâm trạng đau đớn, tuyệt vọng của Thúy Kiều.

Việc bán mình thu xếp xong xuôi, Kiều ngồi thao thức trắng đêm nghĩ đến thân phận và tình yêu lỡ dở của mình. Nàng khẩn khoản nhờ Thúy Vân thay mình trả nghĩa cho chàng Kim.

Chị Em Thúy Kiều (Trích Truyện Kiều)

Đoạn trích nằm ở phần đầu Truyện Kiều từ câu số 15 đến câu số 38, giới thiệu gia cảnh của nhà Vương viên ngoại (Có nhà viên ngoại họ Vương – Gia tư nghĩ cũng thường thường bậc hung – Một trai con thứ rốt lòng – Vương Quan là chữ nối dòng nho gia – Đầu lòng…).

Đoạn trích giới thiệu chung về vẻ đẹp của hai chị em (4 câu đầu) ; vẻ đẹp của Thuý Vân (4 câu tiếp) và phần còn lại là vẻ đẹp của Thuý Kiều (16 câu).

Tác giả sử dụng bút pháp ước lệ, lấy vẻ đẹp của thiên nhiên để gợi tả vẻ đẹp của con người, khắc hoạ chân dung chị em Thuý Kiều.

Ca ngợi vẻ đẹp, tài năng của hai chị em, dự cảm về kiếp người tài hoa bạc mệnh là biểu hiện của cảm hứng nhân văn của Nguyễn Du.

II – HƯỚNG DẪN ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN

1. Đoạn thơ có thể chia làm ba phần nhỏ. Phần thứ nhất gồm 4 câu đầu giới thiệu chung về vẻ đẹp của hai chị em. Phần thứ hai 4 câu gợi tả vẻ đẹp của Thúy Vân. Phần thứ ba 16 câu còn lại gợi tả vẻ đẹp và tài năng của Thúy Kiều. Từ miêu tả và giới thiệu chung, tác giả giới thiệu từng người. Theo trình tự giới thiệu Thúy Vân trước, sau đó giới thiệu Thúy Kiều. Không phải vì Thúy Vân được giới thiệu trước là quan trọng mà là tác giả đã cố ý đảo trật tự. Hãy chú ý rằng Vương Quan là em út lại được giới thiệu trước. Có thể thấy rằng, nhân vật trung tâm, quan trọng thì Nguyễn Du dành để giới thiệu sau cùng, với số câu nhiều hơn. (Vương Quan được giới thiệu 2 câu, Thúy Vân 4 câu, Thúy Kiều 16 câu.)

2. Thúy Vân được miêu tả, so sánh với trăng, với hoa, với ngọc, với mây và với tuyết. Nhũng hình ảnh đó cho thấy Vân là người cười tươi như hoa, tiấng nói trong như ngọc, khuôn mặt như trăng rằm, tóc óng hơn mây, da trắng hơn tuyết. Một vẻ đẹp phúc hậu, đoan trang, quý phái.

Chân dung Thúy Vân tuy chỉ gợi tả trong bốn câu nhưng khá rõ nét. Vẻ đẹp ấy mang tính cách và như dự báo trước số phận, vẻ đẹp của Thúy Vân gợi ra sư hoà hợp, thân thiện với xung quanh: mây thua, tuyết nhường. Số phận của nàng sẽ bình lặng, suôn sẻ.

3. Khi tả Thúy Kiều, tác giả vẫn dùng những biện pháp ước lệ, vẫn lấy thiên nhiên làm đối tượng so sánh. Nhưng có mấy điểm khác so với Thúy Vân:

– Trước hết tác giả giới thiệu Thúy Kiều sắc sảo mặn mà hơn so với Thúy Vân.

– Tác giả tập trung vào giới thiệu vẻ đẹp của đôi mắt Thúy Kiều.

– Sau đó tập trung vào giới thiệu những tài năng của Kiều: Thúy Kiều được coi là người thông minh bẩm sinh, có tài thơ, tài vẽ, và đặc biệt là âm nhạc. Không những nàng giỏi nhạc, sáng tác khúc Bạc mệnh, mà còn giỏi chơi đàn Hồ cầm. Tài năng của Thúy Kiều đạt đến mức nhà nghề mà thiên hạ chỉ có đến hai người (Sắc đành đòi một tài đành hoạ hai).

Vẻ đẹp của Kiều không được miêu tả cụ thể, chi tiết, mà được gợi ra một cách gián tiếp: “Nghiêng nước, nghiêng thành”, vẻ đẹp đó cũng dự báo số phận long đong của nàng. Bởi vì vẻ đẹp sắc sảo mặn mà ấy là do thiên nhiên đố – kị: ghen thua thắm, hờn kém xanh.

4. Bên cạnh vẻ đẹp về hình thức, tác giả còn nhấn manh vẻ đẹp về tài năng, về tâm hồn của Thuý Kiều. Nàng có nhiều tài và tài nào cũng đạt mức độ cao: Pha nghề thi hoạ đủ mùi ca ngâm. Không những thế, Kiều còn là người giàu tĩnh cảm, nàng sáng tác khúc Bạc mệnh làm cho ai nghe thấy cũng cảm động, xót xa.

5. Khi miêu tả, Nguyễn Du đã dự báo số phận của hai người. Điều đó là đúng. Vẻ đẹp của Thúy Vân là một vẻ đẹp hiền lành. Chính vì vậy mà mây thua,, tuyết nhường. Mà khi đối tượng đã nhường, đã thua thì không có gì căng thẳng, mâu thuẫn. Mọi việc sẽ suôn sẻ, hanh thông. Trái lại, vẻ đẹp của Thúy Kiều làm cho nghiêng nước, nghiêng thành. Như thế là đã gây tai hoạ cho người ta. Không những thế, vẻ đẹp đó lại còn làm cho hoa ghen, liễu hờn. Khi hoa, liễu, những cỏ cây vô tri, vô giác còn hờn, còn ghen thì con người sẽ gây khó dễ cho nàng là lẽ tất nhiên. Đời nàng sẽ khó bề yên ổn, bình lặng.

Thực tế sau đó đã chứng minh cuộc đời Thúy Vân êm đềm, suôn sẻ. Còn Thúy Kiều thì thanh lâu hai lượt thanh y hai lần. Nàng không những phải bán mình, phải vào lầu xanh, phải làm đầy tớ, rồi lại bị hầu rượu Hồ Tôn Hiến, bị ép gả cho thổ quan. Đến mức nàng phải tự tử ở sông Tiền Đường, về sau, tuy được sum họp với Kim Trọng, nhưng tình vợ chồng cũng chỉ là tình bạn bầy mà thôi.

6. Hai bức chân dung Thúy Vân và Thúy Kiều đều đặc sắc “mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười”. Hai bức chân dung đều có những nét đẹp riêng của hai vẻ đẹp phúc hậu và sắc sảo. Về dụng công, thì Nguyễn Du tập trung cho bức chân dung của Thúy Kiều (vì nàng là nhân vật chính). Số câu dành cho Thúy Vân là 4, trong khi số câu dành cho Thúy Kiều là 16. Thúy Vân cũng được nói đến là có sắc, có tài, nhưng Nguyễn Du dành nhiều câu thơ để tả về tài năng của Thúy Kiều. Nói về ấn tượng thì chân dung của Thúy Kiều gây ấn tượng mạnh hơn về sắc, về tài, về tình. Nhưng về hình dáng bên ngoài thì bức chân dung của Thúy Vân cụ thể hơn, giúp người đọc hình dung ra nhân vật rõ nét hơn.

Mai Thu

Đề Đọc Hiểu Đoạn Trao Duyên Trích Truyện Kiều Nguyễn Du

Đề 1: Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:

Cậy em, em có chịu lời, Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa. Giữa đường đứt gánh tương tư, Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em. Kể từ khi gặp chàng Kim , Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề. Sự đâu sòng gió bất kỳ, Hiều tình khôn lẽ hai bề vẹn hai? Ngày xuân em hãy còn dài, Xót tình máu mủ, thay lời nước non. Chị dù thịt nát xương mòn, Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.

( Trích Trao duyên, Trang 104, Ngữ văn 10, Tập II,NXBGD, 2006)

1/ Nêu nội dung chính của văn bản trên. Xác định phong cách ngôn ngữ của văn bản.

2/ Chỉ ra và nêu hiệu quả nghệ thuật biện pháp tu từ trong hai câu thơ: Kể từ khi gặp chàng Kim/Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề.

3/ Xác định thành ngữ và nêu tác dụng của các thành ngữ trong 2 câu thơ: Chị dù thịt nát xương mòn,Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.

4/ Kiều đã ràng buộc Vân nhận lời trao duyên của mình như thế nào?

1/ Văn bản trên có nội dung chính: Thuý Kiều nhờ cậy Thuý Vân thay mình kết duyên với Kim Trọng ;

Phong cách ngôn ngữ của văn bản là phong cách ngôn ngữ nghệ thuật.

2/ Biện pháp tu từ trong hai câu thơ: Kể từ khi gặp chàng Kim/Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề :

Bản quyền bài viết này thuộc về http://vanhay.edu.vn. Mọi hành động sử dụng nội dung web xin vui lòng ghi rõ nguồn

– Phép liệt kê : khi gặp chàng Kim ; Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề :

Hiệu quả nghệ thuật: Một loạt điệp từ, liệt kê đem lại cho lời kể của Kiều giọng điệu tha thiết, dồn dập, tha thiết. Kiều không chỉ kể lại mà nàng dường như đang trở về để sống với quá khứ đẹp một lần nữa

3/Thành ngữ: thịt nát xương mòn ; ngậm cười chín suối

Tác dụng của các thành ngữ : chứng tỏ Nguyễn Du am hiểu và vận dụng khéo léo thành ngữ dân gian trong Truyện Kiều. Những thành ngữ đó có tác dụng thuyết phục, đưa Vân vào tình thế phải nhận lời. Điều đó thể hiện sự thông minh, khéo léo của Kiều.

4/ Kiều đã ràng buộc Vân nhận lời trao duyên của mình:

– Thuý Kiều đã dùng cách nói nhún nhường nhưng mang hàm nghĩa giao phó: cậy (rất khác với nhờ)…câu hỏi tu từ vẻ như ướm hỏi nhưng mang hàm ý bắt buộc .

– Thuý Kiều đã dùng nghi thức rất trang trọng: ngồi lên-lạy-thưa .

– Kiều sử dụng cách cậy nhờ vào tuổi thanh xuân của em ( ngày xuân em hãy còn dài) qua đó ràng buộc Vân bằng lí- không thể từ chối .

– Kiều dựa vào tình máu mủ, quan hệ huyết thống ( xót tình máu mủ) qua đó ràng buộc Vân bằng tình;

– Cuối cùng, nàng lấy chính cái chết của mình tỏ lòng biết ơn để Vân không thể thoái thác ( Chị dù thịt nát xương mòn/Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây).

Đề 2: Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:

Chiếc vành với bức tờ mây, Duyên này thì giữ vật này của chung. Dù em nên vợ nên chồng, Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên. Mất người còn chút của tin, Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa. Mai sau dù có bao giờ, Đốt lò hương ấy so tơ phím này. Trông ra ngọn cỏ lá cây, Thấy hiu hiu gió thì hay chị về. Hồn còn mang nặng lời thề, Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai. Dạ đài cách mặt khuất lời, Rưới xin giọt nước cho người thác oan.

( Trích Trao duyên, Trang 104, Ngữ văn 10, Tập II,NXBGD, 2006)

1/ Nêu nội dung chính của văn bản trên. Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản.

2/ Chỉ ra và nêu hiệu quả nghệ thuật biện pháp tu từ trong hai câu thơ: Chiếc vành với bức tờ mây,Duyên này thì giữ vật này của chung.

3/ Tìm những từ ngữ cho thấy Kiều nghĩ đến cái chết. Việc tập trung dày đặc những từ ngữ đó có ý nghĩa gì ?

4/ Viết đoạn văn ngắn ( 5 đến 7 dòng) bày tỏ suy nghĩ vẻ đẹp phẩm chất của Kiều qua văn bản trên.

1/ Văn bản trên có nội dung chính: Thuý Kiều trao kỉ vật cho Thuý Vân và dặn dò những chuyện sau này.

Phương thức biểu đạt chính : biểu cảm.

2/ Biện pháp tu từ trong hai câu thơ :

Phép liệt kê : chiếc vành, tờ mây ; Duyên này, vật này

Phép điệp từ : này

Hiệu quả nghệ thuật : Diễn tả hành động và tâm trạng của Kiều khi trao duyên. Câu thơ “Duyên này thì giữ vật này của chung” là một câu thơ đặc biệt. Nó diễn tả những biến tấu phức hợp đang xung đột, giằng xé trong tâm trạng Kiều. Duyên ở đây là nhân duyên, tức là sự đưa đẩy của số phận cho đôi lứa đến với nhau. Duyên này thì em giữ, nhưng vật này lại là của chung. Ta bắt gặp cái phi lôgíc, có lẽ Kiều đang bối rối trong sự phân chia giữa “duyên này” với “vật này”. Lời lẽ của Kiều có vẻ như là Kiều còn muốn níu giữ lại cho mình, không muốn trao hết cho Vân. Ngôn ngữ phân chia là ngôn ngữ đối thoại, còn cái lúng túng, bối rối là ngôn ngữ tự thoại bên trong. Vật có thể trao, nhưng tình khó mà trao hết được, bởi nó là vô hình, là tiếng lòng đang thổn thức, làm sao mà chia sẻ được tình yêu.

3/Những từ ngữ cho thấy Kiều nghĩ đến cái chết: chín suối, người mệnh bạc, hồn, nát thân bồ liễu, dạ đài, người thác oan,…

Việc tập trung dày đặc những từ ngữ đó có ý nghĩa : Với Kiều, mất tình yêu với Kim Trọng là một mất mát không sao tả xiết.Vì thế, sau khi trao duyên lại cho em, Kiều rơi vào một bi kịch của đau thương tang tóc. Nàng đã nghĩ về cái chết. Kiều coi mình đã chết, bởi trao duyên là trao cả trái tim mình, thì có sống cũng như đã chết. Đến khi chết, hồn vẫn quanh quất, vương vấn đâu đây. Rất nhiều từ ngữ xuất hiện trong đoạn thơ tập trung diễn tả ý nghĩ này.

4/ Đoạn văn đảm bảo các yêu cầu :

-Hình thức: đảm bảo về số câu, không được gạch đầu dòng, không mắc lỗi chính tả, ngữ pháp. Hành văn trong sáng, cảm xúc chân thành ;

-Nội dung: từ hành động và tâm trạng của Kiều khi trao duyên trong văn bản, thí sinh suy nghĩ về vẻ đẹp phẩm chất đáng quý của nàng. Đó là sự hi sinh, lòng vị tha, chung thuỷ, không chỉ sống cho riêng mình mà cho tất cả mọi người. Nàng trao duyên chứ không trao tình. Nàng hi vọng vào sự bất tử của linh hồn để có thể về với người tình cũ. Nàng hi vọng vào sự tri âm, vào tấm lòng của Kim Trọng để cùng nhau giao cảm…

Đề 3: Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:

Bây giờ trâm gãy gương tan, Kể lam sao xiết muôn vàn ái ân! Trăm nghìn gửi lạy tình quân, Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi. Phận sao phận bạc như vôi, Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng. Ôi Kim Lang!Hỡi Kim Lang! Thôi thôi thíêp đã phụ chàng từ đây!

( Trích Trao duyên, Trang 104, Ngữ văn 10, Tập II,NXBGD, 2006)

1/ Văn bản trên có ý chính là gì? Xác định thể thơ của văn bản?

2/ Chỉ ra và nêu hiệu quả nghệ thuật biện pháp tu từ về từ trong văn bản?

3/ Tìm những từ ngữ chỉ hành động của Kiều? Những hành động đó có ý nghĩa gì?

4/ Viết đoạn văn ngắn ( 5 đến 7 dòng) bày tỏ phân tích vẻ đẹp nghệ thuật và nội dung hai câu thơ Ôi Kim Lang!Hỡi Kim Lang!Thôi thôi thíêp đã phụ chàng từ đây!

1/ Văn bản trên có ý chính: Kiều trở về trong thực tại đau xót khi nhớ đến Kim Trọng.

Thể thơ: lục bát.

2/ Biện pháp tu từ về từ trong văn bản:

– Ẩn dụ: trâm gãy gương tan ( chỉ tình yêu tan vỡ); nước chảy hoa trôi ( chỉ sự tàn tạ của đời người)

– So sánh: phận bạc như vôi

Hiệu quả nghệ thuật: Biện pháp tu từ so sánh và ẩn dụ ( cũng là cách dùng thành ngữ dân gian) đã làm cho cách diễn đạt gợi hình ảnh, gợi tâm trạng đau khổ tột cùng của Kiều khi nàng trở về với hiện tại để khóc than cho bi kịch tình yêu của mình. Qua đó, ta thấy tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du dành cho người con gái tài hoa bạc mệnh, ca ngợi tấm lòng thuỷ chung trong tình yêu của nàng.

3/- Các hành động của Kiều và ý nghĩa:

– Lạy: cái lạy tạ lỗi, vĩnh biệt người yêu

– Hai lần gọi tên Kim Trọng: tức tưởi, nghẹn ngào, đau đớn đến mê sảng.

– Nàng tự nhận mình là “phụ chàng”: Thúy Kiều từ chỗ nhận mình là người mệnh bạc, giờ lại tự nhận là người phụ bạc chàng Kim. Nàng tự nhận lỗi về mình. Đó là sự hi sinh cao cả, gợi vẻ đẹp nhân cách của Kiều: sống cho người khác chứ không phải sống cho mình.

4/ Đoạn văn đảm bảo các yêu cầu :

-Hình thức: đảm bảo về số câu, không được gạch đầu dòng, không mắc lỗi chính tả, ngữ pháp. Hành văn trong sáng, cảm xúc chân thành ;

-Nội dung: Hai câu thơ cuối là tiếng khóc nức nở tuyệt vọng của Kiều. Nguyễn Du đã khéo léo kết hợp hai thán từ chỉ sự đau đớn “ôi”, “hỡi”; điệp lại tên Kim Trọng hai lần ; hai dấu chấm than ngăn cách vế câu cùng sự thay đổi nhịp thơ sang 3/3 để nhấn mạnh nỗi đau nhân đôi của Kiều. Kiều đã nhận tất cả lỗi về mình. Không phải do nàng không còn yêu Kim Trọng nữa. Sự dang dở của tình yêu là do tác động của hoàn cảnh khách quan mang lại. Kiều hi sinh tình yêu vì chữ hiếu. Kiều là cô gái giàu đức hi sinh, lòng vị tha, luôn vì hạnh phúc của người mình yêu.

Đề 4: Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:

TÂM SỰ NÀNG THÚY VÂN

( Trương Nam Hương)

1/ Nêu ý nghĩa nhan đề Tâm sự nàng Thuý Vân của nhà thơ Trương Nam Hương?

2/ Chỉ ra và nêu ý nghĩa các từ láy trong văn bản?

3/ Bốn câu thơ cuối gửi gắm bức thông điệp gì của nhà thơ Trương Nam Hương?

4/ Viết đoạn văn ngắn ( 5 đến 7 dòng) bày tỏ cảm nhận của em về hình ảnh của Thuý Vân trong bài thơ của Trương Nam Hương qua sự đối chiếu so sánh với nhân vật này trong đoạn trích Trao duyên.

1/ Nhan đề Tâm sự nàng Thuý Vân của nhà thơ Trương Nam Hương: tác giả đã hoá thân vào nhân vật Thuý Vân trong Truyện Kiều để nói hộ tâm sự của nàng: vừa thương thân phận chị ( Thuý Kiều) vừa thương chính thân phận mình và cũng không ít trách móc dỗi hờn.

2/Các từ láy trong văn bản: dặn dò;thể thắt;Sụt sùi;Mấp mô;hẹn hò;khát khao

Ý nghĩa các từ láy: vừa gợi hình ảnh, vừa gợi tâm trạng của nàng Thuý Vân. Hiện ra một Thuý Vân xót xa đau đớn trong một tình yêu đầy bi kịch với chàng Kim Trọng, đồng thời diễn tả sự cảm thông của nhà thơ Trương Nam Hương về khát vọng một tình yêu chân chính của nàng.

3/Bốn câu thơ cuối gửi gắm bức thông điệp của nhà thơ Trương Nam Hương: nói không với hôn nhân không tình yêu.

4/ Đoạn văn đảm bảo các yêu cầu :

-Hình thức: đảm bảo về số câu, không được gạch đầu dòng, không mắc lỗi chính tả, ngữ pháp. Hành văn trong sáng, cảm xúc chân thành ;

-Nội dung:

+ Thuý Vân của Nguyễn Du trong cảnh Trao duyên không nói một lời nào. Với Nguyễn Du, nàng chỉ là nhân vật phụ. Nàng xuất hiện chỉ để Nguyễn Du khắc hoạ bi kịch của Kiều.

+ Với Trương Nam Hương, Thuý Vân không còn là nhân vật phụ nữa. Cũng như Kiều, nàng hiện lên với một bi kịch nội tâm không dễ chia sẻ vì chị mà nhận lời trao duyên nhưng cũng vì thế mà trái tim nàng vĩnh viễn không được biết đến tình yêu.

Cập nhật thông tin chi tiết về Trao Duyên ( Truyện Kiều trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!