Xu Hướng 12/2022 # Truyện Cổ Tích Việt Nam Chọn Lọc / 2023 # Top 18 View | Bac.edu.vn

Xu Hướng 12/2022 # Truyện Cổ Tích Việt Nam Chọn Lọc / 2023 # Top 18 View

Bạn đang xem bài viết Truyện Cổ Tích Việt Nam Chọn Lọc / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Truyện Cổ Tích Việt Nam Chọn Lọc – Thánh Gióng kể rằng vào đời Hùng Vương thứ sáu, ở làng Gióng, có hai vợ chồng ông lão, tuy làm ăn chăm chỉ, lại có tiếng phúc đức nhưng mãi không có con. Một hôm, bà vợ ra đồng ướm phải một vết chân lạ, về nhà bà thụ thai. Mười hai tháng sau bà sinh ra một cậu con trai khôi ngô tuấn tú. Nhưng lạ thay! tới ba năm sau, cậu bé vẫn chẳng biết nói, biết cười, cứ đặt đâu nằm đấy. Bấy giờ, giặc Ân tràn vào bờ cõi nước ta. Thế giặc mạnh lắm! Vua Hùng bèn sai người đi khắp nước rao cầu hiền tài giết giặc. Nghe tiếng rao, cậu bé bỗng cất tiếng nói xin được đi đánh giặc. Từ đấy cậu bé lớn nhanh như thổi, cơm ăn mấy cũng chẳng no. Tráng sĩ Gióng mặc áo giáp sắt, cưỡi ngựa sắt rồi cầm roi sắt xông ra diệt giặc. Roi sắt gẫy, Gióng bèn nhổ cả những bụi tre bên đường để quét sạch giặc thù. Giặc tan, Gióng một mình một ngựa lên đỉnh núi Sóc rồi bay thẳng về trời.

Trân trọng kính chào các khách hàng của Nhà sách trực tuyến Nhanvan.vn.

Hiện nay, do mức chiết khấu trên website chúng tôi đang là rất cao, đặc biệt vào các thời điểm có chương trình khuyến mãi. Do đó, số lượng sản phẩm giảm KHỦNG có giới hạn nhất định, vì vậy để đảm bảo quyền lợi của từng khách hàng của chúng tôi chúng tôi xin thông báo chính sách về “Đơn hàng mua Số lượng” và việc xuất hóa đơn GTGT như sau:

1. Đơn hàng được xem là “đơn hàng mua sỉ” khi thoả các tiêu chí sau đây:

– Tổng giá trị các đơn hàng trong ngày có giá trị: từ 1.000.000 đồng (một triệu đồng) trở lên.

– 1 Đơn hàng hoặc tổng các đơn hàng trong ngày: có 1 sản phẩm có tổng số lượng từ 10 trở lên (Cùng 1 mã hàng).

– 1 Đơn hàng hoặc tổng các đơn hàng trong ngày: có tổng số lượng sản phẩm (đủ loại) từ 20 sản phẩm trở lên và Số lượng mỗi tựa từ 5 trở lên (Cùng 1 mã hàng) . Không áp dụng cho mặt hàng Văn Phòng Phẩm .

Lưu ý: Các đơn hàng có cùng thông tin người mua hàng (cùng số điện thoại, cùng email hoặc cùng địa chỉ nhận hàng) thì được tính là đơn hàng của 1 khách hàng.

2. Chính sách giá (% chiết khấu giảm giá). Đây là chính sách chung chỉ mang tính tương đối. Xin quý khách vui lòng liên lạc với Nhân Văn để có chính sách giá chính xác nhất:

– Đối với Nhóm hàng sách độc quyền Nhân Văn : áp dụng mức giảm giá trên web tối đa không vượt quá 40%.

– Đối với Nhóm hàng sách của các nhà cung cấp trong nước : áp dụng mức giảm giá trên web tối đa không vượt quá 30%.

– Đối với Nhóm hàng sách từ NXB Giáo Dục, Kim Đồng, Oxford và Đại Trường Phát : áp dụng mức giảm giá trên web tối đa không vượt quá 10%.

– Đối với Nhóm hàng văn phòng phẩm, đồ chơi, dụng cụ học sinh: áp dụng mức giảm giá trên web tối đa không vượt quá 15%.

– Đối với Nhóm hàng giấy photo, sản phẩm điện tử, văn hóa phẩm : áp dụng mức giảm giá trên web tối đa không vượt quá 10%.

Quý khách có nhu cầu mua số lượng lớn, vui lòng liên hệ bộ phận kinh doanh chúng tôi để có chính sách tốt nhất: 028.3636.7777 hoặc 0813.709.777, Từ thứ 2 đến thứ 7: 8:30 am – 8 pm hoặc Email: sale@nhanvan.vn.

3. Đối với việc thanh toán đơn hàng sỉ và xuất hóa đơn GTGT:

– Khách hàng mua SÁCH và VĂN PHÒNG PHẨM đơn hàng sỉ hoặc có nhu cầu xuất hóa đơn GTGT phải thanh toán trước cho Nhân Văn từ 50 – 100% giá trị đơn hàng, chúng tôi sẽ chịu hoàn toàn trách nhiệm về khâu vận chuyển và chất lượng hàng hóa đến tay khách hàng.

– Đối với mặt hàng HÓA MỸ PHẨM và BÁCH HÓA. Khách hàng mua hàng với số lượng trên 5 hoặc đơn HÀNG sỉ phải thanh toán cho Nhân Văn 100% giá trị đơn hàng. Chúng tôi sẽ chịu hoàn toàn trách nhiệm về khâu vận chuyển và chất lượng hàng hóa đến tay khách hàng.

(Chính sách mua sỉ có thể thay đổi tùy theo thời gian thực tế)

4 Bài Tóm Tắt Truyện Kiều Hay Nhất, Chọn Lọc / 2023

Bài tóm tắt truyện Kiểu của đại thi hào Nguyễn Du

Bài tóm tắt Truyện Kiều số 1

Vương Thuý Kiều là người con gái tài sắc vẹn toàn. Nàng xuất thân từ một gia đình trung lưu, dưới Kiều còn hai em là Thuý Vân và Vương Quan. Trong Tết Thanh minh, Kiều cùng hai em đi tảo mộ. Trong dịp này nàng gặp Kim Trọng – một chàng trai “Phong tư tài mạo tót vời / Vào trong phong nhã ra ngoài hào hoa”. Hai người vừa gặp nhau “tình trong như đã mặt ngoài còn e”. Cũng trong dịp này, Kiều gặp nấm mồ vô cùng hiu quạnh, nàng cảm cảnh mà khóc than cho số phận của người kĩ nữ ấy. Trở về nhà, nàng được linh hồn Đạm Tiên báo trước cho những dông bão đời mình.

Sau khi gặp Thuý Kiều ớ buổi Thanh minh, Kim Trọng dò la tin tức của nàng rồi dọn nhà đến gần nhà Kiều và tìm cách làm quen. Nhân buổi cha mẹ vắng nhà, Kiều sang nhà Kim Trọng tâm tình. Mối tình giữa hai người nảy nở tốt đẹp, họ vừa yêu vừa trọng nhau rất mực. Họ đã thề nguyền và trao vật đính ước với nhau.

Gia đình Kim Trọng có tang, chàng phải về quê chịu tang. Trong khi đó, cha Kiều bị thằng bán tơ vu oan. Gia đình Kiều tan nát, Vương ông và Vương Quan bị tra khảo. Kiều phải bán mình để chuộc cha. Trước khi theo Mã Giám Sinh, nàng đã nhờ Thuý Vân nối duyên với Kim Trọng đế không phụ tình chàng. Nhưng bi kịch chưa dừng lại ở đó. Hoá ra, Mã Giám Sinh với Tú Bà đều là những kẻ buôn thịt bán người. Ở lầu xanh, nàng đã toan tự sát nhưng không thành. Sau đó, Kiều tiếp tục bị Sở Khanh lừa tình, nàng cay đắng chấp nhận cuộc sống đầy tủi nhục. Tại đây, ít lâu sau, Kiều được Thúc Sinh cứu thoát. Nhưng Thúc Sinh đã có vợ là Hoạn Thư ở quê nhà. Biết chuyện của chồng, Hoạn Thư đã ngấm ngầm sai người đến bắt cóc Thuý Kiều về làm con ở rồi làm ra cảnh bắt Kiều hầu hạ hai vợ chồng mình trong tiệc rượu hàn huyên. Bị đánh ghen một cách tàn nhẫn, Kiều bỏ trốn đến nương nhờ cửa Phật. Chẳng may sư trụ trì vô tình gửi nàng cho Bạc Hạnh – một kẻ cùng nghề với Tú Bà, Kiều lại bị rơi vào lầu xanh một lần nữa. Tại đây, Kiều gặp Từ Hải – một đấng nam nhi đầu đội trời chân đạp đât. Từ Hải cứu Kiều khỏi lầu xanh rồi giúp nàng báo ân báo oán. Vì một chút sơ sẩy, Kiều bị Hồ Tôn Hiến, một mệnh quan triều đình lừa nên đã hại Từ Hải chết đứng giữa trận tiền. Nàng còn bị Hồ Tôn Hiến ép hầu rượu suốt đêm rồi đem gả cho một gã thổ quan. Trên đường ngồi kiệu hoa, nàng đã trầm mình xuống sông Tiền Đường. May sao, nàng được vãi Giác Duyên cứu vớt.

Tuy kết duyên với Thuý Vân, Kim Trọng vẫn nhớ thương Kiều, chàng đã cất công đi tìm nàng. May mắn thay, chàng gặp được vãi Giác Duyên. Gia đình Kiều được đoàn tụ. Chiều ý mọi người, Thuý Kiều nối lại duyên với Kim Trọng nhưng cả hai cùng nguyện ước “lấy tình cầm sắt đổi ra cầm kì”.

Bài tóm tắt Truyện Kiều số 2

Thúy Kiều, nhân vật chính trong Truyện Kiều, một cô gái tài sắc vẹn toàn, có tâm hồn cao thượng. Nhận dịp du xuân, nàng gặp Kim Trọng, một thanh niên hào hoa phong nhã. Hai người yêu nhau và cùng nhau thề nguyền thủy chung. Nhưng tai họa bất ngờ ập đến với Kiều. Gia đình bị nạn. Kiều tự nguyện bán mình chuộc cha. Bị bọn Mã Giám Sinh và Tú Bà đưa vào lầu xanh. Kiều định tự tử để thoát khỏi cảnh ô nhục nhưng không được. Sau lần mắc mưu Sở Khanh đi trốn bị bắt lại, bị đánh đập tàn nhẫn, nàng đành chịu tiếp khách. Ít lâu sau, Kiều được Thúc Sinh – một kẻ giàu có say mê nàng, chuộc nàng về làm vợ lẽ. Nhưng chưa được một năm Kiều lại bị Hoạn Thư, vợ cả của Thúc Sinh, bày mưu bắt về hành hạ. Nàng bị bắt làm con ở hầu rượu gãy đàn mua vui cho vợ chồng ả. Khổ nhục quá, Kiều bỏ trốn khỏi nhà Hoạn Thư nhưng lại lọt vào một lầu xanh khác. Ở đây, nàng gặp Từ Hải và trở thành vợ người anh hùng này. Phất cờ khởi nghĩa, hùng cứ một phương, Từ Hải giúp Kiều báo ân báo oán. Nhưng cũng chẳng bao lâu, Kiều bị mắc lừa Hồ Tôn Hiến, nàng khuyên Từ Hải ra hàng phục triều đình, Từ Hải bị phản bội và chết đứng. Kiều bị làm nhục và bị ép gả cho một viên thổ quan. Đau xót và tủi nhục, nàng đã tự tử ở sông Tiền Đường nhưng lại được sư Giác Duyên cứu sống. Kim Trọng và gia đình Thúy Kiều đi tìm. Sau mười lăm năm trời lưu lạc, Kiều trở lại sum họp với gia đình. Nàng từ chối không chắp nối mối duyên xưa cùng Kim Trọng mà họ trở thành bạn bè để giữ tình cảm cho được trong sáng và đẹp đẽ.

Bài tóm tắt Truyện Kiều số 3

Dưới thời Gia Tĩnh triều Minh, ông bà Vương Viên ngoại ở Bắc Kinh sinh được 3 người con, hai gái, một trai:

“Một trai con thứ rót lòng,Vương Quan là chữ nổi dòng nho gia.Đầu lòng hai ả tố nga,Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân”.

Hai chị em Kiều có nhan sắc “mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười”, và đã đến “tuần cập kê”.

Mùa xuân năm ấy, 3 chị em đi thanh minh. Lúc ra về khi bóng chiều đã ngả, họ gặp chàng văn nhân Kim Trọng “vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa”. Sau cuộc kì ngộ ấy, Kiều và Kim Trọng yêu nhau, hai người thề nguyền “Trăm năm tạc một chữ “đồng” đến xương”. Kim Trọng nhận được thư nhà, chàng phải vội về Liêu Dương “hộ tang” chú.

Sau đó, gia đình Kiều gặp tai biến, bị thằng bán tơ vu oan. Cha và em Kiều bị bắt, bị tra tấn dã man. Bọn sai nha, lũ đầu trâu mặt ngựa ập đến đập phá nhà cửa tan hoang, cướp bóc tài sản “sạch sành sanh vét cho đấy túi tham”. Kiều phải bán mình cho Mã Giám Sinh với giá “vàng ngoài bốn trăm” để đút lót cho bọn quan lại, cứu cha và em. Nàng đã trao duyên cho Thúy Vân. Mã Giám Sinh đưa nàng về Lâm Tri. Kiều biết mình bị đẩy vào lầu xanh bèn rút dao tự vẫn nhưng không chết. Nàng được ma Đạm Tiêm báo mộng là phải đến sông Tiền Đường sau này mới hết kiếp đoạn trường. Mụ Tú Bà dỗ dành Kiều ra ở lầu Ngưng Bích; mụ thuê Sở Khanh đánh lừa Kiều, đưa nàng đi trốn. Kiều bị Tú Bà giăng bẫy, mắc lừa Sở Khanh. Thúy Kiều bị Tú Bà đánh đập, ép nàng phải sống cuộc đời ô nhục. Tại lầu xanh, Kiều gặp Thúc Sinh, một khách làng chơi giàu có. Thúc Sinh chuộc Kiều ra lầu xanh và lấy Kiều làm vợ lẽ. Hoạn Thư, vợ cả Thúc Sinh lập mưu bắt cóc Thúy Kiều đưa về Vô Tích để đánh ghen.

Kiều bỏ trốn, nương tựa cửa chùa Giác Duyên… Kiều lại rơi vào tay Bạc Bà, Bạc Hạnh, bị đẩy vào lầu xanh lần thứ hai. Từ Hải, khách biên đình tìm đến gặp Kiều. Từ Hải chuộc Kiều ra khỏi lầu xanh, cưới nàng làm vợ “Phỉ nguyền sánh phượng, đẹp duyên cưỡi rồng”. Một năm sau, Từ Hải đã có 10 vạn tinh binh, rạch đôi sơn hà, lập nên một triều đình “Năm năm hùng cứ một phương hải tần”. Kiều báo ân báo oán.

Hồ Tôn Hiến tổng đốc trọng thần “xảo quyệt lập kế” chiêu an. Từ Hải mắc lừa Hồ Tôn Hiến, bị giết chết. Hắn bắt Kiều hầu rượu đánh đàn trong bữa tiệc quan. Hắn ép gả Kiều cho viên thổ quan. Kiều nhảy xuống sông Tiền Đường tự tử. Giác Duyên đã cứu sống Kiều và đưa nàng nương nhờ của Phật.

Sau nửa năm về Liêu Dương… Kim Trọng trở lại Bắc Kinh, tìm đến vườn Thúy. Kim Trọng kết duyên với Thúy Vân. Kim Trọng và Vương Quan thi đỗ, được bổ đi làm quan. Cả gia đình tìm đến sông Tiền Đường lập đàn giải oan cho Kiều. Bất ngờ vãi Giác Duyên đi qua và cho biết Kiều còn sống, đang tu ở chùa.

Kiều gặp lại cha mẹ, hai em và chàng Kim sau 15 năm trời lưu lạc. Trong bữa tiệc đoàn viên, cả nhà ép Kiều phải lấy Kim Trọng, nhưng rồi hai người đã đem tình vợ chồng đổi thành tình bè bạn:

“Duyên đôi lứa cũng là duyên bạn bầy”.

Bài Tóm tắt Truyện Kiều số 4

(Tóm tắt truyện kiều theo 3 phần của tác phẩm)

Truyện Kiều bao gồm 3246 câu thơ lục bát và bắt đầu từ “Rằng năm Gia Tĩnh triều Minh, bốn phương phẳng lặng hai kinh vững vàng”. Cũng theo truyền thuyết, sau khi hoàn tất, cụ Nguyễn Du trình thày học cũ là cụ Nguyễn Hành duyệt lại. Cụ Hành chỉ thêm vào truyện 8 câu đầu để giới thiệu thuyết “tài mệnh tương đố”: “Trăm năm trong cõi người ta; chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau; trải qua một cuộc bể dâu; những điều trông thấy mà đau đớn lòng; lạ gì bỉ sắc tư phong; trời xanh quen thói má hồng đánh ghen; cảo thơm lần giở trước đèn, phong tình cổ lục còn truyền sử xanh”. Kể cả 8 câu thêm vào này, Truyện Kiều bao gồm 3254 câu và có thể được chia thành 3 phần chính sau đây:

Sự linh cảm của Thúy Kiều về cuộc đời bạc mệnh

Đoạn đường tai biến của KiềuKiều thoát khỏi kiếp đoạn trường

I) Sự linh cảm của Thúy Kiều về cuộc đời bạc mệnh.

Thúy Kiều và Thúy Vân là con của ông bà viên ngọai họ Vương, quê ở Bắc Kinh. Cả hai cùng nhan sắc tuyệt vời, nhất là Kiều. Vẻ đẹp của Vân là một vẻ đẹp dịu dàng, đôn hậu còn vẻ đẹp Kiều là một vẻ đẹp não nùng làm say đắm lòng người. Đặc biệt, Kiều có tài về văn chương và âm nhạc. Kiều và Vân có một người em trai tên là Vương Quan.

Trái với Thúy Vân là người có tâm hồn đơn giản và an phận thủ thường, Thúy Kiều mang một tâm trạng phức tạp, đa sầu, đa cảm và nhiều ước vọng. Từ những ngày thơ ấu, Kiều đã bị ám ảnh bởi lời tiên tri của một người tướng số là cuộc đời nàng sẽ bị ràng buộc bởi một định mệnh khắc nghiệt. Vì nỗi ám ảnh này, nàng đã sáng tác một bản đàn tên là Bạc Mệnh. Bản đàn mang một âm hưởng ảo não, thê lương, làm tê tái lòng người mỗi lúc được tấu lên.

Trong dịp tiết Thanh Minh, ba chị em Kiều cùng đi dự hội Đạp Thanh. Trên đường về, gặp mộ Đạm Tiên, một người ca kỹ từng nổi danh về cả tài lẫn sắc nhưng yểu mệnh. Nghe Vương Quan kể lại cuộc đời Đạm Tiên, Kiều bỗng nghẹn ngào thương xót cho số phận đắng cay của nàng ca kỹ và linh cảm rằng số mệnh mình rồi cũng đau khổ chẳng kém người trong mộ. Ngay lúc ấy, một người bạn đồng học với Vương Quan tên là Kim Trọng đến chào hỏi ba người. Vừa gặp nhau, cả Kiều và Kim bỗng cảm thấy quyến luyến nhau. “Người quốc sắc, kẻ thiên tài; tình trong như đã, mặt ngoài còn e”.

Trở về nhà, Kiều thao thức với những chuyện xảy ra lúc ban ngày, từ cuộc đời bất hạnh của Đạm Tiên cho đến mối tình vừa chớm nở với Kim Trọng. Ngay khi vừa thiếp ngủ, Kiều mơ thấy Đạm Tiên hiện ra và cho biết là nàng cũng có tên trong sổ đoạn trường, tức là sẽ gặp nhiều khổ đau trong cuộc sống.

Sau đó, định mệnh khắc nghiệt đã liên tiếp đẩy Kiều vào những đoạn đường tủi nhục của 15 năm luân lạc. Trong mỗi đoạn đường, Kiều gặp một người nàng tin là cứu tinh của nàng. Nàng bám víu người này để mong được dắt ra khỏi kiếp phong trần. Nhiều lúc, nàng mang hết tài năng của mình để phấn đấu với số mệnh. Mỗi lần nàng tưởng đã thành công thì lại có kẻ lợi dụng nhược điểm của nàng để đặt nàng trở lại con đường khổ đau định mệnh đã dành sẵn cho nàng.

II) Đoạn đường tai biến của Thúy Kiều

Cuộc đời đoạn trường của Kiều có thể được chia thành sáu hồi sau đây:

Hồi 1: Kiều đính ước với Kim Trọng nhưng rồi phải bán mình để cứu cha

Sau khi gặp Kiều trong hội Đạp Thanh, Kim Trọng trở về và ốm tương tư Kiều. Để có cơ hội gặp gỡ nàng, chàng trai đã thuê một căn gác nhỏ sát bên cạnh vườn nhà Kiều rồi suốt ngày ngồi bên cửa sổ đợi bóng nàng. Một hôm, Kim Trọng nhặt được cành thoa Kiều đánh rơi cạnh một gốc đào và nhờ cơ hội này, chàng được trò chuyện với Kiều. Hai người ước hẹn sẽ mãi gắn bó với nhau.

Ít lâu sau, nhân dịp cha mẹ và hai em về quê ngoại ăn giỗ, Kiều lẻn sang nhà Kim tình tự và thề nguyền với nhau. Kiều tỏ cho Kim biết là nàng luôn luôn bị ám ảnh bởi một thứ định mệnh khắc nghiệt hình như đã dành sẵn cho nàng. Kim trấn an nàng và hứa sẽ liều chết cùng nàng nếu nàng gặp chuyện chẳng may. Có lẽ cũng vì mối ám ảnh của sự bạc mệnh, Kiều quyết liệt không trao thân cho Kim Trọng vì sợ rằng sẽ giống như nàng Thôi Oanh Oanh thuở trước, bởi sớm ăn nằm với người yêu là Trương Quân Thụy khi chưa cưới hỏi nên sau đã bị Trương ruồng bỏ. Trong đêm này, Kiều đã đàn cho Kim Trọng nghe khúc Bạc Mệnh khi được chàng yêu cầu. Tiếng đàn buồn đến nỗi chàng Kim phải “khi tựa gối, khi cúi đầu; khi vò chín khúc, khi chau đôi mày; rằng hay thì thực là hay; nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào; lựa chi những bậc tiêu tao; dột lòng mình cũng nao nao lòng người”. Kiều đã đáp lại như sau: “rằng quen mất nết đi rồi; tẻ vui âu cũng tính trời biết sao”.

Qua một đêm tâm sự với Kim Trọng, vừa trở về nhà, Kiều được Kim gọi ra cho biết chàng mới nhận tin người chú ruột từ trần và phải về Liêu Dương để chịu tang. Kim Trọng vừa đi khuất thì cha mẹ và các em Kiều trở về. Mọi người chưa kịp hàn huyên, bỗng nhiên bọn sai nha kéo đến bắt Vương ông vì lời vu cáo của một thằng bán tơ. Mọi toan tính để cưỡng lại số mạng bỗng sụp đổ, Kiều phải tự nguyện bán mình để chuộc cha. Nàng dặn dò Thúy Vân phải thay nàng để kết nhân duyên với Kim Trọng. “Cậy em, em có chịu lời; ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa; giữa đường đứt gánh tương tư; giao loan chắp mối tơ thừa mặc em”.

Trong hồi này, người Kiều trông đợi để giúp nàng không vướng vào định mệnh khắc nghiệt là Kim Trọng. Kẻ gián tiếp đẩy nàng vào kiếp đoạn trường là thằng bán tơ.

Hồi 2: Mã Giám Sinh mua Kiều đem về Lâm Truy để bắt làm kỹ nữ

Mã Giám Sinh, kẻ bỏ 400 lạng vàng ra mua Kiều, là một tên vô lại. Tuy tuyên bố lấy nàng làm vợ lẽ nhưng dụng tâm của hắn là bắt Kiều làm ca kỹ trong một thanh lâu do hắn và vợ là Tú bà làm chủ tại Lâm Truy. Sau khi đón Kiều về quán trọ, không cầm lòng được trước nhan sắc của Kiều, Mã đã ân ái với nàng một cách thô bạo. “Tiếc thay một đóa trà mi; con ong đã tỏ đường đi lối về; một cơn mưa gió nặng nề; thương gì đến ngọc, tiếc gì đến hương”.

Thái độ cư xử của Mã khiến Kiều nghi ngờ hắn là tay buôn người và nàng thưa với mẹ về sự hoài nghi này. Hôm Kiều từ biệt gia đình theo Mã về Lâm Truy, Vương ông nài nỉ Mã bao bọc cho Kiều. Mã thề độc với Vương ông sẽ mãi mãi đối xử tốt với Kiều.

Khi đến Lâm Truy, Kiều bị Tú bà bắt tiếp khách làng chơi và gọi bà là mẹ. Kiều ngây thơ thưa rằng mình đã là lẽ của Mã khiến Tú bà nổi giận mắng nàng đã quyến rũ Mã Giám Sinh. Khi mụ ra lệnh trừng phạt Kiều bằng roi vọt thì nàng rút dao dấu trong tay áo ra tự vẫn. Trong cơn mê man, Kiều mơ thấy Đạm Tiên hiện ra nhắn nàng phải tiếp tục sống để trả cho xong món nợ từ kiếp trước và hẹn sẽ gặp Kiều tại sông Tiền Đường. Tú bà cứu sống Kiều, khuyên giải nàng, thề sẽ đối đãi tử tế với nàng và hứa tìm người đứng đắn để gả nàng. Bà cho Kiều ra sống ở lầu Ngưng Bích.

Kẻ Kiều hy vọng che chở cho nàng trong giai đoạn này là Mã Giám Sinh. Người hãm hại nàng cũng chính là họ Mã.

Hồi 3: Bị mắc mưu Sở Khanh, Kiều phải chấp nhận trở thành kỹ nữ

Sống ở lầu Ngưng Bích, dù đã có lời thề của Tú bà, Kiều vẩn lo lắng cho thân phận cá chậu chim lồng của nàng. Tại đây, Kiều gặp một chàng trai có dáng điệu nho nhã tên là Sở Khanh. Chàng tỏ vẻ ái ngại cho hoàn cảnh của Kiều: “than ôi! sắc nước hương trời; tiếc cho đâu bỗng lạc loài đến đây” và ngỏ ý sẽ giúp nàng trốn khỏi tay Tú bà: “thuyền quyên ví biết anh hùng; ra tay tháo cũi sổ lồng như chơi”.

Sau đó vài hôm, vào một đêm tối, Sở Khanh mang ngựa đến đưa Kiều đi trốn. Chưa ra khỏi cửa bao xa, Sở Khanh cố tình rẽ cương sang lối khác bỏ mặc Kiều bơ vơ trong rừng. Ngay lúc đó, Tú bà dẫn bọn thủ hạ ập đến lôi Kiều xuống ngựa và đánh đập nàng. Phần đau dớn vì roi vọt, phần hổ thẹn vì lén lút trốn đi, Kiều mất tất cả nghị lực nên van nài Tú bà ngừng tay và tự nguyện sẽ chịu tiếp khách theo ý bà: “thân lươn bao quản lấm đầu, tấm lòng trinh bạch từ nay xin chừa”.

Khi bị Tú Bà dẫn trở về, Kiều mới biết là Tú bà đã thuê Sở Khanh đưa Kiều đi trốn để bà ta bắt lại. Vì sự bỏ trốn này, Tú bà cho rằng mình không cần phải giữ lời cam kết đối xử tử tế với Kiều.

Chiếc phao để Kiều bám víu trong thời kỳ này là Sở Khanh. Kẻ đẩy Kiều ngập sâu hơn trong giòng sông đoạn trường là Sở Khanh và Tú bà.

Hồi 4: Chung sống với Thúc Sinh, Kiều bị Hoạn Thư hãm hại

Kiều cúi đầu chịu thua định mệnh và trở thành ca kỹ nổi danh về cả tài lẫn sắc. “Dập dìu lá gió cành chim; sớm đưa Tống Ngọc, tối tìm Tràng Khanh; khi tỉnh rượu, lúc tàn canh; giật mình, mình lại thương mình xót xa; khi xưa phong gấm rủ là; giờ sao tan tác như hoa giữa đường; mặt sao dầy gió dạn sương; thân sao bướm chán ong chường bấy thân; mặc người mưa sở mây tần; những mình nào biết có xuân là gì”. Tại thanh lâu, nàng gặp một khách làng chơi tên Thúc Kỳ Tâm, thường được gọi là Thúc Sinh, mê say nàng và muốn lấy nàng làm vợ lẽ, “sớm đào tối mận lân la; trước còn trăng gió sau ra đá vàng”. Thúc Sinh lập kế đem dấu Kiều một nơi rồi đưa tiền cho Tú bà để chuộc nàng ra khỏi thanh lâu.

Thúc Sinh vốn người huyện Vô Tích đến Lâm Truy để buôn bán cùng với người cha là Thúc ông. Khi được biết Thúc Sinh đưa Kiều về chung sống, Thúc ông nổi giận vì thứ nhất, Thúc Sinh có vợ hiện đang ở Vô Tích và thứ hai, ông cho rằng Kiều đã dùng nhan sắc để mê hoặc con mình. Thúc ông buộc Sinh phải trả Kiều về lầu xanh nhưng chàng từ chối. Ông nổi giận ra trước phủ đường (dinh quan phủ) tố cáo Kiều quyến rũ Thúc Sinh. Quan phủ đưa trát đòi Sinh và Kiều đến rồi ra lệnh đánh đòn Kiều vì nàng cương quyết không từ bỏ Thúc Sinh.

Trong lúc Kiều đang bị trừng phạt, Thúc Sinh kể cho quan biết Kiều là người hiểu biết phải trái và có theo đòi bút nghiên. Quan truyền cho Kiều làm bài thơ vịnh cái gông nàng đang đeo ở cổ. Sau khi xem thơ, quan nể phục tài nàng và khuyên Thúc ông nên chấp thuận nàng là con dâu. Cuối cùng “thương vì hạnh, trọng vì tài; Thúc ông thôi cũng dẹp lời phong ba” và bằng lòng cho Kiều chung sống với Thúc Sinh.

Khoảng nửa năm sau, Kiều khuyên Thúc Sinh về Vô Tích thăm vợ cả và thú thật mọi chuyện. Người vợ cả của Thúc Sinh tên là Hoạn Thư, con gái một vị quan thượng thư trong triều. Hoạn Thư là người tuy cư xử chu đáo với kẻ khác nhưng rất mưu mô, hiểm độc khi hạnh phúc gia đình bị đe dọa: “ở ăn thì nết cũng hay; phải điều ràng buộc thì tay cũng già”. Hoạn Thư biết được chuyện chồng lấy vợ lẽ nhưng không hề căn vặn Thúc Sinh khi chàng về thăm nhà. Không những thế, nàng còn tỏ ra tin tưởng ở tấm lòng chung thủy của Sinh đối với nàng. Vì lý do này, Sinh mang nặng mặc cảm dối gạt vợ, và không dám thổ lộ cho Hoạn Thư biết chuyện của chàng với Kiều như lời Kiều căn dặn.

Ngay sau khi Thúc Sinh lên ngựa từ giã Hoạn Thư để về với Kiều, Hoạn Thư sang thăm mẹ nàng và kể chuyện bội bạc của Sinh. Hai mẹ con sai hai gã bộ hạ là Khuyển và Ưng dẫn theo một lũ lâu la dùng thuyền vượt biển đến Lâm Truy trước Thúc Sinh để phóng hỏa đốt nhà Kiều, rồi bắt nàng về Vô Tích. Sau khi thi hành thủ đoạn, đám tay sai này mang một xác người bỏ vào gian nhà đang bốc cháy. Khi Thúc Sinh về đến nơi, trông thấy nắm xương cháy tàn nên nghĩ là Kiều đã chết: “chắc rằng mai trúc lại vầy; ai hay vĩnh quyết là ngày đưa nhau”.

Khuyển, Ưng mang Kiều về trình diện mẹ của Hoạn Thư. Bà này bảo Kiều rằng đã bỏ tiền mua nàng và sai bộ hạ đánh nàng một trận. Sau đó, bà bắt Kiều phải phục dịch trong nhà như một nô bộc. Một ngày kia, Hoạn Thư sang thăm mẹ và được mẹ nàng cho Kiều đi theo để hầu hạ.

Một năm sau, Thúc Sinh lại trở về Vô Tích thăm vợ. Trong buổi tiệc đoàn viên với chồng, Hoạn Thư gọi Kiều ra hầu rượu Thúc Sinh. Lúc bấy giờ cả Kiều và Sinh mới biết mình là nạn nhân của một mưu kế thâm độc: “Phải rằng nắng quáng đèn lòa; rõ ràng ngồi đó chẳng là Thúc Sinh”. Sợ vợ, Thúc Sinh đành gạt lệ không dám nhận Kiều. Hoạn Thư còn nhẫn tâm sai Kiều đánh đàn trong buổi tiệc: “Nàng đà choáng váng tê mê; vâng lời ra trước bình the vặn đàn; bốn dây như khóc như than; khiến người trong cuộc cũng tan nát lòng; cùng trong một tiếng tơ đồng; người ngoài cười nụ, người trong khóc thầm”.

Sau khi Thúc Sinh và Hoạn Thư rời chùa, Kiều được một thị tì cho biết là Hoạn Thư đã đến từ lâu và chứng kiến cảnh Thúc Sinh với Kiều cầm tay nhau than thở chán chê rồi mới bước lên lầu. Hoảng sợ trước thái độ điềm tĩnh như không có chuyện gì của Hoạn Thư, Kiều lấy trộm chuông vàng khánh bạc của chùa để làm vật hộ thân rồi trèo tường đi trốn.

Trong giai đoạn này, người Kiều mong sẽ cứu nàng ra khỏi kiếp đoạn trường là Thúc Sinh. Kẻ hãm hại và làm nhục nàng là Hoạn Thư.

Hồi 5: Kiều bị lừa bán vào lầu xanh thêm lần nữa

Trên con đường đi trốn Hoạn Thư, Kiều gặp sư bà Giác Duyên, người trụ trì một ngôi chùa nhỏ mang tên “Chiêu Ẩn Am”. Kiều nói dối với Giác Duyên nàng là một ni sư ở Bắc Kinh nên được bà cho phép nương náu. Một hôm, có người thí chủ cho Giác Duyên hay chuông vàng khánh bạc Kiều mang theo giống hệt như chuông khánh của Hoạn Thư. Khi được hỏi, Kiều khai thật với Giác Duyên mọi chuyện. Giác Duyên lo ngại cho Kiều nên gửi nàng sang ở với một bà họ Bạc, người thường hay lui đến cúng bái tại chùa.

Trông thấy nhan sắc của Kiều, Bạc bà nổi lòng tham nên âm mưu bán Kiều cho một thanh lâu. Bạc bà dọa dẫm Kiều và ép nàng lấy một người cháu bà ở châu Thai tên là Bạc Hạnh. Bạc bà gọi Bạc Hạnh đến Vô Tích để kết hôn với Kiều rồi đưa nàng xuống thuyền về châu Thai. Đến nơi, Bạc Sinh vào thanh lâu thương lượng bán Kiều. Định mệnh đã xô đẩy Kiều vào chốn lầu xanh thêm lần nữa: “chém cha cái số hoa đào; gỡ ra rồi lại buộc vào như chơi!”.

Trong thời gian này, người giúp đỡ Kiều là sư bà Giác Duyên. Những kẻ làm hại nàng là Bạc bà và Bạc Hạnh.

Hồi 6: Kiều được Từ Hải bảo bọc nhưng rồi Từ bị giết chết

Tại thanh lâu ở châu Thai, Kiều gặp Từ Hải, một hào kiệt đến từ vùng biên thùy. “Lần thâu gió mát trăng thanh; bỗng đâu có khách biên đình sang chơi; râu hùm hàm én mày ngài; vai năm tấc rộng thân mười thước cao; đội trời đạp đất ở đời; họ Từ tên Hải vốn người Việt Đông; giang hồ quen thói vẫy vùng; gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo; qua chơi nghe tiếng nàng Kiều; tấm lòng nhi nữ cũng xiêu anh hùng; thiếp danh đưa đến lầu hồng; đôi bên cùng liếc, đôi lòng cùng ưa”. Cả hai quyến luyến nhau, xem nhau là tri kỷ và Từ Hải bỏ tiền chuộc Kiều ra khỏi thanh lâu.

Sống mặn nồng với nhau được nửa năm, Từ Hải giã biệt Kiều, một mình một ngựa ra đi để mưu đồ đại sự. Từ hứa là sẽ đón Kiều về với mình khi công thành danh toại.

Đúng thời gian ước hẹn với Kiều, khoảng một năm sau, Từ cho tướng sĩ về đón nàng theo nghi lễ rước dâu của một bậc vương hầu. Lúc bấy giờ uy danh của Từ lẫy lừng cả một phương trời. Có lẽ thời gian sống với Từ Hải là quãng đời hạnh phúc nhất trên bước đường lưu lạc của Kiều.

Một hôm, nghe Kiều kể lại sự gian khổ của nàng trong những ngày hàn vi, Từ Hải nổi cơn thịnh nộ. Từ điểm binh, tuyển tướng truyền đến Vô Tích và Lâm Truy mời những người đã giúp nàng và bắt những kẻ từng làm hại nàng về bản doanh của Từ để nàng báo ơn, trả oán. Khi quân sĩ đưa những người này về, Kiều ngồi trên trướng giữa trung quân để xét xử họ. Nàng hậu thuởng Thúc Sinh, sư bà Giác Duyên và một bà quản gia của mẹ Hoạn Thư, là những ân nhân của nàng thuở trước. Sau đó, nàng ra lệnh xử tử Mã Giám Sinh, Tú bà, Sở Khanh, Ưng, Khuyển, Bạc bà và Bạc Hạnh, những người đã làm hại nàng. Riêng Hoạn Thư, tuy được liệt là “chính danh thủ phạm” nhưng được Kiều tha bởi luận cứ sắc bén của nàng. Hoạn Thư thưa rằng nàng gây nên tội chỉ bởi thói ghen tuông rất thường tình của người đàn bà, còn trong thâm tâm nàng luôn luôn yêu kính Kiều. Cụ Nguyễn Du thuật chuyện Kiều xử Hoạn Thư như sau:

Dưới cờ gươm tuốt nắp raChính danh thủ phạm tên là Hoạn ThưThoạt trông Kiều đã chào thưaTiểu thư cũng có bây giờ đến đâyĐàn bà dễ có mấy tayĐời xưa mấy mặt, đời này mấy ganDễ dàng là thói hồng nhanCàng cay nghiệt lắm, càng oan trái nhiềuHoạn Thư hồn lạc phách xiêuKhấu đầu dưới trướng liệu điều kêu caRằng tôi chút dạ đàn bàGhen tuông là thói người ta thường tìnhNghĩ cho khi các viết kinhVới khi khỏi cửa dứt tình chẳng theoLòng riêng, riêng những kính yêuChồng chung chưa dễ ai chiều cho aiTrót lòng gây việc chông gaiCòn nhờ lượng lượng bể thương bài nào chăng?

Trước lập luận xác đáng của Hoạn Thư, Kiều đã phải: “khen cho: thật đã nên rằng; khôn ngoan đến mực nói năng phải lời; tha ra thì cũng may đời; làm ra mang tiếng con người nhỏ nhen; đã lòng tri quá thì nên; truyền quân lệnh xuống trướng tiền tha ngay”.

Uy quyền của Từ Hải ngày càng lừng lẫy. Từ thiết lập triều đình riêng đặt hai hàng quan văn quan võ. Từ đem quân chiếm năm huyện ở miền Nam. Từ chia đôi thiên hạ với hoàng đế nhà Minh. Từ nghêng ngang một cõi biên thùy miền Triết Giang và Phúc Kiến.

Khi Từ Hải mặc nhung phục đại lễ ra trước doanh trại đầu hàng, Hồ Tôn Hiến cho phục binh ùa ra giết Từ. Tối hôm đó, Hồ mở tiệc ăn mừng chiến thắng và bắt Kiều ngồi hầu rượu. Khi đã quá chén, Hồ buộc Kiều đánh đàn. “Một cung gió thảm mưa sầu; bốn giây nhỏ máu năm đầu ngón tay; ve ngâm vượn hót nào tầy; lọt tai Hồ cũng nhăn mày rơi châu”. Và rồi “nghe càng đắm, ngắm càng say; lạ cho mặt sắt cũng ngây vì tình”. Vừa say rượu lại vừa say tình, ngay sau đó, Hồ ép Kiều ăn nằm với mình.

Trong hồi này, người Kiều nương tựa là Từ Hải. Kẻ làm hại nàng là Hồ Tôn Hiến.

III) Kiều thoát khỏi kiếp đoạn trường

Sau khi được Kiều hậu tạ trong dịp nàng báo ân trả oán, sư bà Giác Duyên từ biệt Kiều và gặp bà đạo cô Tam Hợp, một người xuất gia tu theo đạo Lão. Đạo cô tiên tri là Thúy Kiều sẽ tự tử tại sông Tiền Đường và bảo Giác Duyên tìm cách cứu nàng. Nghe lời đạo cô, Giác Duyên thuê ngư phủ quanh năm thả lưới tại sông Tiền Đường gần chỗ Từ Hải đóng quân và đã vớt được nàng.

Được Giác Duyên cứu lên thuyền, trong cơn mê man, Kiều trông thấy Đạm Tiên hiện ra báo cho biết tấm lòng nhân nghĩa của nàng đã thấu đến trời và nàng được thoát khỏi kiếp đoạn trường. Sau khi tỉnh dậy, Kiều sống với Giác Duyên trong một thảo lư bên sông Tiền Đường.

Câu chuyện chuyển sang tình cảnh Kim Trọng trở về tìm Kiều sau khi thụ tang chú ở Liêu Dương. Nghe tin Kiều đã bán mình chuộc cha, Kim khóc lóc thảm thiết, “thẫn thờ lúc tỉnh lúc mê; máu theo nước mắt hồn lìa chiêm bao”. Ông bà Vương cho Kim biết Kiều đã nhờ Thúy Vân thay lời đính ước của nàng để kết nghĩa với chàng. Sau một thời gian vô vọng dò hỏi tin tức Kiều, Kim Trọng kết hôn cùng Thúy Vân.

Ít lâu sau, cả Kim Trọng lẫn Vương Quan thi đậu và được triều đình bổ làm quan. Kim Trọng được cử làm quan tri huyện Lâm Truy, nơi Thúy Kiều bị buộc làm ca nhi thuở trước. Tại đây, Kim được một người nha lại (người làm việc tại huyện đường) kể cho chàng nghe quãng đời luân lạc của Kiều. Lúc này Kiều đang chung sống những ngày vinh quang với Từ Hải tại châu Thai.

Khoảng năm năm sau, Kim nhận được chiếu chỉ triều đình đổi đi cai trị huyện Nam Bình thuộc tỉnh Phúc Kiến. Cùng lúc ấy, Vương Quan cũng được bổ làm quan tại huyện Phú Dương thuộc tỉnh Triết Giang. Phúc Kiến và Triết Giang là hai tỉnh ở phía đông nam Trung Hoa, địa bàn hoạt động của Từ Hải. Vì hai huyện Nam Bình và Phú Dương ở gần nhau nên cả hai gia đình Kim Trọng và Vương Quan cùng đi chung để nhận nhiệm sở. Khi đi ngang Hàng Châu, gần nơi Từ Hải đặt bản doanh, mọi người được tin Từ bị Hồ Tôn Hiến lừa giết chết và Kiều đã tự tử tại sông Tiền Đường.

Gia đình Kim và Vương đến nơi nàng tự tử để lập đàn tràng cúng giải oan cho Kiều. Tình cờ Giác Duyên đi ngang qua, trông thấy tên Kiều trên bài vị, bà ngạc nhiên đến hỏi duyên cớ. Lúc bấy giờ mọi người mới biết Kiều còn sống. Giác Duyên đưa tất cả đến gặp Kiều. “Tưởng bây giờ là bao giờ; rõ ràng mở mắt còn ngờ chiêm bao”.

Trong buổi tiệc đoàn viên, Thúy Vân ép Kiều phải lấy Kim Trọng. Thoạt đầu, Kiều thoái thác vì tự nghĩ mình không còn còn trinh tiết: “thiếp từ ngộ biến đến giờ, ong qua bướm lại đã thừa xấu xa” và “nghĩ mình chẳng hổ mình sao; dám đem trần cấu dự vào bố kinh!”. Tuy nhiên, sau khi nghe Kim Trọng lập luận về tấm lòng hy sinh “lấy hiếu làm trinh” của Kiều và lời thúc dục của hai ông bà Vương, Kiều đã phải nhận lời. Trong đêm động phòng, Kiều cho Kim biết nàng nhận làm vợ chàng vì tình xưa nghĩa cũ nhưng tấm thân nàng đã ô uế, không thể ân ái vợ chồng với chàng. Kim đành chấp nhận và cũng cho Kiều biết là chàng “bấy lâu đáy bể mò kim; là nhiều vàng đá, phải tìm chẳng hoa; ai ngờ lại hợp một nhà, lọ là chăn gối mới ra sắt cầm”. Kim xin Kiều đánh lại bản đàn ngày trước cho chàng nghe và chàng ngạc nhiên khi nhận thấy, với cùng một bản nhạc, mà “xưa sao sầu thảm, nay sao vui vầy”. Tâm hồn Kiều lúc bấy giờ khác hẳn tâm hồn của nàng ở những năm về trước và tâm hồn khác thì dĩ nhiên, tiếng đàn khác. Lòng nàng bây giờ yên như mặt nước hồ thu, không còn những đợt sóng của tham vọng. Tâm nàng trong như guơng, chẳng còn vương mắc chút bụi trần. Và như vậy, cũng những cung bậc nàng gọi là bạc mệnh thuở xưa thì bây giờ là “khúc đâu đầm ấm dương hòa; ấy là hồ điệp hay là Trang Sinh; khúc đâu êm ái xuân tình; ấy hồn Thục Đế hay mình Đỗ Quyên; trong sao, châu nhỏ duềnh quyên; ấm sao, hạt ngọc Lam Điền mới đông; lọt tai nghe suốt năm cung; tiếng nào mà chẳng não nùng xôn xao”.

https://thuthuat.taimienphi.vn/tom-tat-truyen-kieu-38990n.aspx Nếu 15 năm lưu lạc của Kiều chưa đủ để trả cho xong bao nợ nần của nàng từ kiếp trước thì dòng nước sông Tiền Đường đã rửa sạch những món nợ này. Kiếp đoạn trường của Kiều đã được chấm dứt.

Phân Tích Truyện Cổ Tích Thạch Sanh / 2023

Trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam thì truyện Thạch Sanh là một trong những truyện cổ có dựa trên những yếu tố có thật được nhiều người Việt yêu thích. Thêm vào đó là những nhân vật trong truyện được xây dựng với nhiều ước mơ của người dân được gửi gắm vào trong, vì vậy mà truyện này càng được lưu truyền theo cả không gian, thời gian tới tận thời nay.

Phân tích truyện cổ tích Thạch Sanh

I. DÀN Ý

Dàn ý 1 1. Bố cục của truyện Thạch Sanh Lí Thông

Có thể chia truyện thành bốn đoạn với nội dung chính như sau:

Đoạn 1 (từ đầu đến “mọi phép thần thông”): Nguồn gốc khác thường của Thạch Sanh.

Đoạn 2 (tiếp theo đến “Quận công”): Thạch Sanh bị Lí Thông lừa nhưng diệt được chằn tinh.

Đoạn 3 (tiếp theo đến “bọ hung”): Thạch Sanh vượt qua hàng loạt các thử thách (giết đại bàng, cứu công chúa khỏi hang; cứu thái tử con vua Thủy Tề…); Lí Thông cuối cùng bị trừng trị thích đáng.

Đoạn 4 (phần còn lại): Thạch Sanh được vua gả công chúa cho, đánh lui quân mười tám nước, sau đó được nhường ngôi.

2. Sự ra đời và lớn lên của Thạch Sanh

– Sự ra đời và lớn lên của Thạch Sanh vừa bình thường (bố mẹ chặt củi đổi gạo để sinh sống, hay giúp người) lại vừa khác thường. Sự khác thường thể hiện ở các chi tiết sau:

Bố mẹ già mới sinh được Thạch Sanh, mẹ có mang mấy năm mới sinh ra Thạch Sanh. Thạch Sanh được thần trên trời “dạy cho đủ các môn võ nghệ và mọi phép thần thông” từ khi bắt đầu biết dùng búa. – Ý nghĩa của câu chuyện về sự ra đời và lớn lên vừa bình thường vừa kì lạ của Thạch Sanh:

Thạch Sanh xuất thân từ một gia đình nghèo, lương thiện, hay giúp đỡ mọi người; sớm mồ côi cha mẹ, phải tự lao động kiếm sống.

Sự ra đời và lớn lên kì lạ như vậy hé mở và tô đậm những tài năng và chiến công của nhân vật Thạch Sanh về sau, làm tăng sức hấp dẫn của câu chuyện.

3. Những thử thách mà Thạch Sanh đã trải qua

– Những thử thách mà Thạch Sanh từng trải qua:

Bị mẹ con Lí Thông lừa đi canh miếu thờ (thực ra là thế mạng cho Lí Thông). Thạch Sanh bổ xác chằn tinh làm hai, chặt đầu quái vật đem về; nhặt bộ cung tên bằng vàng do quái vật để lại nhưng cũng bị Lí Thông cướp công và lừa đuổi đi.

Theo vết máu đại bàng nên Thạch Sanh biết nơi ở của nó. Chàng tự nguyện xuống hang trong núi sâu tiêu diệt đại bàng, cứu công chúa nhưng bị Lí Thông bịt kín cửa hang không lên được. Nhưng cũng vì tìm lối lên mà Thạch Sanh còn cứu được cả thái tử – con vua Thủy Tề – bị yêu tinh đại bàng nhốt trong cũi sắt ở cuối hang. Thái tử mời chàng xuống chơi thủy phủ. Vua Thủy Tề đãi Thạch Sanh rất hậu, biếu nhiều vàng nhưng chàng chỉ nhận cây đàn.

Thạch Sanh bị hồn chằn tinh và đại bàng mưu hại bị nhốt trong ngục tối. Tiếng đàn của chàng giải bệnh cho công chúa, vạch tội ác của Lí Thông, minh oan cho bản thân.

Hoàng Tử mười tám nước đến cầu hôn công chúa nhưng không được đã kết binh trả thù. Thạch Sanh mang đàn thần ra gảy để lui binh.

– Các thử thách mà nhân vật trải qua ngày càng khó khăn hơn và theo đó, phẩm chất của Thạch Sanh được bộc lộ rõ nét hơn; vẻ đẹp của nhân vật chính hiện ra toàn diện hơn, hoàn chỉnh hơn:

Tính thật thà, chất phác (tin lời Lí Thông nhiều lần).

Tinh thần dũng cảm và tài năng (diệt chằn tinh, diệt đại bàng là những yêu quái có nhiều phép lạ).

Lòng nhân đạo, khoan dung (tha tội chết cho mẹ con Lí Thông, hòa hiếu và còn thiết đãi quân xâm lược thua trận).

4. Sự đối lập giữa Thạch Sanh và Lí Thông

– Thạch Sanh và Lí Thông là hai nhân vật đối lập nhau như nước với lửa. Thạch Sanh đại diện cho cái thiện, Lí Thông tiêu biểu cho cái ác. Miêu tả xung đột giữa cái thiện và cái ác là một trong những nội dung cơ bản của truyện cổ tích. Sự đối lập giữa tính cách và hành động của hai nhân vật được thể hiện.

Thạch Sanh vô tư / Lí Thông vụ lợi (thấy Thạch Sanh khỏe, gạ kết nghĩa anh em để bóc lột sức lao động của Thạch Sanh).

Thạch Sanh thật thà, chất phác / Lí Thông lừa lọc, tàn nhẫn (lừa Thạch Sanh đi canh miếu để thế mạng cho hắn; đem đầu chằn tinh nộp để lấy công; lấp cửa hang để giết Thạch Sanh và lấy công chúa, nối ngôi vua).

Thạch Sanh nhân hậu / Lí Thông độc ác, xảo quyệt (sẵn sàng giết chết Thạch Sanh để cướp công nhưng lại giả nhân, giả nghĩa, ngon ngọt lừa hại Thạch Sanh).

– Ở truyện cổ tích này, Thạch Sanh có nhiều loại kẻ thù khác nhau nhưng phải nói rằng Lí Thông là kẻ thù chủ yếu, nguy hiểm và lâu dài nhất của Thạch Sanh. Lí Thông đối lập với Thạch Sanh một cách toàn diện và sâu sắc. Lí Thông là một hình tượng nhân vật có giá trị khái quát cao, biểu tượng cho loại người độc ác, xấu xa nhất, bị người đời nguyền rủa, bị ông Trời trừng phạt – bị sét đánh chết, hóa thành con bọ hung dơ bẩn. (Thực ra, sét đánh chết chi tiết biểu thị thái độ trừng phạt của nhân dân đối với cái ác).

5. Ý nghĩa của chi tiết tiếng đàn và mâm cơm thần kì

Truyện Thạch Sanh có nhiều chi tiết thần kì, trong đó đặc sắc nhất là chi tiết tiếng đàn và niêu cơm của Thạch Sanh.

– Tiếng đàn của Thạch Sanh: Tiếng đàn của Thạch Sanh cũng như tiếng sáo của Sọ Dừa, tiếng hát của Trương Chi… là những chi tiết nghệ thuật rất hay trong truyện cổ tích, thể hiện sự sáng tạo của nhân dân và túy từng truyện, nó hàm chứa nhiều ý nghĩa sâu sắc. Ở truyện Thạch Sanh, tiếng đàn thần kì có một số ý nghĩa chính như sau:

Tiếng đàn giúp Thạch Sanh được minh oan: Sau khi cứu công chúa, Thạch Sanh bị Lí Thông lấp cửa hang cướp công chúa, nhưng vì thế chàng còn cứu được cả thái tử con vua Thủy Tề và được tặng cây đàn thần. Trở về gốc đa, Thạch Sanh bị hồn ma chằn tinh và đại bàng trả thù, bị bắt vào ngục tối. Nhờ có tiếng đàn thần mà công chúa khỏi câm, nhận ra Thạch Sanh có cơ hội kể tội Lí Thông. Do vậy, tiếng đàn thần cũng là tiếng đàn của công lí. Sử dụng chi tiết này, tác giả dân gian đã thể hiện quan và ươc mơ về công lí của mình.

Tiếng đàn là vũ khí kì diệu đánh đuổi quân xâm lược: Tiếng đàn của Thạch Sanh vừa cất lên thì “quân sĩ mười tám nước bủn rủn tay chân… các hoàng tử phải cởi giáp xin hàng”. Ở đây, tiếng đàn là đại diện cho sức mạnh của chính nghĩa và tinh thần yêu chuộng hòa bình của nhân dân ta. Nó là công cụ để cảm hóa lòng người, thu phục nhân tâm.

– Niêu cơm của Thạch Sanh.

Đây là một niêu cơm thần kì, “quân sĩ mười tám nước ăn mãi, ăn mãi nhưng niêu cơm bé xíu cứ ăn hết lại đầy”. Những kẻ thua trận trước đó “bĩu môi không muốn cầm đũa” đến lúc này phải ngạc nhiên, thán phục.

Tính chất lạ kì của niêu cơm càng chứng tỏ sự tài giỏi của Thạch Sanh.

Đây là niêu cơm hòa bình, đẫm tinh thần nhân đạo, khoan hòa của nhân dân ta đối với kẻ bại trận.

6. Cách kết thúc truyện Thạch Sanh

Ở phần kết thúc truyện, Thạch Sanh không những được nhà vua gả công chúa cho mà còn được vua nhường ngôi. Theo quan niệm dân gian xưa, đó là phần thưởng lớn lao dành cho nhân vật Thạch Sanh, xứng đáng với những thử thách mà nhân vật trải qua, xứng đáng với phẩm chất và tài năng mà Thạch Sanh có được – những điều không thể có trong đời sống thực tế thì nhân dân đem tặng cho nhân vật của mình. Còn mẹ con Lí Thông tuy được Thạch Sanh tha cho tội chết, về quê làm ăn nhưng cuối cùng cũng bị sét đánh và hóa thành kiếp bọ hung dơ bẩn. Đó là kết thúc có hậu thường thấy ở các truyện cổ tích Việt Nam và thế giới. Nó thể hiện ước mơ của nhân dân về công lí xã hội (ở hiền gặp lành, ác giả ác báo), ước mơ về sự đổi đời (cũng như ở truyện Sọ Dừa, Tấm Cám, Cây Bút Thần…)

* Truyện Thạch Sanh kể về người dũng sĩ diệt chằn tinh, diệt đại bàng cứu công chúa, vạch mặt kẻ vong ân bội nghĩa Lí Thông, chống quân xâm lược mười tám nước. Truyện thể hiện ước mơ, niềm tin về đạo đức, công lí xã hội và tinh thần nhân đạo, yêu hòa bình của nhân dân ta. Truyện sử dụng nhiều chi tiết thần kì, độc đáo, giàu ý nghĩa (bộ cung tên vàng, cây đàn, niêu cơm…).

7. Nhận xét của em về nhân vật Lí Thông trong truyện cổ tích Thạch Sanh

Truyện Thạch Sanh thuộc loại truyện cổ tích thần kì rất hấp dẫn. Đối lập với con người bất hạnh tài ba là nhân vật Lí Thông, một con người gian hiểm, nhiều mưu mô xảo quyệt. Mỗi một tình tiết của truyện như một nấc thang của tội ác mà Lí Thông leo lên, dấn thân vào, hai bàn tay thấm đầy máu và nước mắt của “người em kết nghĩa!”.

Lí Thông là một kẻ nấu rượu và bán rượu. Gặp Thạch Sanh gánh củi về gốc đa. Hắn nghĩ chàng trai cô độc, nghèo khổ mà có sức khỏe cường tráng này có thể lợi dụng được. Cái âm mưu đưa Thạch Sanh về nhà và kết nghĩa anh em của Lí Thông xét đến cùng vẫn có thể cảm thông được. Vì Lí Thông mới chỉ lợi dụng sức lao động của chàng trai mồ côi mà thôi.

Lí Thông đến phiên mình phải nộp mạng cho chằn tinh. Kẻ tham sống sợ chết này đã ranh ma đánh lừa Thạch Sanh đi thế mạng, với lí do anh “dở cất mẻ rượu”… Người đời thiếu gì kẻ tham sống sợ chết như Lí Thông

Hành động Lí Thông cướp công Thạch Sanh là một hành động vô cùng trắng trợn. Hắn dọa Thạch Sanh là đã giết vật báu “vua nuôi đã lâu”, tất sẽ bị “tội chết”. Có vẻ “nhân đức”, hắn khuyên Thạch Sanh “trốn ngay đi”, mọi hậu quả hắn sẽ “lo liệu”. Lí Thông đã đem đầu quái vật dâng nộp triều đình, được nhà vua trọng thưởng phong cho làm Quận công. Lòng tham vô đáy, mờ mắt vì danh lợi bổng lộc mà anh bán rượu “khôn ngoan” đánh lừa em kết nghĩa để cướp công một cách “tài tình”.

Quận công đã “chém” được chằn tinh sao lại không bắt được đại bàng? Muốn trở thành phò mã, Lí Thông lại dấn sâu tội ác bằng mưu mô mới. Hắn rất “khôn ngoan” tổ chức hội hát xướng mười ngày để “kết nghĩa”. Lần thứ hai, Lí Thông đã xảo quyệt cướp công Thạch Sanh. Hắn rất nhẫn tâm và dã man sai quân lính vấn đá lấp kín hang để giết Thạch Sanh, người đã xông pha nguy hiểm chém chằn tinh, giết đại bàng, cứu nàng công chúa, để Lí Thông được giàu sang, vinh hiển. Hành động sai lính lấp hang cho thấy anh bán rượu hiện nguyên hình là kẻ táng tận lương tâm, đôi bàn tay thấm đầy máu và nước mắt đồng loại.

Tiếng đàn thần là một yêu tố hoang đường kì diệu tạo nên sức hấp dẫn của truyện cổ tích Thạch Sanh; nó mang ý nghĩa như một biểu tượng về sức mạnh công lí. Tiếng đàn thần được Thạch Sanh gảy lên trong ngục tối đã chữa được bệnh “câm” của nàng công chúa, đã vạch mặt chân tướng xảo quyệt của Lí Thông trước triều đình.

Cái kết của truyện thật sâu sắc lí thú. Mẹ con Lí Thông bị lột hết mọi chức tước, bị đuổi về quê, bị sét đánh chết hóa thàn bọ hung. Lưới trời lồng lộng!

Anh bán rượu trở thành Quận công, sắp trở thành phò mã… cuối cùng biến thành bọ hung! Tham thì tham, ác giả ác báo là vậy! Tên Lí Thông đã bị người đời phỉ nhổ, chết trong nhục nhã!

Dàn ý 2 1. Về sự ra đời và lớn lên của Thạch Sanh

Những nhân vật chính của truyện cổ tích thường được xây dựng trên sự thống nhất giữa những nét bình thường với những nét khác thường. Những nét bình thường giúp cho nhân dân cảm thấy nhân vật của truyện thật gần gũi với họ. Những nét khác thường của nhân vật lại thu hút sự chú ý của người kể, tạo nên niềm thích thú khiến họ “tò mò” muốn theo dõi đến cùng số phận của các nhân vật – nơi họ gửi gắm tất cả tình cảm yêu ghét, những ước mơ, những buồn vui trong cuộc đời.

Những nét bình thường và cả những nét khác thường của nhân vật chính thường được giới thiệu ngay trong đoạn đầu kể về sự ra đời và lớn lên của nhân vật (Ví dụ: Sọ Dừa vừa là con một bà mẹ nghèo, lại vừa có nguồn gốc khác thường, mang một bộ dạng khác thường ngay lúc mới sinh ra). Vì thế đến với truyện Thạch Sanh, trước hết chúng ta phải tìm ra cả những nét bình thường, cả những nét khác thường ngay trong thời thơ ấu của nhân vật.

a) Những nét bình thường:

– Cha mẹ của Thạch Sanh là những người lao động nghèo khổ, sống bằng nghề kiếm củi đổi gạo nuôi thân.

– Họ là những người hiền lành, tốt bụng, thường giúp đỡ mọi người, mặc dù chính mình cũng nghèo.

– Khi mới ra đời, chàng đã mồ côi bố. Khi vừa khôn lớn thì mẹ lại chết. Thạch Sanh là một nhân vật thuộc kiểu “người mồ côi” – tiêu biểu cho một hạng người khốn khổ nhất trong cuộc đời.

– Lớn lên trong cảnh mồ côi cả cha lẫn mẹ, Thạch Sanh sống vừa thiếu thốn tình cảm, vừa thiếu thốn cả về vật chất (lủi thủi trong túp lều cũ dưới-gốc đa, cả gia tài chỉ có chiếc búa).

Những nét bình thường ấy gợi lên ở người nghe, người đọc một cảm giác ấm cúng, gần gũi và một niềm xót xa, thương cảm. Đó là một phần của cái tâm lí, tâm thế mà truyện cổ tích rất cần tạo nên nơi người nghe kể chuyện cổ tích – tạo nên ngay từ lúc mở đầu truyện.

b) Những nét khác thường:

– Tuy vẫn do một bà mẹ nghèo dưới trần thế sinh ra, nhưng Thạch Sanh lại chính là Thái tử trên trời, do Ngọc Hoàng sai xuống đầu thai.

– Thời gian bà mẹ mang thai dài khác thường (dài đến mấy năm).

– Vừa đến tuổi trưởng thành, Thạch Sanh đã biết dùng búa (chiếc búa bình thường do cha để lại) thì lại được thiên thần dạy võ nghệ và các phép thần thông.

Nghĩa là ẩn bên trong vẻ ngoài vất vả lam lũ của một người tiều phu bình thường là một con người cao quý khác thường, có những phẩm chất khác thường. Điều đó mở ra hướng phát triển của câu chuyện: truyện sẽ kể về diễn biến của một số phận tuy bình thường mà lại khác thường. Truyện lôi cuốn người nghe một phần do cái tâm lí, tâm thế mà nó tạo nên nơi người nghe kể: tâm lí háo hức chờ theo dõi một số phận tưởng như bình thường mà lại đầy sự khác thường. Cả hai phần, hai nửa tâm lí, tâm thế ấy hợp lại thành cái mà người ta gọi là tâm lí nghệ thuật khi nghe kể chuyện cổ tích.

Những nét bình thường trộn lẫn những nốt khác thường như thế được xây dựng xuất phát từ quan niệm của nhân dân cho rằng chính những con người bình thường lại có phẩm chất khác thường, lập nên những chiến công khác thường, kì lạ.

Điều này sẽ được bộc lộ dần qua phần quan trọng nhất của truyện kể về các thử thách mà Thạch Sanh gặp phải và các chiến công mà chàng đạt được sau mỗi lần vượt qua thử thách.

2. Những thử thách và chiến công

a) Diễn biến số phận của Thạch Sanh được tạo thành bởi những trở ngại mang ý nghĩa thử thách mà chàng liên tiếp gặp phải. Đó là quá trình chàng liên tiếp lập được những chiến công thần kì, khác thường.

– Bị mẹ con Lý Thông lừa đi canh miếu thờ. Tại đây Thạch Sanh chiến đấu với chằn tinh và tiêu diệt nó.

– Xuống hang sâu cứu công chúa, Thạch Sanh chiến đấu với đại bàng tinh. Chàng chiến thắng. Nhưng lại bị Lý Thông lấp cửa hang.

– Ở dưới hang, Thạch Sanh bắn tan cũi thần của đại bàng tinh, cứu thoát thái tử.

– Bị hồn của chằn tinh và đại bàng liên kết hãm hại, Thạch Sanh bị bắt vào ngục. Nhưng rồi chàng tự giải phóng được mình nhờ có cây đàn kì diệu do vua Thủy tề ban tặng. Rồi chàng được kết hôn với công chúa.

– Binh lính của mười tám hoàng tử chư hầu bị công chúa từ hôn, kéo nhau sang đánh. Thạch Sanh lại chiến thắng họ nhờ cây đàn kì diệu giúp sức.

Những Lý Thông, chằn tinh, đại bàng và liên quân mười tám nước chư hầu là những lực lượng thù địch gây trở ngại cho Thạch Sanh. Nhưng chàng là nhân vật lí tưởng trong thế giới cổ tích nên chàng lần lượt chiến thắng mọi trở ngại do nhân vật thù địch gây ra. Những trở ngại đó càng về sau càng gay gắt hơn, và do vậy, những thử thách mà nhân vật lí tưởng trải qua cũng ngày càng khó khăn. Nhưng cũng vì thế những chiến thắng của nhân vật sau mỗi lần vượt qua thử thách – cũng ngày càng cao hơn. Đó cũng là quá trình nhân vật chính trở thành nhân vật lí tưởng. Trong quá trình ấy, nhân vật luôn được sự trợ thủ của các phương tiện thần kì.

b) Những phẩm chất mà Thạch Sanh bộc lộ qua những lần chiến thắng thử thách:

– Sự thật thà, chất phác, lòng thương người, sẵn sàng quên mình vì người khác.

– Lòng dũng cảm phi thường và tài năng khác thường (tài năng đạt đến mức thần kì – vì do thần linh ban cho, vì có sự hỗ trợ của các vật thần kì nằm trong tay nhân vật và còn vì những kẻ chiến bại như chằn tinh, đại bàng đều có nhiều phép lạ).

– Lòng nhân đạo, khoan dung (tha tội chết cho mẹ con Lý Thông, chọn con đường chiến thắng các nước chư hầu bằng phương pháp hòa bình, lại chinh phục họ bằng bữa cơm khoan dung). Nhân dân Việt Nam yêu mến Thạch Sanh, thích kể và nghe kế chuyện về Thạch Sanh chính là do họ ngưỡng mộ phẩm chất và tài năng của chàng. Họ coi đó là những phẩm chất và tài năng lí tưởng mà họ mơ ước. Thạch Sanh hội tụ những phẩm chất và những nét tính cách tiêu biểu cho nhân dân lao động Việt Nam.

3. Lý Thông – nhân vật tương phản với Thạch Sanh

Về mọi phương diện, Lý Thông đều trái ngược với Thạch Sanh. Và quả thật hắn luôn đối lập với chàng. Biểu hiện cụ thể như sau:

– Nếu Thạch Sanh thật thà, tin người bao nhiêu thì Lý Thông lại gian xảo, chỉ quen tính toán có lợi cho mình và nhiều mưu mô bấy nhiêu.

– Thạch Sanh tự mình chiến đấu để lập nên chiến công. Nhờ chiến công tự tay lập nên ấy, chàng được hưởng hạnh phúc. Lý Thông chỉ dùng mưu mẹo gian xảo để cướp công của người khác mà sống.

– Kết cục là dù được Thạch Sanh tha chết nhưng Lý Thông đã bị sét đánh chết (cùng mẹ hắn), lại còn bị biến thành bọ hung (theo quan niệm dân gian Việt Nam thì đây là con vật bẩn thỉu) trong khi Thạch Sanh được hưởng hạnh phúc.

– Sự đối lập giữa Thạch Sanh với Lý Thông là sự đối lập giữa thiện với ác, thật thà với gian xảo, vị tha với ích kỉ, tài năng với bất tài.

Xây dựng những mẫu nhân vật tương phản tuyệt đối như vậy là đặc điểm nghệ thuật của thể loại truyện cổ tích (kiểu loại truyện cổ tích thần kì). Nhân vật phản diện là đối tượng chiến thắng của nhân vật chính diện, đồng thời có tác dụng làm nổi bật nhân vật chính diện.

4. Vai trò của một số chi tiết thần kì

Truyện cổ tích thần kì không thể vắng bóng những chi tiết thần kì.

Ở truyện Thạch Sanh, đó là những phép thần thông mà thần linh dạy cho Thạch Sanh; là bộ cung tên thần kì mà Thạch Sanh có được nhờ giết chết chằn tinh; là cây đàn thần do Long Vương ban tặng mà nhờ âm thanh thần kì của nó, Thạch Sanh ra khỏi ngục, được kết hôn với công chúa và chiến thắng quân chư hầu; chiếc nồi cơm thần kì ăn hết lại đầy giúp Thạch Sanh khuất phục được hoàn toàn kẻ thù.

Đặc sắc nhất là hai chi tiết sau:

a) Cây đàn thần kì và gắn với nó là âm nhạc thần kì

– Ở truyện này, đó là tiếng đàn của công lí, nó thực hiện ước mơ về công lí của nhân dân.

– Nhưng đây cũng chính là tiếng đàn hòa bình dùng để chiến thắng và cảm hóa kẻ thù. Với ý nghĩa này, cây đàn thần kì tượng trưng cho tinh thần yêu chuộng cái thiện, yêu chuộng hòa bình của nhân dân ta trong quan hệ đối ngoại.

b) Niêu cơm thần kì cũng có nhiều ý nghĩa:

– Tượng trưng cho khả năng sáng tạo vô cùng tận của nhân dân lao động;

– Biểu hiện tài năng thần kì, phi thường của nhân vật Thạch Sanh;

– Tượng trưng cho truyền thống nhân đạo của dân tộc ta trong quan hệ đối ngoại. Cả hai chi tiết thần kì này, cùng với các chi tiết thần kì khác góp phần quan trọng tạo nên vẻ đẹp kì diệu và sức hấp dẫn kì lạ của truyện cổ tích Thạch Sanh.

5. Về cách kết thúc của truyện

a) Truyện Thạch Sanh mở đầu bằng cảnh Thạch Sanh sinh ra, lớn lên trong nghèo khổ, diễn biến tiếp tục bằng việc Thạch Sanh liên tiếp gặp tai họa và phải liên tiếp đương đầu với chúng, để rồi kết thúc bằng việc chàng được kết hôn cùng công chúa, lại được lên ngôi vua. Truyện cũng kết thúc bằng sự thất bại hoàn toàn, thảm hại của các nhân vật thù địch: Chằn tinh, đại bàng tinh bị tiêu diệt, mẹ con Lý Thông bị sét đánh chết, hóa kiếp thành bọ hung, liên quân mười tám nước chư hầu ngoan ngoãn rút lại. Đó là kiểu kết thúc có hậu phổ biến ở các truyện cổ tích thần kì.

b) Kiểu kết thúc ấy thể hiện ước mơ về công lí xã hội (ở hiền gặp lành, ở ác gặp ác), ước mơ về hạnh phúc (những người lương thiện, hiền lành dù ban đầu gian nan, khổ cực nhưng cuối cùng được vinh hiển, được đền bù xứng đáng, được đổi đời), ước mơ về những mẫu người lí tưởng (đó là những người mang đầy đủ những phẩm chất đạo đức và tài năng tiêu biểu của nhân dân).

c) Kiểu kết thúc này một mặt thỏa mãn nhu cầu của nhân dân về cái đẹp (cái đẹp ở trong con người, cái đẹp ngoài cuộc đời), một mặt góp phần làm nên ý nghĩa giáo dục sâu sắc của thể loại truyện cổ tích.

II. BÀI LÀM THAM KHẢO

Bài làm 1

Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam vô cùng phong phú, đặc sắc. Với trí tưởng tượng phong phú, tài hoa các tác giả dân gian đã dựng lên bức chân dung các nhân vật chính diện thật tuyệt mĩ, hoàn hảo, không chỉ đẹp về ngoại hình mà còn đẹp cả phẩm chất bên trong. Thạch Sanh là một truyện cổ tích như vậy.

Thạch Sanh là truyện cổ tích thần kì, nhân vật thuộc kiểu người dũng sĩ, đây là mô típ phổ biến trong truyện cổ tích Việt Nam và thế giới. Câu chuyện với những tình tiết bất ngờ, hợp lí đã tạo nên sức hấp dẫn với người đọc.

Trước hết tác phẩm là bài ca ca ngợi người anh hùng lí tưởng Thạch Sanh trong cuộc đấu tranh lại cái ác. Thạch Sanh vốn là con Ngọc Hoàng, nhưng được sai xuống đầu thai làm con của một gia đình nghèo khó, hiền lành, tốt bụng. Sự ra đời của Thạch Sanh cũng ẩn chứa rất nhiều điều kì lạ. Người mẹ sau nhiều năm mang thai mới sinh ra Thạch Sanh. Khi cậu vừa khôn lớn thì mẹ qua đời. Thạch Sanh sống một mình trong túp lều cũ cạnh gốc đa, hàng ngày kiếm củi bán để sống. Sự ra đời của Thạch Sanh là sự kết hợp hài hòa giữa những cái bình thường và phi thường. Điều bình thường ở Thạch Sanh đó là được sinh ra trong một gia đình nghèo, sau khi cha mẹ chết cậu làm nghề kiếm củi để nuôi sống bản thân. Nhưng điểm nhấn của nhân vật chính là yếu tố phi thường: mẹ mang thai vài năm mới sinh, được các thiên thần dạy đủ các môn võ nghệ và phép thần thông. Sự ra đời và lớn lên kì lạ như vậy như một tín hiệu báo những chiến công oanh liệt của Thạch Sanh sau này. Mang trong mình sự hài hòa giữa nét bình thường và khác thường còn cho ta thấy rằng những con người bình thường cũng có thể mang trong mình những khả năng, phẩm chất khác thường.

Cũng như các nhân vật truyện cổ tích khác, Thạch Sanh phải trải qua rất nhiều thử thách khác nhau để khẳng định bản thân và đến được bến bờ hạnh phúc, đồng thời cho thấy quá trình đấu tranh thiện, ác gian nan của chàng. Là một người mồ côi, luôn khao khát được yêu thương, bởi vậy khi Lý Thông ngỏ lời kết nghĩa anh em, Thạch Sanh đã lập tức đồng ý. Ta thấy rằng Lý Thông không hề có lòng tốt khi kết nghĩa với Thạch Sanh mà chỉ muốn lợi dụng chàng. Thử thách đầu tiên mà Thạch Sanh phải trải qua là thử thách lòng tin. Lý Thông nói dối để Thạch Sanh đi canh miếu thờ, mà thực chất là đẩy Thạch Sanh đến chỗ chết, Lý Thông là kẻ hết sức mưu mô, xảo quyệt, ích kỉ vì mạng sống của mình mà đẩy người anh em vào chỗ chết. Vốn là người hiền lành nên chàng tin lời anh ngay, trong đêm canh miếu, Thạch Sanh không những không bị giết mà còn đánh bại chằn tinh. Qua những việc làm đó cho thấy Thạch Sanh là một người thật thà, chất phác.

Lý Thông tiếp tục tỏ ra là tên gian xảo, một lần nữa lừa Thạch Sanh, khiến chàng bỏ về túp lều cũ, còn hắn thì đàng hoàng nhận lấy công trạng và lĩnh thưởng. Công chúa bị đại bàng bắt đi, Thạch Sanh nghĩa hiệp mang cung tên vàng ra bắn bị thương con chim ác, chàng đã đi theo giấu máu và tìm đến tận cửa hang. Nghe theo lời nhờ cậy của Lý Thông, chàng xuống hang sâu cứu công chúa, nhưng lại bị Lý Thông lấp cửa hang. Ở dưới đó, chàng không hề sợ hãi, tìm đường ra, trên đường tìm lối thoát chàng còn cứu thêm con vua Thủy Tề. Chàng quả là người có tấm lòng nhân hậu và lương thiện. Nói về phần công chúa, sau khi được cứu về nàng hóa câm, đó cũng chính là bằng chứng tố cáo tội ác của Lý Thông.

Tội ác của Lý Thông ngày một gia tăng, được các tác giả dân gian khéo léo xếp theo chiều tăng tiến, ban đầu hắn lợi dụng Thạch Sanh thế mạng cho mình, rồi tiếp đến cướp công một cách trắng trợn, không dừng lại ở đó hắn còn nhẫn tâm giết chết Thạch Sanh. Những tội ác của Lý Thông mỗi ngày một tăng lên cho thấy tính cách xấu xa, xảo quyệt, lòng tham vô đáy, ham mê quyền lực, tiền bạc đến mờ mắt của hắn. Vậy liệu Lý Thông có bị trừng phạt đích đáng hay không?

Quá trình đấu tranh giữa cái thiện và cái ác ngày càng gay go, quyết liệt, Thạch Sanh không chỉ chịu sự hãm hại của Lý Thông, mà còn bị hồn của đại bàng và chằn tinh báo thù, chàng bị giam vào ngục. Cái ác ngày càng tăng dần về cấp độ thì ta cũng thấy cái thiện cũng ngày một trưởng thành, lớn mạnh hơn. Nhờ có tiếng đàn Thạch Sanh được giải oan, còn mẹ con Lý Thông phải chịu tội. Tiếng đàn chính là tiếng nói của công lý, nhờ có tiếng đàn mà mọi oan khuất của Thạch Sanh đã được hóa giải. Có một điều đặc biệt đó là Thạch Sanh không phải là người trừng phạt tội ác mẹ con Lý Thông mà chính đất trời đã trừng trị chúng. Qua chi tiết đó càng thể hiện rõ tấm lòng bao dung, độ lượng của Thạch Sanh với kẻ đã hãm hại mình. Câu chuyện kết thúc có hậu, Thạch Sanh lấy công chúa, công lí, công bằng đã được thực thi.

Truyện Thạch Sanh không chỉ phản ánh quá trình đấu tranh thiện ác mà còn thể hiện lòng yêu chuộng hòa bình của nhân dân ta. Lấy công chúa, Thạch Sanh trải qua thử thách cuối cùng: thu phục các nước chư hầu. Với niêu cơm thần và tiếng đàn thần các nước chư hầu phải ngả mũ xin hàng. Chi tiết niêu cơm thần và tiếng đàn thần là hai chi tiết có nhiều giá trị, ý nghĩa. Niêu cơm thần thể hiện mơ ước, khát vọng cuộc sống ấm no, hạnh phúc và tấm lòng nhân đạo của dân tộc. Tiếng đàn thần tượng trưng cho khát vọng hòa bình của nhân dân ta. Trải qua rất nhiều khó khăn thử thách, Thạch Sanh đã đến được bến bờ hạnh phúc, chung sống cùng công chúa và cai trị đất nước. Đây là phần thưởng xứng đáng cho đức hạnh cũng như tài năng của Thạch Sanh.

Để tạo nên sự hấp dẫn ta không thể không nhắc đến những nét đặc sắc về mặt nghệ thuật. Thạch Sanh là một truyện cổ tích có cốt truyện hấp dẫn, giàu kịch tính. Xây dựng hai tuyến nhân vật đối lập: Thạch Sanh đại diện cho cái thiện, mẹ con Lý Thông, hồn chằn tinh, đại bàng đại diện cho cái xấu cái ác. Thông qua việc xây dựng hai tuyến nhân vật này nhân dân ta còn khẳng định một đạo lý ngàn đời đó là “Ở hiền gặp lành, ác giả ác báo”. Các chi tiết nghệ thuật được sắp đặt khéo léo, có quan hệ mật thiết với nhau. Ngoài ra, các chi tiết thần kì như cung tên vàng, đàn thần, niêu cơm thần cũng chứa đựng nhiều ý nghĩa sâu xa, thể hiện mơ ước, khát vọng của nhân dân.

Thạch Sanh là một trong những truyện cổ tích hay và đặc sắc nhất trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam. Truyện cổ tích Thạch Sanh đã xây dựng thành công hai tuyến nhân vật thiện và ác cùng với những chi tiết thần kì đặc sắc. Tác phẩm đã thể hiện niềm tin, mơ ước của nhân dân ta về đạo lý muôn đời “ở hiền gặp lành, ác giả ác báo” . Không chỉ vậy tác phẩm còn cho thấy tấm lòng nhân đạo và lòng yêu chuộng hòa bình của nhân dân ta.

Bài làm 2

Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam vô cùng phong phú, đặc sắc. Với trí tưởng tượng phong phú, tài hoa các tác giả dân gian đã dựng lên bức chân dung các nhân vật chính diện thật tuyệt mĩ, hoàn hảo, không chỉ đẹp về ngoại hình mà còn đẹp cả phẩm chất bên trong. Thạch Sanh là một truyện cổ tích như vậy.

Thạch Sanh là truyện cổ tích thần kì, nhân vật thuộc kiểu người dũng sĩ, đây là mô típ phổ biến trong truyện cổ tích Việt Nam và thế giới. Câu chuyện với những tình tiết bất ngờ, hợp lí đã tạo nên sức hấp dẫn với người đọc.

Trước hết tác phẩm là bài ca ca ngợi người anh hùng lí tưởng Thạch Sanh trong cuộc đấu tranh lại cái ác. Thạch Sanh vốn là con Ngọc Hoàng, nhưng được sai xuống đầu thai làm con của một gia đình nghèo khó, hiền lành, tốt bụng. Sự ra đời của Thạch Sanh cũng ẩn chứa rất nhiều điều kì lạ. Người mẹ sau nhiều năm mang thai mới sinh ra Thạch Sanh. Khi cậu vừa khôn lớn thì mẹ qua đời. Thạch Sanh sống một mình trong túp lều cũ cạnh gốc đa, hàng ngày kiếm củi bán để sống. Sự ra đời của Thạch Sanh là sự kết hợp hài hòa giữa những cái bình thường và phi thường. Điều bình thường ở Thạch Sanh đó là được sinh ra trong một gia đình nghèo, sau khi cha mẹ chết cậu làm nghề kiếm củi để nuôi sống bản thân. Nhưng điểm nhấn của nhân vật chính là yếu tố phi thường: mẹ mang thai vài năm mới sinh, được các thiên thần dạy đủ các môn võ nghệ và phép thần thông. Sự ra đời và lớn lên kì lạ như vậy như một tín hiệu báo những chiến công oanh liệt của Thạch Sanh sau này. Mang trong mình sự hài hòa giữa nét bình thường và khác thường còn cho ta thấy rằng những con người bình thường cũng có thể mang trong mình những khả năng, phẩm chất khác thường.

Cũng như các nhân vật truyện cổ tích khác, Thạch Sanh phải trải qua rất nhiều thử thách khác nhau để khẳng định bản thân và đến được bến bờ hạnh phúc, đồng thời cho thấy quá trình đấu tranh thiện, ác gian nan của chàng. Là một người mồ côi, luôn khao khát được yêu thương, bởi vậy khi Lý Thông ngỏ lời kết nghĩa anh em, Thạch Sanh đã lập tức đồng ý. Ta thấy rằng Lý Thông không hề có lòng tốt khi kết nghĩa với Thạch Sanh mà chỉ muốn lợi dụng chàng. Thử thách đầu tiên mà Thạch Sanh phải trải qua là thử thách lòng tin. Lý Thông nói dối để Thạch Sanh đi canh miếu thờ, mà thực chất là đẩy Thạch Sanh đến chỗ chết, Lý Thông là kẻ hết sức mưu mô, xảo quyệt, ích kỉ vì mạng sống của mình mà đẩy người anh em vào chỗ chết. Vốn là người hiền lành nên chàng tin lời anh ngay, trong đêm canh miếu, Thạch Sanh không những không bị giết mà còn đánh bại chằn tinh. Qua những việc làm đó cho thấy Thạch Sanh là một người thật thà, chất phác.

Lý Thông tiếp tục tỏ ra là tên gian xảo, một lần nữa lừa Thạch Sanh, khiến chàng bỏ về túp lều cũ, còn hắn thì đàng hoàng nhận lấy công trạng và lĩnh thưởng. Công chúa bị đại bàng bắt đi, Thạch Sanh nghĩa hiệp mang cung tên vàng ra bắn bị thương con chim ác, chàng đã đi theo giấu máu và tìm đến tận cửa hang. Nghe theo lời nhờ cậy của Lý Thông, chàng xuống hang sâu cứu công chúa, nhưng lại bị Lý Thông lấp cửa hang. Ở dưới đó, chàng không hề sợ hãi, tìm đường ra, trên đường tìm lối thoát chàng còn cứu thêm con vua Thủy Tề. Chàng quả là người có tấm lòng nhân hậu và lương thiện. Nói về phần công chúa, sau khi được cứu về nàng hóa câm, đó cũng chính là bằng chứng tố cáo tội ác của Lý Thông.

Tội ác của Lý Thông ngày một gia tăng, được các tác giả dân gian khéo léo xếp theo chiều tăng tiến, ban đầu hắn lợi dụng Thạch Sanh thế mạng cho mình, rồi tiếp đến cướp công một cách trắng trợn, không dừng lại ở đó hắn còn nhẫn tâm giết chết Thạch Sanh. Những tội ác của Lý Thông mỗi ngày một tăng lên cho thấy tính cách xấu xa, xảo quyệt, lòng tham vô đáy, ham mê quyền lực, tiền bạc đến mờ mắt của hắn. Vậy liệu Lý Thông có bị trừng phạt đích đáng hay không?

Quá trình đấu tranh giữa cái thiện và cái ác ngày càng gay go, quyết liệt, Thạch Sanh không chỉ chịu sự hãm hại của Lý Thông, mà còn bị hồn của đại bàng và chằn tinh báo thù, chàng bị giam vào ngục. Cái ác ngày càng tăng dần về cấp độ thì ta cũng thấy cái thiện cũng ngày một trưởng thành, lớn mạnh hơn. Nhờ có tiếng đàn Thạch Sanh được giải oan, còn mẹ con Lý Thông phải chịu tội. Tiếng đàn chính là tiếng nói của công lý, nhờ có tiếng đàn mà mọi oan khuất của Thạch Sanh đã được hóa giải. Có một điều đặc biệt đó là Thạch Sanh không phải là người trừng phạt tội ác mẹ con Lý Thông mà chính đất trời đã trừng trị chúng. Qua chi tiết đó càng thể hiện rõ tấm lòng bao dung, độ lượng của Thạch Sanh với kẻ đã hãm hại mình. Câu chuyện kết thúc có hậu, Thạch Sanh lấy công chúa, công lí, công bằng đã được thực thi.

Truyện Thạch Sanh không chỉ phản ánh quá trình đấu tranh thiện ác mà còn thể hiện lòng yêu chuộng hòa bình của nhân dân ta. Lấy công chúa, Thạch Sanh trải qua thử thách cuối cùng: thu phục các nước chư hầu. Với niêu cơm thần và tiếng đàn thần các nước chư hầu phải ngả mũ xin hàng. Chi tiết niêu cơm thần và tiếng đàn thần là hai chi tiết có nhiều giá trị, ý nghĩa. Niêu cơm thần thể hiện mơ ước, khát vọng cuộc sống ấm no, hạnh phúc và tấm lòng nhân đạo của dân tộc. Tiếng đàn thần tượng trưng cho khát vọng hòa bình của nhân dân ta. Trải qua rất nhiều khó khăn thử thách, Thạch Sanh đã đến được bến bờ hạnh phúc, chung sống cùng công chúa và cai trị đất nước. Đây là phần thưởng xứng đáng cho đức hạnh cũng như tài năng của Thạch Sanh.

Để tạo nên sự hấp dẫn ta không thể không nhắc đến những nét đặc sắc về mặt nghệ thuật. Thạch Sanh là một truyện cổ tích có cốt truyện hấp dẫn, giàu kịch tính. Xây dựng hai tuyến nhân vật đối lập: Thạch Sanh đại diện cho cái thiện, mẹ con Lý Thông, hồn chằn tinh, đại bàng đại diện cho cái xấu cái ác. Thông qua việc xây dựng hai tuyến nhân vật này nhân dân ta còn khẳng định một đạo lý ngàn đời đó là “Ở hiền gặp lành, ác giả ác báo”. Các chi tiết nghệ thuật được sắp đặt khéo léo, có quan hệ mật thiết với nhau. Ngoài ra, các chi tiết thần kì như cung tên vàng, đàn thần, niêu cơm thần cũng chứa đựng nhiều ý nghĩa sâu xa, thể hiện mơ ước, khát vọng của nhân dân.

Thạch Sanh là một trong những truyện cổ tích hay và đặc sắc nhất trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam. Truyện cổ tích Thạch Sanh đã xây dựng thành công hai tuyến nhân vật thiện và ác cùng với những chi tiết thần kì đặc sắc. Tác phẩm đã thể hiện niềm tin, mơ ước của nhân dân ta về đạo lý muôn đời “ở hiền gặp lành, ác giả ác báo” . Không chỉ vậy tác phẩm còn cho thấy tấm lòng nhân đạo và lòng yêu chuộng hòa bình của nhân dân ta.

– Phân tích truyện cổ tích Thạch Sanh ngắn nhất

“Ầu ơi! Ví dầu cầu ván đóng đinh Cầu tre lắt lẻo gập ghềnh khó đi”

Lời ru êm ái, nhẹ nhàng đã gợi nhắc trong lòng chúng ta về tuổi thơ ngọt ngào bên chiếc võng, nhưng mỗi một con người lớn lên không chỉ bằng lời ru dịu ngọt của bà, của mẹ mà còn bằng cái nôi từ những câu chuyện cổ tích. Đó là thế giới của công bằng, của chân lí chất chứa biết bao bài học làm người quý giá mà bà và mẹ đã truyền dạy cho chúng ta như những bài học đầu đời. Truyện cổ tích “Thạch Sanh” là một trong số những câu chuyện rất đỗi quen thuộc và thể hiện rõ điều đó thông qua việc kể về người dũng sĩ Thạch Sanh vượt qua nhiều thử thách để cứu người, đồng thời vạch mặt kẻ xấu và chống quân xâm lược.

“Thạch Sanh” là chuyện cổ tích kể về cuộc đời của kiểu nhân vật dũng sĩ và có tài năng lạ kì. Ngay từ phần mở đầu, tác phẩm đã thể hiện rõ điều đó. Sự ra đời của Thạch Sanh đã được tác giả dân gian thần kì hóa để dự báo về tài năng, phẩm chất phi thường của chàng về sau. Chàng vốn là thái tử, con trai của Ngọc Hoàng đầu thai xuống trần gian và người mẹ mang thai qua mấy năm, khi người bố mất thì chàng mới được sinh ra. Chẳng bao lâu, người mẹ qua đời và sau đó, chàng được thiên thần truyền dạy võ công và phép thần thông. Như vậy, Thạch Sanh hiện lên là một người có sự hài hòa giữa những điều bình thường và phi thường, trong đó cái phi thường là yếu tố nổi trội hơn.

“Thạch Sanh” là bài ca ngợi ca về sự chiến thắng của cái thiện trước cái xấu, cái ác. Chàng dũng sĩ đã phải vượt qua rất nhiều thử thách như giết chằn tinh, giết đạt bàng, bị Lí Thông hãm hại và bị bắt giam trước âm mưu của linh hồn chằn tinh và đại bàng. Ở mỗi một thử thách, con người chàng lại thể hiện những phẩm chất đáng quý. Đầu tiên, chàng là người thật thà, sẵn sàng giúp đỡ người khác khi kết nghĩa huynh đệ với Lí Thông và cả tin đi canh miếu thờ. Và với sự gan dạ, dũng cảm, chàng đã giết chết chằn tinh, đem lại sự bình yên cho dân làng, sau đó chàng cũng là người bắn trọng thương và tình nguyện xuống hang sâu giết đại bàng, cứu công chúa, cứu con trai vua Thủy Tề. Chàng làm việc này không xuất phát từ việc được trọng thưởng mà từ tấm lòng nghĩa hiệp, không khoan nhượng trước cái xấu, cái ác. Sau khi giải được nỗi oan ngục thất và kết hôn cùng công chúa, Thạch Sanh đã dùng tiếng đàn của mình đánh lui mười tám nước chư hầu mà không hề gây ra bất cứ sự thương vong chết chóc nào giúp chúng ta thấy được chàng là người trượng nghĩa, yêu chuộng sự hòa bình.

Để làm nổi bật phẩm chất của Thạch Sanh, tác giả dân gian đã xây dựng nên hình tượng nhân vật phản diện là Lí Thông. Hắn ta hiện lên với bản chất của một con buôn gian xảo, tham loan, luôn toan tính để lợi dụng người khác. Tàn nhẫn hơn, để đạt được mục đích của mình, hắn không ngần ngại đẩy người anh em kết nghĩa của mình vào bước đường cùng, vào chỗ chết. Vì thế, dù được Thạch Sanh tha mạng, nhưng mẹ con hắn vẫn không thoát khỏi sự trừng phạt. “Lưới trời lồng lộng, tuy thưa mà khó thoát” nên cuối cùng, hắn bị sắt đánh chết và hóa thành bọ hung, thể hiện quan điểm rất rõ ràng của nhân dân ta về cái thiện, cái ác. Đó là chân lí “ở hiền gặp lành” và “ác giả ác báo”.

Khi đặt chân vào thế giới cổ tích vô cùng bao la rộng lớn, chúng ta luôn được khám phá vô vàn điều kì thú, đặc biệt là bắt gặp rất nhiều chi tiết tưởng tượng thần kì và giàu ý nghĩa. Trong câu chuyện “Thạch Sanh” cũng thế. Sự ra đời của khác thường của Thạch Sanh đã được thần kì hóa để dự báo những điều phi thường. Những đồ vật như cây đàn, niêu cơm cũng được nhân dân lao động thần kì hóa để thể hiện khát vọng về công lí, về hòa bình.

Như vậy, thông qua hình tượng người anh hùng lí tưởng là chàng Thạch Sanh, nhân dân ta đã gửi gắm mơ ước về một xã hội lí tưởng của sự công bằng, về niềm tin đạo đức ở những phẩm chất tốt đẹp của con người cùng lí tưởng nhân đạo, lòng yêu hòa bình của nhân dân ta. Trong kho tàng cổ tích Việt Nam, chúng ta có thể tìm thấy rất nhiều những tác phẩm có mô típ về người dũng sĩ và phản ảnh ước mơ, khát vọng của nhân dân lao động.

– Phân tích truyện cổ tích Thạch Sanh ngắn gọn

Trí tưởng tượng phong phú và kì diệu của nhân dân ta đã sáng tạo nên những truyện cổ tích óng ánh, muôn sắc màu, vừa lấp lánh vẻ đẹp kì ảo, vừa giàu tính nhân văn Việt Nam, vừa có khả năng bồi đắp nên những tư tưởng tình cảm và ước mơ cao đẹp cho con người. Thạch Sanh là một trong những sáng tác ấy.

Thạch Sanh là truyện cổ tích tiêu biểu về nhiều phương diện.

Thứ nhất, về bố cục và kết cấu. Truyện có một bố cục tương đối hoàn chỉnh: có sự ra đời, lớn lên và hình thành tài năng của nhân vật đại diện cho công lí và chính nghĩa; có những chặng đường phiêu lưu để thử thách và rèn luyện tài năng và phẩm chất của nhân vật, có kết thúc có hậu. Truyện Thạch Sanh mang hình thức kết cấu phô biến của truyện cổ tích kết cấu song tuyến. Hơn nữa, đây là kết cấu đặc trưng của nhóm truyện cổ tích thần kì.

Hai tuyến nhân vật chính diện và phản diện trong truyện bao gồm có cả con người và lực lượng siêu nhiên, thần kì.

Ở tuyến nhân vật chính diện có: Thạch Sanh, vua, công chúa, thái tử con vua Thuỷ Tề, ngọc Hoàng và vị thiên sứ, chiếc đàn thần và niêu cơm thần.

Ở tuyến nhân vật phản diện có: Mẹ con Lí Thông, trăn tinh, đại bàng.

Những thử thách đặt ra cho nhân vật chính diện cũng được, sắp xếp theo hình thức thăng tiến: thử thách sau ngày một khó khăn, phức tạp hơn thử thách trước. Do vậy mà chiến công, tài trí và phẩm chất của chàng dũng sĩ Thạch Sanh ngày càng được tô đậm.

Cũng về kết cấu phải kể đến một số mô típ quen thuộc của cổ tích như tiếng đàn thần kì và niêu cơm thần kì. Đây vừa là vũ khí của Thạch Sanh vừa là tấm lòng và tình cảm của chàng.

Thứ hai, về xây dựng nhân vật. Nhân vật Thạch Sanh mang trong mình đầy đủ những đặc điểm và phẩm chất cần thiết của nhân vật cổ tích. Ở chàng hội tụ đầy đủ những đặc điểm của con người bình thường và những nét khác thường chỉ có ở nhân vật cổ tích. Thạch Sanh không phải ai xa lạ, chàng là con của một gia đình nông dân lao động nghèo và tốt bụng. Chính gia đình là cái nôi đã nuôi dưỡng phẩm chất thật thà, chất phác và nhân hậu nơi chàng. Cuộc đời chàng từ lúc sinh ra, đến khi trưởng thành, là cuộc sống kiếm củi nghèo khổ và lương thiện. Thạch Sanh chính là hình ảnh, bóng dáng của nhân dân lao động.

Tuy nhiên, để tô đậm vẻ đẹp của nhân vật lí tưởng và làm tăng tính hấp dẫn cho câu chuyện, tác giả dân gian đã khoác cho Thạch Sanh chiếc áo kì ảo của cô tích. Tức là điểm tô cho nhân vật những cái khác thường. Sự kì lạ về nguồn gốc xuất thân (Thạch Sanh ra đời là do Ngọc Hoàng sai thái tử xuống đầu thai làm con hai vợ chồng ông lão tiều phu); kì lạ về sự ra đời (bà mẹ mang thai trong nhiều năm mới sinh ra Thạch Sanh), kì lạ về tài trí (được thiên thần dạy cho đủ các môn võ nghệ và phép thần thông). Khoác cho nhân vật chiếc áo mờ ảo về nguồn gốc, sự ra đời và tài trí, nhân dân mong muốn Thạch Sanh sẽ lập được nhiều chiến công thần kì, vung lưỡi rìu của mình lên để quét sạch cái xấu, cái ác trong xã hội, lập lại công lí và công bằng cho người lương thiện.

Cũng như mọi nhân vật lí tưởng trong cổ tích, Thạch Sanh cũng phải trải qua những chặng đường phiêu lưu, những thử thách đầy khó khăn, trắc trở.

Lần một: Bị mẹ con Lí Thông lừa đi canh miếu thờ, thế mạng, diệt trăn tinh

Lần hai: Xuống hang diệt đại bàng cứu công chúa, bị Lí Thông lấp cửa hang.

Lần ba: Bị hồn trăn tinh và đại bàng báo thù, bị bắt hạ ngục.

Lần bốn: Sau khi kết hôn với công chúa, phải đối phó với quân của mười tám nước chư hầu hội binh kéo sang đánh.

Đặt nhân vật vào nhửng tình huống như vậy, tác giả dân gian một mặt muốn thử thách chàng, một mặt muốn khẳng định tài năng và phẩm chất của chàng.

Và quả thực, qua những thử thách, Thạch Sanh đã bộc lộ được những phẩm chất hết sức quý báu. Chàng vẫn giữ nguyên được sự thật thà, chất phát, nhân hậu vốn có, bộc lộ được tài năng và tôi luyện thêm sự dũng cảm, lòng yêu chuộng hoà bình.

Không chỉ đặt nhân vật Thạch Sanh trong những tình huống thử thách, tác giả dân gian còn đặt Thạch Sanh trong thể đối lập với nhân vật phản diện Lí Thông về tính cách, hành động. Thạch Sanh càng thật thà bao nhiêu thì Lí Thông càng xảo trá bấy nhiêu, Thạch Sanh càng vị tha bao nhiêu thì Lí Thông càng ích kỉ bấy nhiêu, Thạch Sanh càng nhân hậu bao nhiêu thì Lá Thông càng độc ác bấy nhiêu. Sự đối lập giữa Thạch Sanh với Lí Thông là sự đối lập giữa thiện và ác, chính nghĩa và phi nghĩa.

Nhân vật Thạch Sanh được đặt trong thế đối lập với Lí Thông và trong thế tương quan với các nhân vật chính diện khác, đặc biệt là với những lực lượng thần kì như thiên thần, vua Thuỷ Tề. Nhờ có sự giúp đỡ của họ mà Thạch Sanh đã chiến thắng cái thế lực hung ác, vạch mặt được kẻ vong ân bội nghĩa.

Thứ ba, về mặt ý nghĩa của truyện. Thạch Sanh là một truyện cổ tích chứa đựng nhiều ý nghĩa. Từ câu chuyện chàng dũng sĩ diệt chằn tinh, diệt đại bàng cứu người bị hại, vạch mặt kẻ vong ân bội nghĩa, chống quân xâm lược, truyện đã thể hiện ước mơ và niềm tin của nhân dân ta về đạo đức, công lí xã hội, lí tưởng nhân đạo, lòng yêu chuộng hoà bình, ước mơ và chân lí về sự chiến thắng của cái thiện đối với cái ác.

Với những đặc điểm như trên, có thể khẳng định rằng; Thạch Sanh là một trong những truyện cổ tích tiêu biểu nhất và hấp dẫn nhất của kho tàng cổ tích Việt Nam, làm xúc động và say mê nhiều thế hệ bạn đọc.

***

Nhằm giúp các em học sinh học tốt Tập làm văn lớp 6, chúng tôi đã tổng hợp tất cả các bài Văn mẫu lớp 6 tập 1, tập 2 hay nhất, chọn lọc với đủ các dạng bài: Văn kể chuyện và miêu tả, văn tóm tắt – diễn cảm – phát biểu cảm nghĩ cho các em học sinh có tham khảo.

Truyện Cổ Tích Cậu Bé Thông Minh / 2023

– Này ông lão kia! Trâu của lão cày một ngày được mấy đường?

Người cha đứng ngẩn ra chưa biết trả lời thế nào thì đứa con chừng bảy tám tuổi hỏi vặn lại quan:

– Thế xin hỏi ông câu này đã. Nếu ông trả lời được ngựa của ông đi một ngày được mấy bước, tôi sẽ cho ông biết trâu của cha tôi cày một ngày được mấy đường.

Nghe vậy, vua mừng lắm. Nhưng để biết chính xác hơn nữa, vua bèn sai ban cho làng ấy ba thúng gạo nếp vài ba con trâu đực, ra lệnh phải nuôi làm sao cho ba con trâu ấy đẻ thành chín con, hẹn năm sau đem nộp đủ, nếu không thì cả làng phải tội.

Dân làng nhận được lệnh vua ban, ai ấy cũng vừa mừng vừa và lo lắng, không biết làm sao trâu đực đẻ được bây giờ? Bao nhiêu cuộc họp làng, bao nhiêu lời bàn tán, vẫn không nghĩ ra được cách gì giải quyết cả. Từ trên xuống dưới mọi người đều coi là một tai vạ.

Nghe thấy tin này, cậu bé con người thợ cày liền bảo cha:

– Chả mấy khi được lộc vua ban, bố cứ thưa với làng ngả thịt hai trâu và đồ hai thúng gạo nếp để mọi người ăn một bữa thật lớn. Còn một trâu và một thúng gạo, ta sẽ xin làng làm phí tổn cho bố con ta trẩy kinh lo liệu việc đó.

– Đã ăn thịt còn lo liệu thế nào? Con đừng có làm dại mà bay đầu đi đó con ạ!

Nhưng cậu bé quả quyết:

– Cha cứ mặc con lo liệu, thế nào cũng xong xuôi.

Người cha vội ra đình trình bày câu chuyện. Cả làng nghe nói vẫn còn ngờ vực, bắt cha con phải làm giấy cam đoan, mới dám ngả trâu.

Mấy hôm sau, hai cha con khăn gói tìm đường tiến kinh. Đến hoàng cung, con bảo cha đứng đợi ở ngoài, còn mình thì nhân lúc mấy tên lính canh vô ý, lẻn vào sân khóc um lên. Vua sai lính điệu vào phán hỏi:

– Thằng bé kia mày có việc gì? Sao lại đến đây mà khóc?

– Tâu đức vua. Mẹ con chết sớm mà cha con thì không chịu đẻ em bé để chơi với con cho có bạn, cho nên con khóc. Dám mong đức vua phán bảo cha con cho con được nhờ. – Cậu bé vờ vĩnh tâu vua.

Nghe nói, vua và các triều thần đều bật cười. Vua lại phán:

– Cháu muốn có em thì phải kiếm vợ khác cho bố cháu, chứ bố cháu là giống đực làm sao mà đẻ được!

Cấu bé bỗng tươi tỉnh:

– Thế sao làng chúng con lại có lệnh trên bắt nuôi ba con trâu đực cho đẻ thành chín con để nộp đức vua? Giống đực thì làm sao mà đẻ được kia chứ!

Vua cười bảo:

– Ta thử đấy thôi mà? Thế làng chúng mày không biết đem trâu ấy ra ngả thịt mà ăn với nhau à?

– Tâu đức vua, làng chúng con sau khi nhận được trâu và gạo nếp biết là lộc của đức vua, cho nên đã làm cỗ ăn mừng với nhau rồi.

Vua và đình thần chịu thằng bé là thông minh lỗi lạc, nhưng đức vua vẫn còn muốn thử cho đến cùng. Hôm sau, khi hai cha con đang ăn cơm ở nhà công quán, bỗng có sứ nhà vua mang tới một con chim sẻ và lệnh chỉ bắt họ phải dọn thành ba cỗ thức ăn. Em bé lấy một cái kim may rồi đưa cho sứ giả, bảo:

– Ông cầm lấy cái này về tâu đức vua xin rèn cho tôi thành một con dao để xẻ thịt chim.

Vua nghe nói, từ đó mới phục hẳn.

Lập tức vua cho gọi cả cha con vào ban thưởng hậu hĩnh.

***

Lúc bấy giờ, nước láng giềng nhăm nhe muốn chiếm bờ cõi của nước ta. Để dò xem bên này có nhân tài hay không, họ mới sai sứ đưa sang một cái vỏ con ốc vặn rất dài, rỗng hai đầu, đố làm sao xâu một sợi chỉ mảnh xuyên qua đường ruột ốc.

Sau khi nghe sứ thần trình bày mục đích cuộc đi sứ, vua quan đưa mắt nhìn nhau. Không trả lời được câu đố oái oăm ấy tức là thua kém và phải thừa nhận sự lép vế của mình đối với nước láng giềng.

Các đại thần đều vò đầu suy nghĩ. Có người dùng miệng hút mong cho sợi chỉ lọt qua, có người bôi sáp vào sợi chỉ cho cứng để cho dễ xâu… nhưng tất cả mọi cách đều vô hiệu. Bao nhiêu các ông trạng, các nhà thông thái triệu vào đều lắc đầu bó tay. Cuối cùng, triều đình đành tìm cách mời sứ thần tạm nghỉ ở công quán để có thì giờ đi hỏi ý kiến em bé thông minh ngày nọ.

Tang tính tang! Tính tình tang! Bắt con kiến càng buộc chỉ ngang lưng Bên thời lấy giấy mà bưng, Bên thời bôi mỡ, kiến mừng kiến sang Tang tình tang…

Rồi bảo: – Không cần tôi phải về triều làm gì. Cứ theo cách đó là xâu được ngay!”.

Rồi đó, vua phong cho cậu bé làm trạng nguyên. Vua sai xây dinh thự ở một bên hoàng cung cho em ở để tiện hỏi han.

Nguồn: http://khampha.vn/me-va-be/truyen-co-tich-cau-be-thong-minh-c32a756333.html

Cập nhật thông tin chi tiết về Truyện Cổ Tích Việt Nam Chọn Lọc / 2023 trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!