Xu Hướng 2/2023 # Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Nhà Nước Và Pháp Luật # Top 2 View | Bac.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Nhà Nước Và Pháp Luật # Top 2 View

Bạn đang xem bài viết Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Nhà Nước Và Pháp Luật được cập nhật mới nhất trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật

Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật là một bộ phận cấu thành của tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc, cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, với những nội dung nổi bật là: Xây dựng pháp luật để thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân; Ban hành pháp luật để tổ chức bộ máy nhà nước, thực hiện một nhà nước pháp quyền; Ban bố pháp luật để công bố các quyền tự do, dân chủ của nhân dân; Nghiêm trị bằng pháp luật các tội phạm và vi phạm pháp luật; Pháp luật phục vụ cho công cuộc kháng chiến và kiến quốc. Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật được hình thành và phát triển gắn liền với các dấu mốc lịch sử trong cuộc đời hoạt động cách mạng gần sáu mươi năm liên tục của Người (từ năm 1911 đến năm 1969), bao gồm:

Giai đoạn từ tuổi thiếu niên đến trước ngày ra đi tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc: từ lòng yêu nước truyền thống và được tiếp xúc với tư tưởng “tự do, bình đẳng, bác ái” của Cách mạng tư sản Pháp, ngày 05/6/1911, Nguyễn Tất Thành đã quyết định đi sang phương Tây để tìm con đường cứu nước, giải phóng dân tộc. Đây là sự kiện đánh dấu bước đầu hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật.

Trong giai đoạn từ giữa năm 1911 đến năm 1930, Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc tập trung nghiên cứu bản chất chế độ nhà nước và pháp luật tư sản; tiếp nhận lý luận Mác-Lênin về nhà nước và pháp luật; đưa ra những phác họa về mô hình nhà nước và pháp luật kiểu mới ở Việt Nam.

Từ việc phê phán mạnh mẽ, toàn diện và sâu sắc chế độ cai trị thuộc địa và chế độ nhà nước, pháp luật tư sản, thể hiện rõ nhất qua các tác phẩm: Yêu sách của nhân dân An Nam, Nhời hô hoán cùng Hội Vạn quốc, Bản án chế độ thực dân Pháp và Đường Kách mệnh, Nguyễn Ái Quốc cho rằng phải thiết lập chế độ nhà nước pháp quyền ở Việt Nam; song Việt Nam không thể đi theo con đường cách mạng tư sản, vì đó là những cuộc “cách mệnh không đến nơi”.

Được tiếp xúc và nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin, Nguyễn Ái Quốc khẳng định đây là học thuyết duy nhất đúng đắn để giành độc lập cho dân tộc Việt Nam và xây dựng đất nước. Năm 1920, Người tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp, bỏ phiếu tán thành Quốc tế thứ III. Đó là những sự kiện khẳng định lý luận mác xít về nhà nước và pháp luật trở thành nội dung quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật.

Đầu năm 1930, trong các văn kiện chuẩn bị cho Hội nghị thống nhất các tổ chức cộng sản để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã đưa ra những phác thảo đầu tiên về mô hình nhà nước và pháp luật kiểu mới ở Việt Nam. Đây là những dấu ấn cho thấy, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật đã bao hàm cả tư duy lý luận và tư duy thực tiễn, gắn cách mạng Việt Nam với phong trào cách mạng thế giới.

Giai đoạn từ năm 1931 đến năm 1940: những phác thảo bước đầu của Nguyễn Ái Quốc về cách mạng Việt Nam đã bị Quốc tế cộng sản phê phán gay gắt và đưa ra chủ trương thay thế; song Nguyễn Ái Quốc vẫn kiên định lập trường và tư tưởng của mình. Người đã có những bài viết phê phán những quan điểm phiến diện về cách mạng Việt Nam. Thực tiễn cách mạng Việt Nam từ năm 1931 đến năm 1939 đã chứng minh tính đúng đắn của tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường cách mạng Việt Nam; và sau này được chính những người tham gia Quốc tế Cộng sản thừa nhận(1). Như vậy, chính thực tiễn cách mạng Việt Nam đã kiểm nghiệm, xác thực tính đúng đắn, phù hợp của tư tưởng Hồ Chí Minh và bản lĩnh chính trị của Người.

Giai đoạn từ năm 1941 đến trước Cách mạng Tháng Tám 1945: đây là giai đoạn Nguyễn Ái Quốc triển khai thực hiện những hình thức tiền thân của nhà nước và pháp luật kiểu mới ở Việt Nam. Mặt trận Việt Minh, các Ủy ban nhân dân cách mạng tỉnh, liên tỉnh và Chương trình Việt Minh chính là những hình thức tiền thân của Nhà nước và pháp luật kiểu mới ở Việt Nam, đánh dấu sự hiện thực hóa và thêm một lần nữa khẳng định tính đúng đắn của mô hình nhà nước và pháp luật Việt Nam mà Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã chuẩn bị ròng rã trong hơn 30 năm hoạt động cách mạng (1911-1945).

Giai đoạn từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến năm 1969: đây là giai đoạn tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật được bổ sung và phát triển gắn cách mạng Việt Nam với phong trào cách mạng thế giới; với sự chỉ đạo trực tiếp của Người trong 24 năm liên tục giữ cương vị người đứng đầu Đảng và Nhà nước Việt Nam. Bản Tuyên ngôn độc lập do Người trực tiếp soạn thảo đã tuyên bố với thế giới việc thành lập chế độ nhà nước và pháp luật dân chủ ở Việt Nam – là văn kiện chính trị, pháp lý thể hiện đậm nét tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật kiểu mới ở Việt Nam.

Thực hiện quyết tâm xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trực tiếp ký ban hành các văn bản chỉ đạo xây dựng và ban hành Hiến pháp năm 1946; tổ chức Tổng tuyển cử để bầu ra Quốc hội lập hiến, thông qua Hiến pháp năm 1946 và Luật Lao động, hai đạo luật đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Đây chính là sự thể hiện bước phát triển mới của tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp của Nhà nước, thiết lập một trật tự xã hội mới trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội, ngoại giao… Năm 1957, Người ký ban hành các đạo luật quy định về chế độ báo chí; về quyền tự do hội họp, quyền lập hội; quyền tự do thân thể, quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của nhân dân.

Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Người, Quốc hội đã ban hành Hiến pháp năm 1959 cùng các đạo luật quy định về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa: Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, Luật tổ chức Quốc hội, Luật tổ chức Hội đồng Chính phủ, Luật tổ chức Tòa án nhân dân, Luật tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân. Với các đạo luật quan trọng đó, tổ chức và hoạt động của Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa được thực hiện trên cơ sở Hiến pháp và pháp luật. Trong điều kiện miền Bắc đã hoàn toàn giải phóng, Quốc hội có thể họp đúng định kỳ để tập trung xây dựng pháp luật, từ năm 1960 Chủ tịch Hồ Chí Minh không trực tiếp ký ban hành sắc lệnh, song tư tưởng về nhà nước và pháp luật của Người đã trở thành quan điểm chỉ đạo, phương châm xây dựng, hoàn thiện Nhà nước và pháp luật của Nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Đó là quan điểm về Nhà nước hợp hiến, hợp pháp, của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân; là quan điểm về Quốc hội, cơ quan cao nhất của quyền lực nhà nước với nhiệm vụ cao cả “Phải cố gắng làm cho pháp luật dân chủ ngày càng nhiều hơn, tốt hơn”; là quan điểm về Chính phủ, cơ quan hành chính nhà nước cao nhất với bộ máy trong sạch, liêm khiết để sao cho “Đạo nghĩa là chính sách của Chính phủ đối với dân chúng… Đối với dân, Chính phủ phải thi hành một nền chính trị liêm khiết”. Đó là quan điểm về tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp “Xét xử đúng là tốt, nhưng nếu không phải xét xử thì tốt hơn”; quan điểm nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước, có quyền kiểm soát quyền lực nhà nước “Nhân dân có quyền bãi miễn đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân nếu những đại biểu ấy tỏ ra không xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân. Nguyên tắc ấy bảo đảm quyền kiểm soát của nhân dân đối với đại biểu của mình”. Đó là quan điểm về đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước phải là: “Những người tỏ ra rất trung thành và hăng hái trong công việc, trong đấu tranh; những người liên lạc mật thiết với dân chúng, hiểu biết dân chúng. Luôn luôn chú ý đến lợi ích của dân chúng…; những người có thể phụ trách giải quyết các vấn đề trong những hoàn cảnh khó khăn…; những người luôn luôn giữ đúng kỷ luật”…

Có thể khẳng định rằng, hình thành từ đòi hỏi của lịch sử, khi dân tộc Việt Nam còn trong đêm trường nô lệ; phát triển gắn với thực tiễn hoạt động chính trị – xã hội phong phú trên trường quốc tế đầy biến cố và phức tạp của thế kỷ XX; được bổ sung và hoàn thiện gắn với thực tiễn lãnh đạo cách mạng Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật là sự lựa chọn đúng đắn và sáng suốt mô hình nhà nước và pháp luật phù hợp với thực tiễn Việt Nam, phản ánh xu thế phát triển phù hợp của những tư tưởng chính trị – pháp lý tiến bộ của nhân loại; là nền tảng tư tưởng chỉ đạo xây dựng, hoàn thiện nhà nước và pháp luật xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng.

2. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật vào xây dựng, hoàn thiện nhà nước và pháp luật Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn khẳng định nghiên cứu, học tập, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là một nhiệm vụ quan trọng của cán bộ, đảng viên và toàn thể nhân dân. Nghiên cứu, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh chính là để thực hiện đúng tinh thần Người đã căn dặn: Học để làm người, để phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, phụng sự giai cấp và nhân loại.

Tiếp tục nghiên cứu, học tập, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, trước hết cần hướng vào phục vụ xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân. Văn kiện các Đại hội ĐBTQ lần thứ IX, X, XI và XII của Đảng đều nhấn mạnh mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, được thể chế hóa trong Hiến pháp năm 2013 và các đạo luật về tổ chức và hoạt động của Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân và chính quyền địa phương; về cán bộ, công chức, viên chức nhà nước… Không chỉ là kết quả tích cực về hoàn thiện thể chế; mà hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cả hệ thống chính trị và bộ máy nhà nước ta được nhân dân cả nước và cộng đồng quốc tế ghi nhận; chính trị ổn định, kinh tế – xã hội phát triển, đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện; vị thế và uy tín của đất nước ta, nhân dân ta và Đảng, Nhà nước ta ngày càng được nâng cao, đúng như nhận định của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay”. Ngay cả trong những tình huống bất thường xã hội như đại dịch COVID-19, dưới sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng; sự quản lý kịp thời, có hiệu quả của Nhà nước; sự vào cuộc với quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị và sự đồng thuận xã hội, Việt Nam đã được thế giới ghi nhận là một trong số ít quốc gia điển hình về hiệu quả kinh tế, chính trị và xã hội trong phòng, chống đại dịch toàn cầu COVID-19.

Thời gian tới, chúng ta cần đẩy mạnh nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật gắn với triển khai các nghị quyết của Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Ban Chấp hành Trung ương khóa XII và dự thảo các văn kiện trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng; với đánh giá toàn diện, khách quan những khó khăn, thuận lợi trong lý luận và thực tiễn về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước để quán triệt, nhận thức sâu sắc hơn nữa tư tưởng của Người về Nhà nước pháp quyền của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hành đều của dân. Tổ chức và hoạt động của Nhà nước phải vì nhân dân, lấy việc phục vụ nhân dân làm mục tiêu cao nhất của mình. Sức mạnh của Nhà nước phải bắt nguồn từ nhân dân, của khối đại đoàn kết dân tộc, bộ máy nhà nước thực sự gọn nhẹ, trong sạch, vững mạnh, gần dân, sát dân, thể hiện và thực hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân; đảm bảo thực hiện trên thực tế nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.

Cần tập trung hoàn thiện thể chế, chức năng, nhiệm vụ, phương thức và cơ chế vận hành, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước trong mối quan hệ tổng thể “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”; trong đó cần hướng vào trọng tâm là hoàn thiện cơ cấu tổ chức, xác định rõ hơn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ, đẩy mạnh cải cách nền hành chính nhà nước; gắn kết chặt chẽ cải cách hành chính với cải cách lập pháp và cải cách tư pháp; xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm quản lý nhà nước của mỗi cấp chính quyền địa phương theo quy định của Hiến pháp, pháp luật về tổ chức và hoạt động của Chính phủ và chính quyền địa phương; quan tâm hơn nữa đến công tác tổ chức và cán bộ nhà nước, trước mắt là chuẩn bị thật tốt công tác nhân sự của đại hội đảng các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Đó cũng là tinh thần và trách nhiệm, sự chuẩn bị tốt của Đảng và Nhà nước về công tác nhân sự để giới thiệu bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026.

Đồng thời, để thực hiện có hiệu quả quan điểm chỉ đạo của Đảng về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; trực tiếp là Chỉ thị số 23-CT/TW ngày 09/02/2018 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới, chúng ta cần nghiên cứu, học tập, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật để “… làm rõ những vấn đề bổ sung, phát triển;… cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước…”.

Qua 75 năm xây dựng và phát triển của Nhà nước, đặc biệt là từ đổi mới đến nay, chúng ta đã xây dựng được hệ thống pháp luật tương đối ổn định, đồng bộ, thống nhất, có sự gắn kết chặt chẽ với việc thực hiện các chỉ đạo, chủ trương của Đảng về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật; về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo nền tảng pháp lý bảo đảm quyền tự do kinh doanh, các quyền về an sinh xã hội của công dân, cải thiện môi trường kinh doanh, đầu tư và phát triển các lĩnh vực kinh tế – xã hội của đất nước, bảo đảm quyền, lợi ích của người dân và doanh nghiệp; ngày càng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội…

Chúng ta cũng đã ban hành các văn bản ở tầm chiến lược về cải cách tư pháp, cải cách hành chính; chủ trương tinh gọn bộ máy nhà nước và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, chuyển hướng chiến lược từ ưu tiên cho hoạt động xây dựng pháp luật sang ưu tiên tập trung hoàn thiện pháp luật gắn với tổ chức thi hành pháp luật theo tinh thần thượng tôn pháp luật.

Trong lĩnh vực tổ chức và cán bộ nhà nước, Nhà nước ta đã chú trọng nghiên cứu, thể chế hóa đầy đủ nguyên tắc phân công, phối hợp, kiểm soát quyền lực nhà nước, phân định phạm vi, trách nhiệm của các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, bảo đảm phù hợp với thực tiễn tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị nước ta; chú trọng cơ chế và điều kiện đảm bảo nâng cao trình độ của cán bộ, công chức, viên chức bảo đảm vững mạnh cả về số lượng và chất lượng, có phẩm chất chính trị, am hiểu pháp luật và kiến thức xã hội, có thể tham gia làm việc tại các tổ chức khu vực và quốc tế, các thiết chế tài phán quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Tuy nhiên, việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam nhằm tạo lập hệ thống thể chế đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước đến nay về cơ bản vẫn chưa đạt mục đích đề ra cả về số lượng và chất lượng. Có lý do từ cơ chế xây dựng, sửa đổi, bổ sung pháp luật chưa thực sự khoa học, đặc biệt cách phân công và thực hiện quy trình soạn thảo dự án pháp luật dẫn đến tình trạng cơ quan chủ trì hướng nhiều vào bảo vệ lợi ích cục bộ của ngành, địa phương, chưa thật sự vì lợi ích chung của nhân dân. Việc đảm bảo sự tham gia ý kiến rộng rãi của các tổ chức và cá nhân, cơ chế thu hút chuyên gia giỏi và phát huy trí tuệ của nhân dân vào hoạt động xây dựng pháp luật còn bất cập, khiến cho nhiều văn bản pháp luật chưa thực sự “bảo vệ quyền lợi cho hàng triệu người lao động”, thậm chí còn thể hiện “tư duy nhiệm kỳ”, “lợi ích nhóm, cục bộ” như Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ tư (khóa XII) đã chỉ ra. Hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật còn nặng về tính phong trào, hiệu quả chưa cao; thiết chế bảo đảm thi hành pháp luật còn thiếu và yếu.

Do đó, chúng ta cần tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu, tiếp tục vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật để xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam. Trước hết, cần ưu tiên các dự án luật cụ thể hóa trực tiếp các quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền con người, bảo đảm cụ thể hóa đầy đủ nội dung phân cấp, phân quyền trong các đạo luật theo tinh thần của Hiến pháp và các nguyên tắc phân cấp, phân quyền đã được quy định tại Luật tổ chức Chính phủ và Luật tổ chức chính quyền địa phương; tập trung hoàn thiện thể chế về tổ chức và hoạt động của các thiết chế trong hệ thống chính trị; tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; pháp luật về giáo dục – đào tạo, khoa học – công nghệ, y tế, văn hóa – thông tin, thể thao, dân tộc, tôn giáo, dân số, gia đình, trẻ em và chính sách xã hội; pháp luật về quốc phòng, an ninh; pháp luật về hội nhập quốc tế.

Trong lĩnh vực tổ chức và cán bộ nhà nước, cần thực hiện quyết liệt, nghiêm túc việc sắp xếp, cơ cấu lại tổ chức bộ máy nhà nước theo chủ trương, định hướng của Đảng; đẩy nhanh quá trình cụ thể hóa chỉ đạo, định hướng trong các văn bản của Đảng về sắp xếp, tinh gọn bộ máy nhà nước và tinh giản biên chế, cơ cấu lại và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức thành các văn bản quy phạm pháp luật để tạo lập cơ sở pháp lý đồng bộ, thống nhất cho việc triển khai thực hiện. Tăng cường phân quyền, phân cấp giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương và chính quyền địa phương; giảm đầu mối trung gian trong các tổ chức, thực hiện trên phạm vi rộng mô hình tổ chức liên tỉnh, liên huyện; kiểm tra, giám sát việc thực hiện sáp nhập, hợp nhất các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã không đủ tiêu chuẩn điều kiện. Chúng ta cũng cần có những giải pháp đồng bộ để có đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật “… có bản lĩnh chính trị, kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có tư duy đổi mới, có khả năng hoạch định đường lối, chính sách và lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện”(2) để đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật không chỉ là nền tảng tư tưởng chỉ đạo công cuộc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN và hệ thống pháp luật Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng; mà trong một chừng mực nhất định, tư tưởng đó còn là một phần văn minh pháp lý của nhân loại, thể hiện qua việc Chính phủ các nước Myanmar và Inđônêxia đã trao tặng Người danh hiệu tiến sĩ luật học và được thế giới thừa nhận: “Các dân tộc chối từ con đường đau khổ của chủ nghĩa tư bản, có thể nghiên cứu để tìm thấy trong tư tưởng Hồ Chí Minh một hướng đi thích hợp cho sự lựa chọn của mình”(3).

Ghi chú:

(1) Đỗ Quang Hưng, Thêm những hiểu biết về Hồ Chí Minh, Nxb Lao động, H.1999, tr.31-34.

(2) Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, Một số vấn đề cần được đặc biệt quan tâm trong công tác chuẩn bị nhân sự Đại hội XIII của Đảng. Nguồn: http://baochinhphu.vn/Tin-noi-bat/Mot-so-van-de-can-duoc-dac-biet-quan-tam-trong-cong-tac-chuan-bi-nhan-su-Dai-hoi-XIII-cua-Dang/394085.vgp.

(3) UNESCO – Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, Hội thảo quốc tế về Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb KHXH, H. 1990, tr.43-44.

Nguồn: tcnn.vn

Xây Dựng Đảng Về Đạo Đức Theo Tư Tưởng Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh đ ã đi xa, nhưng Người đã để lại cho Đảng ta, Nhân dân ta di sản vô cùng to lớn và quý giá đó là: t ư tưởng Hồ Chí Minh, đạo đức Hồ Chí Minh, phong cách Hồ Chí Minh. Việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người là việc làm thường xuyên, liên tục, lâu dài. Những năm qua Trung ương Đảng, Bộ Chính trị đ ã có nhiều văn bản lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh việc học tập và làm theo t ư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, được toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tích cực hưởng ứng thực hiện, tạo sự lan tỏa trong toàn x ã hội.

Quán triệt chỉ đạo của Trung ương, Tỉnh ủy Lai Châu đã lãnh đạo, chỉ đạo triển khai nghiêm túc, hiệu quả, với tinh thần đưa việc học tập và làm theo t ư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trở thành một nội dung quan trọng trong công tác xây dựng Đảng, góp phần xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp đủ năng lực, phẩm chất, có phong cách làm việc khoa học trên tinh thần phục vụ, gần dân, sát cơ sở, giản dị, khiêm tốn, tận tụy, trung thực và liêm khiết; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; trong đó công tác xây dựng Đảng về đạo đức theo tư tưởng Hồ Chí Minh được chú trọng.

Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên được đặc biệt coi trọng. Tỉnh ủy đ ã ban hành các văn bản quy định về chế độ học tập lý luận chính trị; các đề án, nghị quyết chuyên đề nhằm nâng cao chất lượng tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin, t ư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đổi mới, nâng cao chất lượng tuyên truyền, quán triệt, học tập nghị quyết của Đảng và l ãnh đạo tổ chức thực hiện có hiệu quả. Chỉ đạo tổ chức các hội nghị thông tin chuyên đề; mở lớp cập nhật kiến thức, bồi dưỡng cán bộ dự nguồn cho cán bộ chủ chốt các cấp… qua đó góp phần nâng cao nhận thức chính trị, ý thức trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong việc tu d ưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống; trong thực thi công vụ, phục vụ nhân dân.

Cùng với đó, tập trung l ãnh đạo, chỉ đạo thực hiện xây dựng và thực hành đạo đức theo tư tưởng Hồ Chí Minh, trên c ơ sở các nguyên tắc: Nói đi đôi với làm, phải nêu gương về đạo đức; xây đi đôi với chống và nguyên tắc phải tu dưỡng đạo đức suốt đời.

Về nguyên tắc nói đi đôi với làm, phải nêu gương về đạo đức. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ qu ý mến những ng ười có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, m ình phải làm mực th ước cho người ta bắt chước”. Thấm nhuần tư tưởng đó của Người, Tỉnh ủy đ ã chỉ đạo cấp ủy các cấp, tăng cường giáo dục cho cán bộ, đảng viên phát huy vai trò nêu g ương trước quần chúng, nêu cao tinh thần trách nhiệm trước Nhân dân. Điều đó được thể hiện tại hai nội dung đột phá nhằm tạo bước chuyển r õ nét trong học tập và làm theo t ư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong Kế hoạch số 57-KH/TU, thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị: (1) Cán bộ l ãnh đạo quản lý các cấp các cơ quan, đơn vị từ tỉnh đến cơ sở đề cao trách nhiệm nêu g ương, đổi mới phong cách làm việc sâu sát, quyết liệt, hiệu quả trong chỉ đạo, điều hành; gương mẫu rèn luyện, giữ g ìn phẩm chất đạo đức, lối sống; (2) Cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức đổi mới phong cách tận tụy với công việc, nâng cao tinh thần, trách nhiệm trong thực thi công vụ, gần dân, sát dân, lăng nghe, đối thoại và có trách nhiệm cao với nhân dân. Đồng thời, chỉ đạo các cấp ủy đảng, cơ quan, đơn vị, đoàn thể đã tiến hành xây dựng chuẩn mực đạo đức theo tư tưởng, tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh của cán bộ, đảng viên; hằng năm tập trung rà soát, bổ sung, hoàn thiện chuẩn mực đạo đức phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao, niêm yết công khai tại trụ sở làm việc để cán bộ, đảng viên và Nhân dân theo dõi, giám sát thực hiện. Tỉnh ủy, cấp ủy các đảng bộ trực thuộc phân công các đồng chí cấp ủy viên phụ trách các địa bàn… Ph ương thức l ãnh đạo, tác phong, lề lối làm việc của cấp ủy các cấp, nhất là ở c ơ sở có bước chuyển biến r õ nét; từng b ước xây dựng phong cách làm việc khoa học, tập thể, dân chủ, gần dân, trọng dân, v ì dân, bám sát thực tiễn, nói đi đôi với làm; phát huy tinh thần đoàn kết, trách nhiệm của tập thể và từng cá nhân, nhất là ng ười đứng đầu; tăng cường đối thoại trực tiếp giữa các đồng chí l ãnh đạo chủ chốt các cấp với nhân dân, lắng nghe ý kiến đóng góp, giải quyết những bức xúc của nhân dân; tập trung giải quyết tốt những vấn đề bức xúc, nổi cộm ở cơ sở, củng cố niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, Nhà n ước.

Nguyên tắc xây đi đôi với chống. Cùng với việc xây dựng đạo đức mới, bồi dưỡng những phẩm chất tốt đẹp, nhất thiết phải chống những biểu hiện đạo đức sai trái, xấu xa, không phù hợp với những chuẩn mực của đạo đức mới. Xây đi đôi với chống, muốn xây phải chống, chống nhằm mục đích xây. Những năm qua Tỉnh ủy luôn quan tâm l ãnh đạo, chỉ đạo xây dựng, phát triển tổ chức đảng, đảng viên gắn với nâng cao chất l ượng. Từ năm 2008 đến năm 2019 Tỉnh ủy đ ã ban hành 10 đề án, nghị quyết, kế hoạch về công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở; đặc biệt trong đó có hai đề án về nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất l ượng đội ngũ cán bộ, đảng viên ở cơ quan, đơn vị sự nghiệp và x ã, ph ường, thị trấn, giai đoạn 2011-2015. Song song với việc chú trọng phát triển tổ chức đảng, đảng viên, Tỉnh ủy cũng quan tâm l ãnh đạo việc sàng lọc đưa những đảng viên không còn đủ tư cách ra khỏi Đảng; năm 2019 xây dựng Kế hoạch số 195-KH/TU thực hiện Kết luận số 28-KL/TW, ngày 21/01/2019 của Ban Bí th ư về nâng cao chất lượng kết nạp đảng viên và rà soát, sàng lọc, đưa những đảng viên không c òn đủ tư cách ra khỏi Đảng. Thường xuyên kiểm tra, đôn đốc cấp ủy các cấp triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các nghị quyết, đề án, kế hoạch của Tỉnh ủy; năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng được nâng lên. Qua đánh giá xếp loại hằng năm trung bình từ năm 2015 đến năm 2019, tỷ lệ tổ chức đảng hoàn thành tốt nhiệm vụ đạt trên 48%, hoàn thành nhiệm vụ đạt 8%, không hoàn thành nhiệm vụ còn 1,8%; đảng viên được xếp loại hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiếm trên 12%, hoàn thành tốt nhiệm vụ trên 60%, hoàn thành nhiệm vụ trên 6% và không hoàn thành nhiệm vụ còn 0,65%.

Cùng với đó, công tác chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp được quan tâm. Thường xuyên xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Các khâu trong công tác cán bộ được thực hiện nghiêm túc, hiệu quả. Công tác đào tạo, bồi d ưỡng cán bộ được chú trọng cả về chuyên môn nghiệp vụ và l ý luận chính trị, kiến thức quản lý nhà n ước; gắn đào tạo, bồi dưỡng với quy hoạch, bố trí, sử dụng, quan tâm phát hiện, bồi dưỡng, trọng dụng nhân tài, tạo nguồn cán bộ l ãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là cán bộ nữ, cán bộ ng ười dân tộc thiểu số. Đồng thời, quan tâm l ãnh đạo xử lý nghiêm những cán bộ vi phạm kỷ luật, thiếu trách nhiệm, quan liêu, xa dân, tham ô, tham nhũng, trên tinh thần không có ngoại lệ, không có vùng cấm; chỉ đạo đưa thông tin những cán bộ, đảng viên vi phạm, bị xử lý kỷ luật trên các ph ương tiện thông tin đại chúng của địa phương nhằm răn đe, giáo dục cán bộ, đảng viên. Chất lượng đội ngũ cán bộ từng bước được nâng lên, phát huy tốt tinh thần trách nhiệm trong thực thi công vụ. Kết quả tỷ lệ đánh giá, xếp loại cán bộ, công chức b ình quân trong 5 năm 2015 đến năm 2019, có trên 90% hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên, trên 8% hoàn thành nhiệm vụ, chỉ còn 0,95% không hoàn thành nhiệm vụ.

Để xây và chống cần phát huy vai trò của d ư luận x ã hội, tạo ra phong trào quần chúng rộng rãi, biểu d ương cái tốt, phê phán cái xấu. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm để biểu dương người tốt, việc tốt; Người cho rằng “Một tấm gương sống c òn có giá trị h ơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Thấm nhuần tư tưởng đó, Tỉnh ủy luôn quan tâm l ãnh đạo thực hiện tốt việc phát hiện, nêu g ương, nhân rộng các điển h ình tiên tiến trên mọi mặt đời sống xã hội; phê phán nh ưng tập thể, cá nhân thực hiện không nghiêm, có những hành vi không tốt… Đặc biệt những năm gần đây thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ chính trị về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, Tỉnh ủy đ ã chỉ đạo các cấp ủy, tổ chức đảng tổ chức gặp mặt, biểu dương, khen thưởng đối với các tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến trong học tập và làm theo Bác vào dịp kỷ niệm ngày sinh của Bác (19/5) hằng năm. Thực tiễn từ năm 2011 đến năm 2019 đã có hàng trăm tập thể và hàng nghìn cá nhân được các cấp từ Trung ương đến cơ sở biểu dương, khen thưởng và được tuyên truyền nhân rộng trên các ph ương tiện thông tin đại chúng; Ban tuyên giáo Tỉnh ủy đ ã tổng hợp biên tập và phát hành 5 tập sách “Làm theo lời Bác”, tuyên truyền về những tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến trong học tập và làm theo t ư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, tạo sự lan tỏa sâu rộng trong toàn Đảng bộ và toàn x ã hội.

Nguyên tắc, phải tu d ưỡng đạo đức suốt đời. Theo Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng phải qua đấu tranh, rèn luyện bền bỉ mới thành. Người viết: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”. Cùng với việc tăng cường tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, đảng viên tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, Tỉnh ủy đ ã ban hành nhiều văn bản lãnh đạo, chỉ đạo, quy định, hướng dẫn đối với cán bộ, đảng viên về học tập lý luận chính trị, tu d ưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống. Nhất là trong thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW và Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị, đ ã chỉ đạo các cấp ủy đảng tổ chức, hướng dẫn cho cán bộ, đảng viên hằng năm đăng ký học tập và làm theo t ư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; xây dựng cam kết tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống; thường xuyên theo d õi, đánh giá việc thực hiện; lấy kết quả việc học tập và làm theo Bác làm một trong các tiêu chuẩn bình xét, đánh giá, phân loại tổ chức đảng, đảng viên cuối năm. Các cấp ủy, cơ quan, đơn vị quan tâm giáo dục, rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, phong cách, lề lối làm việc của cán bộ, đảng viên; phát động phong trào ”cán bộ, công chức, viên chức thi đua thực hiện văn hóa công sở”; đẩy mạnh công tác cải cách hành chính, tổ chức xin ý kiến của các tổ chức, cá nhân về sự hài lòng đối với sự phục vụ của các cơ quan nhà n ước. Phát huy tốt vai tr ò của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị – xã hội và Nhân dân trong giám sát việc tu d ưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của người đứng đầu, cán bộ chủ chốt và cán bộ, đảng viên.

Nhận thức được ý nghĩa, tầm quan trọng của việc nâng cao chất l ượng sinh hoạt chi bộ nhằm nâng cao vai tr ò lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng, giúp đảng viên nâng cao nhận thức chính trị t ư tưởng và thực hiện chức năng l ãnh đạo, giáo dục của chi bộ. Tỉnh ủy tập trung lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ; trong đó chú trọng việc nâng cao chất lượng tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt; phát huy tốt vai trò g ương mẫu, tự giác của người đứng đầu. Tinh thần đấu tranh tự phê và phê b ình có nhiều chuyển biến tích cực, đa số cán bộ, đảng viên đã mạnh dạn, thẳng thắn trong kiểm điểm tự phê bình và phê bình, dần khắc phục tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm trong đấu tranh tự phê bình và phê bình. Chỉ đạo xây dựng và thực hiện nghiêm túc kế hoạch khắc phục những hạn chế, khuyết điểm sau kiểm điểm hằng năm của cấp ủy, tập thể lãnh đạo và cá nhân đảng viên. Qua đó làm chuyển biến tích cực từ nhận thức đến hành động, nhiều cán bộ, đảng viên đã có những hành động thiết thực, tích cực hơn trong việc tu dưỡng, rèn luyện để hoàn thiện bản thân, thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ được giao, tạo được niềm tin trong quần chúng nhân dân.

Những kết quả trên đã góp phần quan trọng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ tỉnh, lãnh đạo nhân dân các dân tộc thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ chính trị đề ra. Đặc biệt, sau 15 năm chia tách, Lai Châu đã có những b ước phát triển toàn diện trên tất cả các lĩnh vực: Kinh tế tăng trưởng khá, năm 2019 đạt trên 7,5%; thu ngân sách địa phương đạt gần 2,2 ngh ìn tỷ đồng; tổng sản phẩm trên địa bàn bình quân đầu người đạt trên 36 triệu đồng, tăng 2 lần so với năm 2015; đến năm 2019 có 35 xã đạt chuẩn nông thôn mới; thành phố Lai Châu được công nhận hoàn thành xây dựng nông thôn mới. Sự nghiệp văn hóa, xã hội có b ước phát triển; tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 34,81% năm 2016 xuống c òn 20,12% năm 2019; các chính sách an sinh xã hội được thực hiện kịp thời; ưu tiên nguồn lực thực hiện các ch ương tr ình, dự án đầu tư kết cấu hạ tầng, phát triển kinh tế – xã hội vùng đặc biệt khó khăn. Thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân được xây dựng vững chắc; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo; quan hệ đối ngoại tiếp tục được duy trì và phát triển. Lai Châu từng b ước ra khỏi t ình trạng đặc biệt khó khăn và tình trạng kém phát triển, đang từng bước phát triển nhanh, toàn diện và bền vững.

Trong giai đoạn phát triển tới của tỉnh đang đặt ra những nhiệm vụ mới được dự báo có nhiều thuận lợi nhưng cũng không ít khó khăn thách thức, đòi hỏi Đảng bộ tỉnh cần tiếp tục nâng cao hơn nữa năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng bộ. Trong đó công tác xây dựng Đảng bộ vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức cần phải tiếp tục được quan tâm thực hiện đồng bộ, quyết tâm, quyết liệt hơn nữa. Đặc biệt hiện nay Tỉnh ủy, các cấp ủy đảng đang tập trung lãnh đạo, chỉ đạo chuẩn bị và tổ chức đại hội Đảng bộ các cấp, đây là dịp để cấp ủy các cấp tổng kết đánh giá sâu công tác xây dựng Đảng nhiệm kỳ qua và định hướng công tác xây dựng Đảng trong nhiệm kỳ tiếp theo, với những mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp cụ thể, thiết thực, hiệu quả h ơn./.

Sở Tư Pháp Thành Phố Hồ Chí Minh

Lịch trực tại Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước chúng tôi (Từ ngày 16-8 đến ngày 20-8)

Sáng: Từ 7 giờ 30 đến 11 giờ 30; Chiều: Từ 13 giờ đến 17 giờ * Địa điểm: Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước, 470 Nguyễn Tri Phương, Phường 9, Quận 10, chúng tôi Thứ Hai, 16-8: …

Lịch trực tại Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước chúng tôi (Từ ngày 02-8 đến ngày 06-8)

Sáng: Từ 7 giờ 30 đến 11 giờ 30; Chiều: Từ 13 giờ đến 17 giờ * Địa điểm: Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước, 470 Nguyễn Tri Phương, Phường 9, Quận 10, chúng tôi Thứ Hai, 26 …

Lịch trực tại Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước chúng tôi (Từ ngày 26-7 đến ngày 30-7)

Sáng: Từ 7 giờ 30 đến 11 giờ 30; Chiều: Từ 13 giờ đến 17 giờ * Địa điểm: Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước, 470 Nguyễn Tri Phương, Phường 9, Quận 10, chúng tôi Thứ Hai, 26 …

Lịch trực tại Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước chúng tôi (Từ ngày 19-7 đến ngày 23-7)

Sáng: Từ 7 giờ 30 đến 11 giờ 30; Chiều: Từ 13 giờ đến 17 giờ * Địa điểm: Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước, 470 Nguyễn Tri Phương, Phường 9, Quận 10, chúng tôi Thứ Hai, 19-7: …

Lịch tư vấn pháp luật của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước chúng tôi (Từ ngày 12-7 đến ngày 16-7)

Sáng: Từ 7 giờ 30 đến 11 giờ 30; Chiều: Từ 13 giờ đến 17 giờ * Địa điểm: Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước, 470 Nguyễn Tri Phương, Phường 9, Quận 10, chúng tôi Thứ Hai, 12-7: …

Lịch tư vấn pháp luật của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước chúng tôi (Từ ngày 05-7 đến ngày 09-7)

Sáng: Từ 7 giờ 30 đến 11 giờ 30; Chiều: Từ 13 giờ đến 17 giờ * Địa điểm: Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước, 470 Nguyễn Tri Phương, Phường 9, Quận 10, chúng tôi Thứ Hai, 05-7: …

Lịch tư vấn pháp luật của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước chúng tôi (Từ ngày 28-6 đến ngày 02-7)

Sáng: Từ 7 giờ 30 đến 11 giờ 30; Chiều: Từ 13 giờ đến 17 giờ * Địa điểm: Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước, 470 Nguyễn Tri Phương, Phường 9, Quận 10, chúng tôi Thứ Hai, 28-6: …

Lịch tư vấn pháp luật của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước chúng tôi (Từ ngày 21-6 đến ngày 25-6)

Sáng: Từ 7 giờ 30 đến 11 giờ 30; Chiều: Từ 13 giờ đến 17 giờ * Địa điểm: Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước, 470 Nguyễn Tri Phương, Phường 9, Quận 10, chúng tôi Thứ Hai, 21-6: …

Lịch tư vấn pháp luật của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước chúng tôi (Từ ngày 14-6 đến ngày 18-6)

Sáng: Từ 7 giờ 30 đến 11 giờ 30; Chiều: Từ 13 giờ đến 17 giờ * Địa điểm: Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước, 470 Nguyễn Tri Phương, Phường 9, Quận 10, chúng tôi Thứ Hai, 14-6: …

Lịch tư vấn pháp luật của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước chúng tôi (Từ ngày 07-6 đến ngày 11-6)

Sáng: Từ 7 giờ 30 đến 11 giờ 30; Chiều: Từ 13 giờ đến 17 giờ * Địa điểm: Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước, 470 Nguyễn Tri Phương, Phường 9, Quận 10, chúng tôi Thứ Hai, 7-6: …

Hiển thị 1 – 10 of 192 kết quả.

10

Các trang trên cổng

(Thay đổi giá trị của trường này sẽ làm trang được tải lại.)

Thực Trạng Công Tác Cán Bộ Và Nhiệm Vụ, Giải Pháp Xây Dựng Đội Ngũ Cán Bộ Theo Tư Tưởng Hồ Chí Minh

Thực trạng công tác cán bộ và nhiệm vụ, giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết số 03-NQ/TW ngày 18/6/1997 và Kết luận số 37-KL/TW ngày 02/02/2009 của Ban Chấp hành Trung ương về thực hiện “Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2020” cho thấy đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức ở nước ta đã có những bước phát triển cả về số lượng và chất lượng. Tuy nhiên, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đông nhưng chưa mạnh, cơ cấu chưa hợp lý, một bộ phận có biểu hiện thóai hóa, biến chất, tham nhũng… gây bức xúc trong nhân dân. Bài viết nêu lên thực trạng công tác cán bộ và giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ theo tư tưởng Hồ Chí Minh và Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 của Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XII.

Bác Hồ với các Anh hùng, chiến sĩ thi đua miền Nam (1965)

1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đội ngũ cán bộ

Chỉ một ngày sau khi đọc Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói đến nhiệm vụ cấp bách là giáo dục lại nhân dân, làm cho dân tộc Việt Nam trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập. Người đã đề nghị mở một chiến dịch giáo dục lại nhân dân bằng cách thực hiện cần, kiệm, liêm, chính. Trong Thư gửi các đồng chí tỉnh nhà (ngày 17/9/1945), Người viết: “Cán bộ ta nhiều người “cúc cung tận tụy”, hết sức trung thành với nhiệm vụ, với Chính phủ, với quốc dân. Nhưng cũng có người hủ hóa, lên mặt làm quan cách mạng, hoặc là độc hành độc đoán, hoặc là dĩ công dinh tư (lấy của chung làm của riêng). Thậm chí dùng phép công để báo thù tư, làm cho dân oán đến Chính phủ và Đoàn thể”(1). Tiếp đó, ngày 19/9/1945, Người viết bài “Chính phủ là công bộc của dân” với yêu cầu: “Các công việc của Chính phủ làm phải nhằm vào một mục đích duy nhất là mưu tự do hạnh phúc cho mọi người. Cho nên Chính phủ nhân dân bao giờ cũng phải đặt quyền lợi dân lên trên hết thảy. Việc gì có lợi cho dân thì phải làm. Việc gì có hại cho dân thì phải tránh” (2).

Ngày 20/5/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 76/SL ban hành Quy chế công chức Việt Nam. Trong Lời nói đầu của Quy chế công chức Việt Nam viết: “Công chức Việt Nam là những công dân Việt Nam giữ một nhiệm vụ trong bộ máy nhà nước của chính quyền nhân dân… Công chức Việt Nam phải đem tất cả sức lực và tâm trí, theo đúng đường lối của Chính phủ và nhằm lợi ích của nhân dân mà làm việc”. Điều 2 của Quy chế công chức Việt Nam quy định: “Công chức Việt Nam phải phục vụ nhân dân, trung thành với Chính phủ, tôn trọng kỷ luật, có tinh thần trách nhiệm và tránh làm những việc có hại đến thanh danh công chức hay đến sự hoạt động của bộ máy nhà nước. Công chức Việt Nam phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”.

Thống kê trong 15 tập của bộ “Hồ Chí Minh toàn tập” cho thấy, Chủ tịch Hồ Chủ tịch nhắc tới Đảng hơn 3.500 lần, nhưng gần 8.000 lần Người nhắc tới Dân, yêu cầu mỗi cán bộ, công chức, viên chức phải “theo đúng đường lối nhân dân” với sáu điều:

“Đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết;

Liên hệ chặt chẽ với nhân dân;

Việc gì cũng bàn với nhân dân, giải thích cho nhân dân hiểu rõ;

Có khuyết điểm thì thật thà tự phê bình trước nhân dân, và hoan nghênh nhân dân phê bình mình;

Sẵn sàng học hỏi nhân dân;

Tự mình làm gương mẫu cần, kiệm, liêm, chính, để nhân dân noi theo”(3).

2. Thực trạng công tác cán bộ

Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa VIII đã ban hành Nghị quyết số 03-NQ/TW ngày 18/6/1997 về “Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. Sau 10 năm thực hiện Nghị quyết, Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa X đã tổng kết và ban hành Kết luận số 37-KL/TW ngày 02/02/2009 về “Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2020”.

Tính đến tháng 3/2017, tổng số cán bộ, công chức, viên chức ở nước ta là 2.726.917 người, trong đó: Cán bộ, công chức là 611.069 người; viên chức là 1.983.981 người; hợp đồng theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP là 131.867 người(4).

Trình độ lý luận chính trị(5), chuyên môn, nghiệp vụ, tin học, ngoại ngữ,… và năng lực, kinh nghiệm thực tiễn của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có nhiều tiến bộ, cơ bản bảo đảm tiêu chuẩn, điều kiện theo Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 3 Khóa VIII. Số cán bộ có trình độ sau đại học tăng lên rõ rệt, riêng trong 5 năm từ 2009 đến 2014, số người có trình độ đại học và trên đại học tăng gần 2 lần, từ 4,4% lên 7,3%(6). Số lượng cán bộ được quy hoạch khá dồi dào, bảo đảm sự chuyển tiếp giữa các thế hệ. Qua mỗi kỳ Đại hội Đảng, cấp ủy các cấp đổi mới khoảng 40%; Ban Chấp hành Trung ương đổi mới cao hơn (Khóa IX là 42%, Khóa X là 54,7%, Khóa XI 47%, Khóa XII là 48%).

Nhìn chung, đa số cán bộ, công chức, viên chức có lập trường tư tưởng vững vàng, đạo đức trong sáng, lối sống giản dị, gương mẫu, có ý thức rèn luyện, phấn đấu, hòan thành tốt nhiệm vụ được giao, năng động, sáng tạo, thích ứng nhanh với xu thế hội nhập, có khả năng làm việc trong môi trường quốc tế.

Đa số cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước ở các cấp có năng lực, phẩm chất, uy tín, nhất là cán bộ cấp chiến lược(7) có tư duy đổi mới, có năng lực hoạch định đường lối, chính sách và lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện. Hầu hết cán bộ lãnh đạo lực lượng vũ trang được rèn luyện thử thách qua thực tiễn, trung thành với Đảng, sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc. Nhiều cán bộ khoa học tâm huyết, say mê nghiên cứu, có nhiều đóng góp tích cực cho đất nước(8). Một số lãnh đạo, quản lý doanh nghiệp nhà nước thích ứng nhanh với cơ chế thị trường, tổ chức sản xuất kinh doanh có hiệu quả, đóng góp vào sự phát triển kinh tế của đất nước những năm qua(9).

Tuy nhiên, đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị đông nhưng chưa mạnh(10). Cơ cấu giữa các ngành nghề, lĩnh vực(11), vùng miền chưa thật sự hợp lý; tình trạng vừa thừa, vừa thiếu cán bộ còn xảy ra ở nhiều nơi; thiếu sự liên thông giữa các cấp, các ngành(12); tỷ lệ cán bộ trẻ(13), cán bộ nữ(14), cán bộ dân tộc thiểu số(15) chưa đạt mục tiêu đề ra. Độ tuổi bình quân của cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở một số ban, bộ, ngành, địa phương và trong lực lượng vũ trang còn cao(16). Số lượng sĩ quan, kể cả cấp tướng trong lực lượng vũ trang tăng nhanh(17). Thiếu những cán bộ lãnh đạo, quản lý, quản trị giỏi, nhà khoa học và chuyên gia đầu ngành trên một số lĩnh vực, tỷ lệ cán bộ nghiên cứu khoa học trên tổng dân số còn thấp(18), tình trạng chạy theo bằng cấp, học hàm, học vị còn nhiều; các công trình khoa học, dự án đóng góp vào sự phát triển đất nước chưa xứng với học hàm, học vị. Năng lực của đội ngũ cán bộ chưa đồng đều, có mặt còn hạn chế; một bộ phận cán bộ thiếu tính chuyên nghiệp, làm việc không đúng chuyên môn, sở trường; trình độ ngoại ngữ và kỹ năng giao tiếp, làm việc trong môi trường quốc tế còn yếu; chưa phát huy tốt tiềm năng cán bộ; năng suất lao động, hiệu quả làm việc thấp(19); không ít cán bộ trẻ còn thiếu bản lĩnh, ngại rèn luyện. Một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý, trong đó có cả cán bộ cấp chiến lược uy tín thấp, năng lực, phẩm chất chưa ngang tầm nhiệm vụ, không ít cán bộ vi phạm kỷ luật Đảng(20) và bị xử lý theo pháp luật.

Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí; thiếu tu dưỡng, rèn luyện, thóai hóa, biến chất, không làm tròn bổn phận trước Đảng, trước nhân dân. Một số cán bộ lãnh đạo, quản lý chưa gương mẫu thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; thiếu tinh thần trách nhiệm, vô cảm trước những khó khăn của người dân, cục bộ địa phương.

Tình trạng cán bộ, đảng viên thóai hóa, biến chất, tham nhũng, tiêu cực… còn diễn biến phức tạp, chậm được khắc phục; một số tính đảng kém, bộc lộ tham vọng cá nhân, kèn cựa địa vị, gia trưởng, độc đoán, thiếu ý thức tổ chức kỷ luật, chối bỏ trách nhiệm khi xảy ra sai phạm, không muốn từ chức khi không hòan thành nhiệm vụ được giao; tùy tiện, bất chấp nguyên tắc tổ chức sinh hoạt đảng; dao động, mất lòng tin, sa vào chủ nghĩa cá nhân, mê tín, dị đoan; có biểu hiện suy thóai về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Một số cán bộ lãnh đạo, quản lý thiếu gương mẫu, gia trưởng, quan liêu, xa dân, chưa thật sự gắn bó máu thịt, mật thiết với nhân dân; tham nhũng, lãng phí(21), tiêu cực(22), lợi ích nhóm. Không ít cán bộ quản lý doanh nghiệp nhà nước tính Đảng yếu, suy thóai, lợi dụng sơ hở, cố ý làm trái làm thất thóat vốn, tài sản của Nhà nước, gây hậu quả nghiêm trọng(23). Tình trạng chạy chức, chạy quyền(24), chạy quy hoạch, chạy luân chuyển, chạy tội… còn xảy ra khá phổ biến ở các cấp, các ngành, nhưng chậm được ngăn chặn và đẩy lùi(25), gây bức xúc trong dư luận xã hội(26).

Nạn ô dù, bao che, sự phân hóa giàu – nghèo bất hợp lý diễn ra ngay trong đội ngũ cán bộ, đảng viên; ở không ít nơi lợi ích cá nhân lấn át lợi ích tập thể, lợi ích cục bộ lấn át lợi ích toàn cục; tham nhũng, lãng phí, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để thu vén cá nhân(27); để vợ (chồng), con, người thân trục lợi. Một số vụ tham nhũng, buôn lậu, tiếp tay cho làm ăn phi pháp phát triển thành những “đường dây” có tổ chức. Cá biệt có trường hợp do bất mãn dẫn đến phản bội lý tưởng của Đảng và lợi ích của nhân dân. Số thóai hóa chính trị tuy ít nhưng hoạt động của họ gây hậu quả xấu.

Nhiệm vụ, giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ trong thời gian tới

Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XII đã thông qua Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Nghị quyết đã xác định rõ 5 quan điểm chỉ đạo:

Một là, cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng; công tác cán bộ là khâu “then chốt” của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, là công việc hệ trọng của Đảng, phải được tiến hành thường xuyên, thận trọng, khoa học, chặt chẽ và hiệu quả. Đầu tư xây dựng đội ngũ cán bộ là đầu tư cho phát triển lâu dài, bền vững.

Hai là, thực hiện nghiêm, nhất quán nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo trực tiếp, toàn diện công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị. Chuẩn hóa, siết chặt kỷ luật, kỷ cương đi đôi với xây dựng thể chế, tạo môi trường, điều kiện để thúc đẩy đổi mới, phát huy sáng tạo và bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung. Phân công, phân cấp gắn với giao quyền, ràng buộc trách nhiệm, đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực và xử lý nghiêm minh sai phạm.

Ba là, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan, thường xuyên đổi mới công tác cán bộ phù hợp với tình hình thực tiễn. Xây dựng đội ngũ cán bộ phải xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ mới; thông qua hoạt động thực tiễn và phong trào cách mạng của nhân dân; đặt trong tổng thể của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; gắn với đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, kiện toàn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao, thu hút, trọng dụng nhân tài.

Bốn là, quán triệt nguyên tắc về quan hệ giữa đường lối chính trị và đường lối cán bộ; quan điểm giai cấp và chính sách đại đoàn kết rộng rãi trong công tác cán bộ. Xử lý hài hòa, hợp lý mối quan hệ giữa tiêu chuẩn và cơ cấu, trong đó tiêu chuẩn là chính; giữa xây và chống, trong đó xây là nhiệm vụ chiến lược, cơ bản, lâu dài, chống là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên; giữa đức và tài, trong đó đức là gốc; giữa tính phổ biến và đặc thù; giữa kế thừa, đổi mới và ổn định, phát triển; giữa thẩm quyền, trách nhiệm cá nhân và tập thể.

Năm là, xây dựng đội ngũ cán bộ là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, trực tiếp là của các cấp ủy, tổ chức đảng mà trước hết là người đứng đầu và cơ quan tham mưu của Đảng, trong đó cơ quan tổ chức, cán bộ là nòng cốt. Phát huy mạnh mẽ vai trò của Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội và cơ quan truyền thông, báo chí trong công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó máu thịt với nhân dân; phải thực sự dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ.

Nghị quyết xác định 7 nhóm nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ ở nước ta thời gian tới, cụ thể: Một là, nâng cao nhận thức, tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên. Hai là, tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác cán bộ. Ba là, xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp có phẩm chất, năng lực, uy tín, đáp ứng yêu cầu trong thời kỳ mới. Bốn là, tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược ngang tầm nhiệm vụ. Năm là, kiểm soát chặt chẽ quyền lực trong công tác cán bộ; chống chạy chức, chạy quyền. Sáu là, phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng đội ngũ cán bộ. Bảy là, nâng cao chất lượng công tác tham mưu, coi trọng tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận về công tác tổ chức, cán bộ.

Nghị quyết cũng xác định hai trọng tâm để tập trung thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp nêu trên là: 1) Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, toàn diện, đồng bộ, hiệu quả công tác cán bộ; chuẩn hóa, siết chặt kỷ luật, kỷ cương đi đôi với tạo môi trường, điều kiện để thúc đẩy đổi mới, sáng tạo phục vụ phát triển và có cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; 2) Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược và bí thư cấp ủy, người đứng đầu các cấp đi đôi với phân cấp, phân quyền nhằm phát huy tính chủ động, sáng tạo, đồng thời, tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát chặt chẽ quyền lực.

Nghị quyết cũng chỉ ra 5 đột phá để tập trung thực hiện: 1) Đổi mới công tác đánh giá cán bộ theo hướng: Xuyên suốt, liên tục, đa chiều, theo tiêu chí, bằng sản phẩm, thông qua khảo sát, công khai kết quả và so sánh với chức danh tương đương; 2) Kiểm soát chặt chẽ quyền lực, sàng lọc kỹ càng, thay thế kịp thời; chấm dứt tình trạng chạy chức, chạy quyền; 3) Thực hiện nhất quán chủ trương bố trí bí thư cấp ủy cấp tỉnh, cấp huyện không là người địa phương ở những nơi đủ điều kiện; 4) Cải cách chính sách tiền lương và nhà ở để tạo động lực cho cán bộ phấn đấu, toàn tâm, toàn ý với công việc; có cơ chế, chính sách để tạo cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh và thu hút, trọng dụng nhân tài; 5) Hòan thiện cơ chế để cán bộ, đảng viên thật sự gắn bó mật thiết với nhân dân và phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng đội ngũ cán bộ.

Quyết tâm triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 về “tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ” chính là việc hiện thực hóa ý chí, quyết tâm và hành động học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh vì một đất nước Việt Nam giàu đẹp, dân chủ, công bằng, văn minh./.

PGS, TS. Nguyễn Thị Phương HoaVụ trưởng Vụ Lý luận chính trị, Ban Tuyên giáo Trung ươngTheo http://tcnn.vnHà Minh (st)

Ghi chú:

(1), (2) Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 4, Nxb CTQG-ST, H.2011, tr.20, tr.21.

(3) Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 7, Sđd, tr.177.  

(4) Tính đến tháng 3/2017, tổng số người hưởng lương, phụ cấp từ ngân sách nhà nước là 3.958.400 người (chưa tính lực lượng vũ trang), trong đó: cán bộ, công chức 611.069 người; viên chức 1.983.981 người; hợp đồng theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP 131.867 người và 1.231.483 người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, thôn, tổ dân phố và hợp đồng khác.

(5) Đội ngũ cán bộ diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý ở các cơ quan Trung ương có trình độ lý luận cao cấp, cử nhân: năm 1997 là 97,64%; 2007 là 99,48% và 2017 là 100%.

(6) Theo báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

(7) Cán bộ cấp chiến lược trong Đề án này có 585 đồng chí thuộc diện Trung ương quản lý.

(8) Công bố quốc tế của Việt Nam 15 năm qua tăng bình quân khoảng 17%/năm; hiện đứng thứ 4 trong khu vực (sau Singapore, Malaysia và Thái Lan), xếp hạng một số lĩnh vực nghiên cứu cơ bản của Việt Nam: Toán học: đứng thứ hai trong khối ASEAN; vật lý lý thuyết: Đứng thứ ba trong khối ASEAN; toán tối ưu: Đứng thứ 19 thế giới và đứng đầu khu vực ASEAN (Sách Trắng Khoa học công nghệ 2015).

(9) Cán bộ cấp chiến lược: Chuyên ngành kinh tế, luật chiếm 60,49%; trong khi đó, ngành khoa học – công nghệ và hợp tác quốc tế là 16,56%; xây dựng đảng và chính quyền nhà nước là 8,36% (Biểu phụ lục số 2, số 9).

(10) Giữa cán bộ cấp xã với các cấp, giữa cán bộ Đảng, đoàn thể với cán bộ Nhà nước, giữa khu vực doanh nghiệp nhà nước với khu vực hành chính nhà nước,…

(11) Tỷ lệ cán bộ cấp chiến lược dưới 45 tuổi chiếm 7,18%; tỷ lệ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh diện ban thường vụ quản lý dưới 40 tuổi là 1,81%, diện ban chấp hành quản lý là 7,85% (Biểu phụ lục số 10).

(12) Cán bộ lãnh đạo, quản lý là nữ từ cấp vụ trở lên ở Trung ương chiếm 17,54%; cấp tỉnh chiếm 12,28%, cấp huyện chiếm 9,98%, cấp xã chiếm 10,37% (Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị quy định là 25%).

(13) Cán bộ, công chức, viên chức là người dân tộc thiểu số ở Trung ương khoảng 5%, cấp tỉnh là 14,7%; trong đó cán bộ lãnh đạo ở Trung ương chỉ có 1,42%, ở cấp tỉnh chỉ có 7,35%. Cán bộ người dân tộc diện Trung uơng quản lý công tác ở địa phương có xu hướng giảm (nhiệm kỳ 2010-2015: 33%; 2015-2020: 27%).

(14) Cán bộ diện Trung ương quản lý ở ban, bộ, ngành từ 56 tuổi trở lên chiếm 56,86%; diện Ban thường vụ cấp tỉnh quản lý từ 51-55 tuổi chiếm 44,54%, từ 56 tuổi trở lên chiếm 23,22%; cấp tổng cục từ 51-55 tuổi là 46,83%, từ 56 tuổi trở lên là 32,78%.

(15) Theo Tổng cục Thống kê, năm 2016, năng suất lao động của Việt Nam tính theo thu nhập đầu người chỉ bằng 7% của Singapore, 17,6% của Malaysia, 36,5% của Thái Lan, 42,3% của Indonesia, 56,7% của Phillipines, 87,4% của Lào.

(16) Việc đầu tư gần 70.000 tỷ đồng sau nhiều năm cho 13 “đại dự án” chưa thể đưa vào khai thác, gây lãng phí, thất thóat lớn tài sản của Nhà nước.

(17) Xảy ra ở một số ngành như ngân hàng, dầu khí, kiểm lâm, thuế, hải quan, công an… gây bức xúc trong dư luận.

(18) Từ 2007 đến 2017, trong các tập đoàn, tổng công ty trực thuộc đã phát hiện 7.190 vụ vi phạm, trong đó: 280 vụ phải xử lý hình sự, 1.715 cán bộ, đảng viên bị xử lý kỷ luật Đảng, 181 người phải xử lý bằng pháp luật (Báo cáo của Đảng ủy khối Doanh nghiệp Trung ương).

(19) Điều tra dư luận năm 2017: 57% cho rằng hiện tượng chạy chức, chạy quyền, chạy danh hiệu, chạy bằng cấp không giảm so với năm 2016.

(20) Báo cáo tổng kết thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 4 khóa XI trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng.

(21) Theo báo cáo kết quả thăm dò dư luận xã hội năm 2017, tình trạng chạy chức, chạy quyền xếp thứ 2 trong 9 vấn nạn mà nhân dân bức xúc trong năm 2017 (sau nạn tham nhũng, lãng phí, lợi ích nhóm).

(22) Theo Báo cáo điều tra dư luận xã hội của Viện Nghiên cứu dư luận xã hội – Ban Tuyên giáo Trung ương (số 01-BCĐT/VNCDLXH, ngày 01/3/2018) cho thấy: 38% người được hỏi cho rằng có hiện tượng đặt lợi ích cá nhân lên trên lợi ích tập thể, đặc quyền, đặc lợi, vun vén cá nhân.

Cập nhật thông tin chi tiết về Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Nhà Nước Và Pháp Luật trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!