Xu Hướng 1/2023 # Vài Nét Về Tùy Bút “Sông Đà” Và Tác Phẩm “Người Lái Đò Sông Đà” # Top 8 View | Bac.edu.vn

Xu Hướng 1/2023 # Vài Nét Về Tùy Bút “Sông Đà” Và Tác Phẩm “Người Lái Đò Sông Đà” # Top 8 View

Bạn đang xem bài viết Vài Nét Về Tùy Bút “Sông Đà” Và Tác Phẩm “Người Lái Đò Sông Đà” được cập nhật mới nhất trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Văn bản này được viết theo thể tùy bút. Đặc điểm của thể tùy bút là tính chủ quan, trình bày tự do, phúng túng, biến hóa linh hoạt, giàu hình ảnh, nhạc điệu, từ ngữ phong phú, nhiều cách so sánh liên tưởng. Qua các tùy bút Nguyễn Tuân nói chuyện với người đọc không chỉ bằng một trái tim nghệ sỹ mà còn bằng một trí tuệ uyên bác, một học vấn sâu rộng, lịch lãm về nhiều lĩnh vực, bằng tác phong của một nhà nghiên cứu, điều tra tỉ mỉ vấn đề.

Vài nét về tùy bút “Sông Đà”:

– Tùy bút ‘sông Đà’ là thành quả nghệ thuật đẹp đẽ mà Nguyễn Tuân thu hoạch được trong chuyến đi gian khổ mà đầy hứng khởi. Không chỉ thỏa mãn niềm đam mê xê dịch, khám phá những miền đất lạ, đến với Tây Bắc, Nguyễn Tuân còn khao khát đi tìm kiến “chất vàng mười” của thiên nhiên và “thứ vàng mười đã qua thử lửa”, tâm hồn của những con người lao động mà chiến đấu trên miền núi sông hùng vĩ và thơ mộng

– Gồm 15 bài tùy bút và một bài thơ phác thảo, xuất bản vào năm 1960 phản ánh thiên nhiên và thực tế cuộc sống sinh hoạt của con người Tây Bắc trên bước đường tiến lên xây dựng xã hội chủ nghĩa: Phong cảnh Tây Bắc vừa uy nghiêm hùng vĩ, vừa thơ mộng trữ tình. Con người Tây Bắc dũng cảm, lao động cần cù

– Thể hiện tâm hồn, tài năng độc đáo của Nguyễn Tuân, cho thấy sự đổi thay trong phong cách nghệ thuật của nhà văn:

+ Trước cách mạng: ông dùng vốn kiến thức ấy để chơi ngông với đời, để khoe tài, để thể hiện bản lĩnh của mình và ông tìm đến những vẻ đẹp xưa vẫn còn vang bóng, thấy cái đẹp trong những con người kiệt xuất.

+ Sau cách mạng: ông dùng nó để ca ngợi Tổ Quốc, ca ngợi nhân dân, ca ngợi thời đại mới. Ông tìm thấy cái đẹp ở hiện tại, trong cuộc sống và chiến đấu, thấy cái đẹp trong quần chúng nhân dân – những con người bình dị. Chúng ta sẽ thấy rõ sự thay đổi đó của Nguyễn Tuân trong tập tùy bút Sông Đà nói chung và Người lái đò Sông Đà nói riêng.

Tác phẩm “Người lái đò sông Đà”:

Nếu như trước cách mạng Nguyễn Tuân khao khát đi đây đi đó mà ông gọi là chủ nghĩa xê dịch để phần nào vơi bớt cảm giác thiếu quê hương thì sau cách mạng trong chuyến đi thực tế Tây Bắc không chỉ để thỏa niềm khát khao xê dịch mà chủ yếu để tìm kiếm chất vàng của thiên nhiên cùng thứ vàng đã qua thử lửa trong tâm hồn con người Tây Bắc. Tập tùy bút Sông Đà gồm 15 tùy bút và một bài thơ phác thảo. Trong đó Người lái đò Sông Đà là một trong những tùy bút đặc sắc.

– Tác phẩm đã giới thiệu, khẳng định, ngợi ca vẻ đẹp của thiên nhiên và con người lao động ở

miền Tây Bắc của Tổ quốc; thể hiện tình yêu mến, sự gắn bó thiết tha của Nguyễn Tuân đối với đất nước và con người Việt Nam.

– Những ví von, so sánh, liên tưởng, tưởng tượng độc đáo, bất ngờ và rất thú vị;

– Ngôn ngữ giàu chất tạo hình, phong phú, sống động, giàu hình ảnh và có sức gợi cảm cao;

– Câu văn đa dạng, nhiều tầng, giàu nhịp điệu, lúc thì hối hả, gân guốc, khi thì chậm rãi, trữ tình…

– Vận dụng tri thức của nhiều lĩnh vực khác nhau như điện ảnh, võ thuật, âm nhạc,…

Vài Nét Về Giải Thích Hiến Pháp Ở Hoa Kỳ

Vài nét về giải thích hiến pháp ở Hoa Kỳ

TS. NGUYỄN VĂN CƯƠNG

Phó Viện trưởng Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp)

Hiến pháp Hoa Kỳ là một trong những Hiến pháp kinh điển của thế giới. Điều khá thú vị là, kể từ khi được soạn vào năm 1787 (được phê chuẩn vào năm 1788 và chính thức có hiệu lực từ năm 1789), cho tới nay, bản Hiến pháp này mới được tu chính 27 lần

[1]

(trong đó có 10 tu chính án đầu tiên về các quyền tự do cơ bản của công dân Hoa Kỳ được đề xuất vào cùng 1 ngày là 25/9/1789)

[2]

. Hiến pháp Hoa Kỳ thực hiện chức năng cơ bản của Hiến pháp là đặt ra giới hạn quyền lực nhà nước cho các thiết chế hiến định (Quốc hội, Tổng thống và Tòa tối cao), cơ chế phân quyền giữa các thiết chế này, đồng thời ghi nhận những quyền con người, quyền công dân cơ bản ở Hoa Kỳ. Hiến pháp cũng đưa ra những giới hạn mà nhà nước có thể thực thi quyền lực trong khi vẫn tôn trọng, bảo đảm các quyền con người, quyền công dân cơ bản.

            Qua chặng đường gần 230 năm, với những bước ngoặt của lịch sử như cuộc nội chiến 1861-1865, chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918), cuộc khủng hoảng 1929-1932 dẫn tới việc chuyển đổi từ mô hình nền kinh tế thị trường tự do cạnh tranh chuyển sang nền kinh tế thị trường hỗn hợp có sự can thiệp trực tiếp, nhiều mặt của nhà nước, chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945) và nhiều sự kiện quan trọng khác, cũng có một số lần bản Hiến pháp buộc phải có sự tu chính. Tuy nhiên, có thể nói, số lần và lượng nội dung bị sửa đổi là khá khiêm tốn. Điều này bảo đảm cho tính ổn định của Hiến pháp. Hiến pháp Hoa Kỳ có lẽ là một trong những bản Hiến pháp hiện đại ít bị sửa đổi một cách căn bản nhất.

            Một trong những lý do làm cho bản Hiến pháp ít bị sửa đổi, trước hết, có lẽ là do chất lượng của bản Hiến pháp, nhưng còn một lý do quan trọng khác chính là: bằng việc sử dụng ngôn từ có tính khái quát cao, thông qua việc giải thích Hiến pháp, ngữ nghĩa của Hiến pháp đã được phát triển, thậm chí bổ sung để tương hợp với hoàn cảnh thực tế. Vì sự khó khăn trong việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp, trong khi dòng chảy của cuộc sống và lịch sử không bao giờ dừng lại, xã hội Hoa Kỳ đã tìm ra một cách xử lý “rất sáng tạo trong việc giải thích Hiến pháp”. Như đã biết, thiên chức của Hiến pháp Hoa Kỳ là để ràng buộc hành vi, nhất là ràng buộc hành vi của hành pháp và lập pháp. Nhưng làm sao để sự ràng buộc ấy không trở thành sự “trói tay” đối với hành pháp và lập pháp khi phải xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn cuộc sống? Thông qua hoạt động giải thích Hiến pháp, linh hồn của Hiến pháp sẽ được “gia cố” và “làm phong phú thêm”.

1. Thực tiễn giải thích Hiến pháp

            Có lẽ, hầu như vụ việc nào, khi tòa án ở Hoa Kỳ phải đặt vấn đề xem xét tính hợp hiến của một hành vi công quyền nhất định thì vấn đề tranh luận về cách hiểu quy định của Hiến pháp thế nào cho đúng khi áp dụng vào từng tranh chấp cụ thể, cũng được đặt ra.

            Ngay trong án lệ hiến pháp đầu tiên của Tòa Tối cao Hoa Kỳ (án lệ Marbury v. Madison, 5. U.S. 137 năm 1803), vấn đề giải thích Hiến pháp cũng đã được đặt ra. Đây là án lệ đầu tiên trong đó xác quyết một cách minh thị Tòa Tối cao (và các tòa cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm) có quyền xem xét tính hợp hiến của một đạo luật do Quốc hội ban hành. Mặc dù trong lời văn của Hiến pháp không có ngôn từ nào quy định rõ Tòa Tối cao (hoặc các tòa án khác ở Hoa Kỳ) có thẩm quyền này.

            Qua một số vụ việc vừa nêu, có thể thấy phần nào cách Tòa án Hoa Kỳ (nhất là Tòa Tối cao Hoa Kỳ) thực hiện việc giải thích hiến pháp. Theo các nhà nghiên cứu về hiến pháp ở Hoa Kỳ, có 02 trường phái giải thích Hiến pháp ở Hoa Kỳ. Trường phái “giải thích nguyên nghĩa gốc” (originalism) và “giải thích lệch nghĩa gốc” (non-originalism).

Trường phái “giải thích nguyên nghĩa gốc” đòi hỏi thẩm phán phải giải thích quy định của Hiến pháp theo đúng nghĩa mà khi ban hành Hiến pháp, các nhà thảo hiến đã nghĩ như vậy [10] . Điều này có nghĩa rằng, muốn hiểu đúng tinh thần của Hiến pháp, thẩm phán thường phải nghiên cứu các tài liệu trong quá trình thảo hiến, khảo cứu lịch sử để tìm ra ý nghĩa đích thực. Chẳng hạn, những người theo trường phái này cho rằng, Hiến pháp Hoa Kỳ không cấm việc áp dụng án tử hình khi các quy định ban đầu của Hiến pháp được thông qua (năm 1789), cũng như khi 10 tu chính án đầu tiên về các quyền cơ bản của con người (năm 1791) cũng như khi Tu chính án số 14 được thông qua năm 1868 thì ngày hôm nay, Hiến pháp cũng vẫn tiếp tục cho phép áp dụng án tử hình. Những người theo trường phái này cho rằng, giải thích nguyên nghĩa gốc là phù hợp hơn với vai trò của thẩm phán trong xã hội dân chủ bởi lẽ thẩm phán chỉ làm nhiệm vụ “giải thích” Hiến pháp, luật, chứ không được “sáng tạo” ra quy định của Hiến pháp và quy định của luật. Trường phái này khá thịnh hành ở Hoa Kỳ cho tới trước cuộc khủng hoảng 1929-1932 và trường phái này lại thịnh hành trở lại từ những năm 1980 khi chủ nghĩa tự do thị trường (market liberalism) giành lại vị thế của mình trong xã hội.

            Trường phái “giải thích lệch nghĩa gốc” (non-originalism) cho phép thẩm phán có biên độ tự do nhất định trong việc giải thích quy định của Hiến pháp. Theo trường phái này, tuy về nguyên tắc, việc giải thích Hiến pháp nên tuân theo ý nghĩa ban đầu của Hiến pháp khi ban hành, nhưng với các tình huống thực tiễn mà quy định của Hiến pháp chưa lường tới hết, các thẩm phán được phép bám sát với xu thế xã hội đương đại, nhất là những giá trị căn bản của thời đại để tìm kiếm một sự giải thích Hiến pháp cho phù hợp. Các án lệ trong Brown v. Board of Education of Topeka (Ủy ban giáo dục Topeka) (1954) và Gideon v. Wainwright (1963) là những ví dụ trong đó trường phái giải thích lệch nghĩa được sử dụng.

            Có thể thấy, mỗi trường phái đều có ưu và nhược khác nhau. Trường phái giải thích nguyên nghĩa gốc góp phần giữ cho nội dung, tinh thần của Hiến pháp có tính nhất quán cao, nhưng qua thời gian, cũng có thể trở nên cứng nhắc. Trường phái này có vẻ mang hơi hướng của các giá trị truyền thống, cổ điển và có phần “bảo thủ”. Trường phái giải thích lệch nghĩa gốc góp phần làm cho lời văn của Hiến pháp bắt nhịp với hơi thở của thời đại nhưng phần nào đó cũng có thể mở dư địa cho sự “tùy tiện” của thẩm phán khi giải thích Hiến pháp.

*

Hiến pháp thành văn luôn là sản phẩm của một thời điểm lịch sử nhất định. Mặc dù khi ban hành, những nhà thảo hiến đã cố gắng hình dung để quy định trong hiến pháp tương thích với điều kiện của tương lai, ngõ hầu cung cấp cơ sở hiến định phù hợp xử lý các tình huống của thực tiễn cuộc sống, nhưng chuyện thực tiễn cuộc sống khác trước và đi khác với những gì các nhà thảo hiến đã hình dung cũng là điều không quá ngạc nhiên. Cuộc sống luôn ẩn chứa những điều làm cho tương lai luôn hàm chứa yếu tố bất ngờ. Để một bản hiến pháp “sống” được lâu, bảo đảm tính sáng tạo (trong khuôn khổ chấp nhận được) trong quá trình giải thích, vận dụng Hiến pháp cũng là một kinh nghiệm quý mà thực tiễn bảo hiến ở Hoa Kỳ có thể gợi mở./.

[1] Để tu chỉnh thành công, nói chung, Hiến pháp Hoa Kỳ đòi hỏi sự tu chỉnh ấy phải đạt được sự đồng thuận của cả Thượng viện và Hạ viện Hoa Kỳ (với tỷ lệ đồng ý là 2/3), cùng sự phê chuẩn của ít nhất 3/4 tổng số bang (hiện tại, ít nhất là phải có 38 bang trở lên phê chuẩn). Đây là những điều kiện rất khó vượt qua. Đến nay, Quốc hội Hoa Kỳ đã đề nghị tu chỉnh Hiến pháp tất cả 33 lần nhưng mới có 27 tu chỉnh được chấp thuận. Thời điểm các tu chính án được chấp thuận trong những thập niên gần đây cụ thể như sau: tu chính án số 19 (năm 1920, chính thức cho phép phụ nữ có quyền bầu cử); tu chính án số 20 (năm 1933, ấn định ngày bắt đầu nhiệm kỳ Quốc hội là 3/1); tu chính án số 21 (năm 1933); tu chính án số 22 (năm 1951, giới hạn mỗi người chỉ được làm tổng thống tối đa 2 nhiệm kỳ); tu chính án số 23 (năm 1961); tu chính án số 24 (năm 1964, không tước quyền bỏ phiếu vì nợ thuế); tu chính án số 25 (năm 1967, cho phép Phó Tổng thống được kế nhiệm Tổng thống khi Tổng thống không thể thực hiện nhiệm vụ của mình); tu chính án số 26 (năm 1971, quy định tuổi đi bầu cử chung của cả nước là 18); tu chính án số 27 (năm 1992).

 Lần tu chính án thành công gần đây nhất là ngày 7/5/1992.

equal protection of the laws”. (Không chính quyền bang nào được tước đoạt quyền được sống, quyền tự do và quyền tài sản của bất kỳ ai mà không tuân theo thủ tục pháp lý nghiêm ngặt; không ai bị từ chối bởi chính quyền các bang sự bảo vệ bình đẳng của pháp luật). Tu chính án này được ban hành năm 1868 (ngay sau nội chiến 1864-1868 ở Hoa Kỳ).[3] Trích điểm 1 trong Tu chính án số 14 “nor shall any State deprive any person of life, liberty, or property, without due process of law; nor deny to any person within its jurisdiction theof the laws”. (Không chính quyền bang nào được tước đoạt quyền được sống, quyền tự do và quyền tài sản của bất kỳ ai mà không tuân theo thủ tục pháp lý nghiêm ngặt; không ai bị từ chối bởi chính quyền các bang sự bảo vệ bình đẳng của pháp luật). Tu chính án này được ban hành năm 1868 (ngay sau nội chiến 1864-1868 ở Hoa Kỳ).Plessy v. Ferguson cho phép các trường công được phép phân tách học sinh da màu và học sinh da trắng.[4] Mặc dù trước đó 58 năm, vào năm 1896, chính Tòa Tối cao trong phán quyếtcho phép các trường công được phép phân tách học sinh da màu và học sinh da trắng.[5] Xem Trích điểm 1 trong Tu chính án số 14 vừa nêu.[6] Nguyên văn tiếng Anh “no state shall pass any law impairing the obligation of contracts” .Constitutional Law: Principles and Policies, 3rd ed. (New York: Aspen Publishers, 2006) at 605-614.[7] Erwin Chemerinsky,ed. (New York: Aspen Publishers, 2006) at 605-614.Constitutional Law: Cases in Context (New York: Wolters Kluwer, 2008) at 1289-1290.[8] Randy E. Barnett,(New York: Wolters Kluwer, 2008) at 1289-1290.Constitutional Law: Cases in Context (New York: Wolters Kluwer, 2008) at 1290-1336.[9] Randy E. Barnett,(New York: Wolters Kluwer, 2008) at 1290-1336.Constitutional Law: A Contemporary Approach (St. Paul, MN: Thomson Reuters, 2009) at 2009.[10] Gregory E. Maggs and Peter J. Smith,(St. Paul, MN: Thomson Reuters, 2009) at 2009.

Phân Tích Tùy Bút Người Lái Đò Sông Đà Của Nguyễn Tuân

Đề bài: Phân tích tùy bút Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân

Tác giả Nguyễn Tuân là một nhà văn nổi tiếng tên tuổi của nền văn học nước ta. Những tác phẩm của ông đều có phong cách vô cùng độc đáo được viết với những câu văn trau chuốt. Tác phẩm “Người lái đò sông Đà” được tác giả Nguyễn Tuân viết về những con người trong hoàn cảnh lao động bình thường nhưng có trái tim quả cảm anh dũng, làm chủ được thiên nhiên, làm chủ cuộc sống của mình.

Thông qua con mắt quan sát tài tình tinh tế của nhà văn Nguyễn Tuân hình ảnh con sông Đà hiện lên vô cùng hiểm trở, hùng vĩ. Nhà văn Nguyễn Tuân đã xây dựng con sông đà với một những nét bút vô cùng táo bạo, xen lẫn chút “ngông” của mình trong đó. Thể hiện được tài miêu tả, quan sát, thể được tính cách của con người mình trong từng câu chữ trong từng hình ảnh của bài tùy bút khiến cho người đọc vô cùng ấn tượng về con sông Đà nhiều chứng nhiều tật đó. Con sông Đà có lúc thì vô cùng hung dữ, tựa như một con sư tử hung ác, có khi lại dịu dàng e ấp như một người con gái hiền lành, dịu dàng với trái tim đa cảm. Bằng những nét vẽ độc đáo của mình nhà văn Nguyễn Tuân đã dẫn dụ người đọc tới với con sông Đà huyền bí với những nét vẽ xuất thần của mình. Con sông Đà có vẻ đẹp vô cùng hoang sơ hùng vĩ, vừa có chút hiểm trở, vừa thể hiện sự hung dữ ác liệt nguy hiểm của mình. Đôi lúc con sông đó cũng thể hiện sự hiền dịu nhẹ nhàng như một người thiếu nữ đang tương tư trong nắng chiều. Một vẻ đẹp có chút hoang sơ, liêu trai, vừa hung dữ, mạnh mẽ.

Tác giả Nguyễn Tuân miêu tả hình ảnh con sông Đà với những nét vẽ vô cùng độc đáo, đứng bên này sông quăng một hòn đá sang bên kia thì không có âm thanh vọng lại. Thông qua những lời văn của tác giả Nguyễn Tuân người đọc cảm nhận được sự tinh tế bậc thầy của nhà văn lão luyện này. Những lời văn của ông đưa người đọc tới một hình ảnh con sông với những dấu ấn khó phai. Nhà văn Nguyễn Tuân đã thổi tâm hồn cho từng con chữ của mình thể hiện một người nhạy bén sắc sảo, những câu văn có sức truyền tải cảm xúc một cách mãnh liệt, ghi dấu ấn mạnh mẽ trong lòng người đọc khiến cho người đọc khi đọc xong bài tùy bút cảm thấy như vừa ăn một món ngon, khoan khoái vô cùng. Nhưng dù con sông Đà có mạnh mẽ, quyết liệt hiểm ác tới như thế nào thì người lái đò vẫn luôn là người chiến thắng. Cuộc chiến đấu giữa người lái đò và con sông Đà thể hiện một cuộc chiến cân tài ngang sức nhưng bao giờ con người cũng là người làm chủ thiên nhiên làm chủ cuộc sống của mình.

Đọc bài tùy bút “Người lái đò sông Đà” người đọc cảm nhận thấy con sông Đà giống như một con quái vật hiểm ác, với những đức tính dữ dội. Nhưng dù trong tình huống nào thì người lái đò tựa như là một người lính thủy vô cùng dũng cảm mưu trí luôn vượt qua mọi sự nguy hiểm những khó khăn, hiểm trở mà con sông Đà bủa vây. Sông Đà cũng là một cảnh đẹp xuất thần tựa như một chốn thần tiên nơi dương gian làm say đắm lòng người. Khi đọc xong tác phẩm ta cảm thấy thêm yêu quê hương đất nước của mình.

Thông qua bài tùy bút “Người lái đò sông Đà” cho chúng ta cảm nhận được vẻ đẹp của những con người lao động thầm lặng, những con người làm việc trong thời bình nhưng họ cũng như những anh hùng trong cuộc sống và lao động của mình. Người lái đò tựa như những người chiến sĩ trên mặt trận hải quân luôn kiên cường dũng cảm sẵn sàng đối diện với những khó khăn thử thách. Dù trong tình huống nào họ cũng bình tĩnh để vượt qua những sóng gió thác ghềnh hoàn thành công việc của mình đưa con người vượt qua con sông Đà hiểm trở một cách an toàn. Sau khi đọc xong bài tùy bút người đọc cảm nhận thấy vẻ đẹp của con sông Đà vô cùng độc đáo, đọng lại trong trái tim người đọc những ấn tượng khó quên.

Bình Minh

Phân Tích Hình Tượng Sông Đà Trong Tùy Bút Người Lái Đò Sông Đà Của Nguyễn Tuân

Đề bài: Phân tích hình tượng sông Đà trong tùy bút Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân

Bài tùy bút “Người lái đò sông Đà” kể về hình ảnh một người lái đò giản dị, bình thường vô cùng anh dũng, có thể thấy hình tượng con sông Đà là một hình ảnh anh dũng hoang sơ, hùng vĩ. Thông qua tài quan sát tinh tế của nhà văn Nguyễn Tuân khi xây dựng hình ảnh con sông Đà với những nét vẽ vô cùng kỳ bí hùng vĩ và vô cùng nguy hiểm. Con sông Đà hiện lên với nhiều chứng bệnh có lúc thì gầm rú, như con trâu mộng, chốc chốc lại dịu dàng, hiền dịu… Con sông Đà thể với những nét vẽ vừa hung dữ nhiều thác ghềnh sóng gió. Con sông Đà chảy không theo một quy luật nào cả . Con sông Đà tựa như một con ngựa bất kham khó trị.

Sông Đà hiện lên vô cùng lạnh lùng, hiểm á c, nhiều hung dữ thác ghềnh, nhưng nhiều khi nó lại hiền hòa vô dịu hiền như người con gái đang tuổi xuân thì e ấp. Đúng 12 giờ trưa người ta mới có thể nhìn thấy hình ảnh ông mặt trời ở đây. Nhà văn Nguyễn Tuân đã khắc họa hình ảnh con sông Đà với những bờ sông, dựng thành vách bóp nghẹt với lòng sông . Khi chúng ta đứng từ dòng sông bên này ném sang bên kia sẽ không nghe thấy bất kỳ tiếng động nào vọng lại, cho chúng ta thấy con sông Đà hun hút và hiểm trở vô cùng.

Thông qua một vài chi tiết nho nhỏ nhưng nhà văn Nguyễn Tuân đã xây dựng hình ảnh con sông Đà với những nguy hiểm khó khăn rình rập người lái đò. Chỉ cần một chút bất cẩn sơ xảy là người lái đò có thể ảnh hưởng tới tính mạng của mình, con thuyền có thể bị dòng chảy lật úp. Khi nhà văn Nguyễn Tuân miêu tả tiếng nước của con sông Đà chảy người đọc như đắm chìm vào một thế giới hoang sơ, kỳ bí tiếng nước róc rách, như tiếng gầm thét của những con mãnh thú. Một bức tranh thiên nhiên vô cùng tươi đẹp làm đắm say lòng người. Tiếng thác nước nhiều lúc lại ai oán, giống như một người thiếu phụ chờ chồng đang than trách cuộc sống cô đơn, nhưng đôi khi lại điên cuồng, hoang dại khiến người ta rùng mình sợ hãi.

Tác giả Nguyễn Tuân đã gửi gắm linh hồn của mình để viết ra từng câu chữ vô cùng tinh tế, có sức truyền cảm vô cùng mạnh mẽ khiến cho chúng ta cảm thấy những lời văn của ông thấm sâu vào tâm hồn của mình, thật sung sướng khoan thai, ấm áp. Con sông Đà được chia thành ba trận chiến vô cùng quyết liệt. Người lái đò muốn chiến thắng con sông Đà hung dữ hiểm ác này cần phải vượt qua ba trận chiến được vây sẵn. Trong trận chiến thứ nhất đó chính là sự hung dữ mạnh mẽ của dòng nước. Nó có thể bẻ gãy mái chèo của người lái đò nếu sơ sảy. Một người lái đò thông minh phải biết lựa dòng chảy của con sông Đà để đi nếu không sẽ bị lật thuyền. Sông Đà là một con sông có nhiều cửa ngõ nếu không thông thạo sẽ bị đi vào mê cung trận được giăng sẵn và nguy hiểm tới mạng sống của mình. Chính vì vậy, người lái đò phải tìm được cửa sinh, nếu đi nhầm cửa tử thì coi như đi vào chỗ chết mà thôi. Trận chiến cuối cùng là sự đối diện trực tiếp giữa người lái đò và dòng sông khiến người lái đò phải tập trung toàn bộ sức lực trí tuệ của mình nếu không sẽ bị thua cuộc.

Thông qua những câu văn của mình nhà văn Nguyễn Tuân đã miêu tả hình ảnh con sông Đà như một con mãnh thú hung ác, có nhiều mưu kế, nếu con người không hiểu được tính nết của nó thì có thể chết bất cứ lúc nào. Nhưng có nhiều lúc con sông Đà lại vô cùng hiền hòa xinh đẹp với màu đỏ chín tựa như những trái chín mọng của mùa Thu. Hình ảnh con sông Đà thay đổi màu sắc dòng nước khi vào thu tựa như một bức tranh được vẽ lên tươi đẹp say đắm lòng người.

Hình tượng con sông Đà trong bài tùy bút “Người lái đò sông Đà” để lại trong lòng người đọc nhiều ấn tượng sâu sắc về một con sông tươi đẹp với những nét vẽ độc đáo làm cho chúng ta khi gấp trang sách lại vẫn còn cảm thấy sự thơ mộng cũng như hiểm trở của nó.

Bình Minh

Cập nhật thông tin chi tiết về Vài Nét Về Tùy Bút “Sông Đà” Và Tác Phẩm “Người Lái Đò Sông Đà” trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!