Xu Hướng 3/2024 # Vai Trò Công Tác Bảo Vệ Chính Trị Nội Bộ Trong Tình Hình Hiện Nay # Top 5 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Vai Trò Công Tác Bảo Vệ Chính Trị Nội Bộ Trong Tình Hình Hiện Nay được cập nhật mới nhất tháng 3 năm 2024 trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Trong thời gia qua cấp ủy đảng các cấp từ tỉnh đến cơ sở đã quan tâm chỉ đạo công tác Bảo vệ chính trị nội bộ. Tuy nhiên, trước những diễn biến của tình hình trong nước và quốc tế, công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong giai đoạn hiện nay đang đặt ra nhiều vấn đề phải quan tâm giải quyết, đó là:

Thứ nhất: Bảo vệ chính trị nội bộ là vấn đề sống còn của chế độ, gắn liền với vận mệnh và vai trò lãnh đạo của Đảng, là một nhiệm vụ quan trọng có tính chiến lược lâu dài trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng, là trách nhiệm của các cấp uỷ, các tổ chức Đảng và toàn thể đảng viên, do đó, phải thực hiện đúng quan điểm của Đảng, bảo đảm kịp thời, khách quan, toàn diện, đề cao tinh thần trách nhiệm, vì sinh mệnh chính trị của cán bộ, đảng viên và sự trong sạch của nội bộ Đảng.

Thứ hai: Phải xuất phát từ nhiệm vụ và phục vụ nhiệm vụ chính trị của Đảng; gắn công tác Bảo vệ chính trị nội bộ với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và xây dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh; giữ vững lập tr­ường chủ nghĩa Mác – Lênin, t­ư tưởng Hồ Chí Minh gắn với tổng kết kinh nghiệm thực tiễn của Đảng.

Thứ ba: Trong mối quan hệ giữa yếu tố bên trong với bên ngoài thì yếu tố bên trong, nội bộ là cơ bản, quyết định. Cần đề phòng sai lầm về đ­­­­­ường lối, chủ trương, chính sách, coi việc phòng chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội chính trị và vi phạm nguyên tắc tổ chức Đảng là cực kỳ quan trọng. 

Thứ t­ư: Tích cực, chủ động phòng ngừa, tự bảo vệ mình là chính; xử lý kịp thời, nghiêm minh những cán bộ, đảng viên thoái hoá biến chất về chính trị; coi trọng phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn có hiệu quả mọi âm m­ưu, hoạt động phá hoại nội bộ của các thế lực thù địch, chống đối.

Thứ năm: Chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp và đội ngũ cán bộ tham m­ưu chiến l­ược, đặc biệt những ng­ười đứng đầu tổ chức đảng các cấp.

Thứ sáu: Bảo vệ chính trị nội bộ phải có sự phối kết hợp để phát huy sức mạnh của toàn Đảng và hệ thống chính trị trong công tác quan trọng này; kết hợp hoạt động của tổ chức đảng với hoạt động tích cực của nhân dân tham gia xây dựng Đảng.

Thứ bảy: Quy định của Bộ Chính trị về Bảo vệ chính trị nội bộ Đảng là căn cứ, là cơ sở để xem xét, kết luận về chính trị của cán bộ, đảng viên; phải thực hiện nghiêm túc, thống nhất; khắc phục tình trạng giản đơn, vận dụng tùy tiện hoặc máy móc, thành kiến, hẹp hòi.

Để thực hiện tốt công tác Bảo vệ chính trị nội bộ, Đảng đã đề ra quan điểm chỉ đạo được thể hiện trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đó là: “Nhiệm vụ trọng tâm của công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong giai đoạn hiện nay là bảo vệ Cương lĩnh, Điều lệ Đảng; bảo vệ nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng; bảo vệ Hiến pháp và pháp luật; bảo vệ cán bộ, đảng viên về mặt chính trị..”. Gắn công tác bảo vệ chính trị nội bộ với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn những hiện tượng cục bộ, bè phái, “lợi ích nhóm”, gây mất đoàn kết trong Đảng. Xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên vi phạm quy định của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm, nhất là phát ngôn, tuyên truyền, tán phát tài liệu trái Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước. Đấu tranh có hiệu quả với âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch”.

Trên cơ sở quan điểm chỉ đạo của Đảng đối với công tác Bảo vệ chính trị nội bộ trong tình hình hiện nay như đã nêu trên, nhiệm vụ chủ yếu, trọng tâm của công tác Bảo vệ chính trị nội bộ cần tăng cường chỉ đạo, thực hiện tốt các nội dung sau:

Một là, tiếp tục quán triệt và nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên về công tác Bảo vệ chính trị nội bộ; đẩy mạnh việc giáo dục, rèn luyện nâng cao bản lĩnh chính trị, ý thức cảnh giác cách mạng cho cán bộ, đảng viên;

Hai là, công tác Bảo vệ chính trị nội bộ phải góp phần tiếp tục thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”;

Ba là, thực hiện nghiêm các quy định của Đảng và Nhà nước về công tác cán bộ; tất cả các trường hợp trước khi tiếp nhận, giới thiệu quy hoạch, bổ nhiệm… phải được thẩm định và kết luận về tiêu chuẩn chính trị. Những trường hợp có vấn đề về chính trị, phải được thẩm tra, xác minh và có kết luận;

Bốn là, tăng cường quản lý cán bộ, đảng viên ra nước ngoài và quan hệ, tiếp xúc với tổ chức, cá nhân nước ngoài;

Năm là, thường xuyên rà soát chính trị nội bộ, kịp thời phát hiện, chấn chỉnh và có biện pháp xử lý, sử dụng phù hợp đối với những trường hợp có vấn đề về chính trị;

Sáu là, tăng cường quản lý thông tin, tài liệu, giữ gìn bí mật nội bộ, bí mật quốc gia; đấu tranh chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”, đấu tranh với các luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc của các thế lực thù địch;

Tăng Cường Công Tác Bảo Vệ Chính Trị Nội Bộ Quân Đội Trong Tình Hình Mới

Tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ Quân đội trong tình hình mới

Công tác bảo vệ chính trị nội bộ Quân đội là một nội dung công tác đảng, công tác chính trị; khâu cơ bản, quan trọng của công tác bảo vệ an ninh Quân đội, góp phần bảo đảm cho Quân đội luôn vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao. Trước yêu cầu nhiệm vụ mới, cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy các cấp cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện tốt hơn nữa công tác bảo vệ chính trị nội bộ Quân đội.

Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, trực tiếp là Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, công tác bảo vệ chính trị nội bộ Quân đội thời gian qua được cấp ủy, tổ chức đảng, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy và cơ quan chính trị các cấp tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện chặt chẽ, hiệu quả theo đúng nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, quy định của Quân đội. Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội được đẩy mạnh. Tích cực, chủ động đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; bảo đảm bí mật, an toàn cho mọi hoạt động, hiệu quả công tác quản lý tình hình chính trị nội bộ của các đơn vị được nâng cao. Công tác thẩm tra, xác minh, thẩm định, kết luận về tiêu chuẩn chính trị, nhất là vấn đề chính trị hiện nay đối với cán bộ, đảng viên được tiến hành chặt chẽ, có chất lượng tốt. Kịp thời phát hiện, xử lý các vi phạm, làm trong sạch nội bộ phục vụ công tác chuẩn bị nhân sự đại hội đảng các cấp trong Đảng bộ Quân đội tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng,… góp phần quan trọng xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, không ngừng nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.

Tuy nhiên, công tác bảo vệ chính trị nội bộ Quân đội thời gian qua vẫn còn những điểm tồn tại, hạn chế. Nhận thức về yêu cầu, nhiệm vụ công tác bảo vệ chính trị nội bộ của một số cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ chủ trì cơ quan, đơn vị chưa đầy đủ, sâu sắc; chất lượng nắm, quản lý tình hình chính trị nội bộ, quản lý con người còn hạn chế; thực hiện các quy định về bảo vệ bí mật Nhà nước, bí mật quân sự có lúc, có nơi vẫn còn sơ hở, mất cảnh giác.

Đại tướng Lương Cường phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị Tổng kết công tác Bảo vệ an ninh Quân đội năm 2024, triển khai nhiệm vụ 2024. Ảnh: qdnd.vn

Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đang đứng trước những thời cơ, thuận lợi và cả khó khăn, thách thức đan xen. Các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, cán bộ; chúng gia tăng các hoạt động móc nối, cài cắm vào nội bộ, thu thập tình báo trên các lĩnh vực trọng yếu, cơ mật,… nhất là trong dịp chuẩn bị nhân sự đại hội đảng các cấp tiến tới Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới công tác bảo vệ an ninh Quân đội nói chung, công tác bảo vệ chính trị nội bộ Quân đội nói riêng cần tập trung thực hiện tốt những nội dung sau:

Hai là, tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng, sự quản lý của cán bộ chủ trì các cấp đối với công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Thấm nhuần lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh “… Chúng do thám tỉ mỉ về tình hình quân sự, chính trị và kinh tế của ta. Để làm gì? Để chúng tìm cách phá hoại! Để ngăn chặn âm mưu của kẻ địch, thì cán bộ, bộ đội và nhân dân ta cần phải luôn luôn nâng cao cảnh giác. Đó là một nghĩa vụ quan trọng mà mọi người công dân phải làm trọn để chống lại âm mưu của đế quốc và bè lũ tay sai, để bảo vệ nhân dân và bảo vệ Tổ quốc”1. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp phải coi công tác bảo vệ chính trị nội bộ là nội dung quan trọng trong nghị quyết lãnh đạo của cấp ủy, chi bộ, kế hoạch hoạt động của chính ủy, chính trị viên và người chỉ huy. Bám sát các nghị quyết, chỉ thị, quyết định của trên, sự phát triển của yêu cầu nhiệm vụ, tình hình an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn để bổ sung, hoàn thiện nội dung, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo phù hợp. Cấp có thẩm quyền cần nghiên cứu, ban hành các quy chế, quy định về công tác bảo vệ chính trị nội bộ sát với đặc điểm, tình hình nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị; triển khai toàn diện, đồng bộ các nội dung, biện pháp bảo đảm chặt chẽ, nền nếp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác bảo vệ chính trị nội bộ ở từng cơ quan, đơn vị và toàn quân. Thường xuyên nắm vững tình hình, dự báo chính xác những vấn đề có thể xảy ra, kịp thời có phương án xử lý hiệu quả, không để bị động, bất ngờ về chính trị trong mọi tình huống. Đồng thời, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, phát hiện, ngăn chặn kịp thời những biểu hiện lệch lạc về nhận thức, tư tưởng và hành động; phát huy vai trò nêu gương, tiền phong, gương mẫu về lời nói cũng như việc làm, nhận thức và hành động của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì các cấp trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Quá trình thực hiện, cấp ủy, chỉ huy các cấp chú trọng gắn chặt hoạt động lãnh đạo của tổ chức đảng với công tác quản lý, điều hành của cán bộ chủ trì và tinh thần tích cực, tự giác của cán bộ, đảng viên, bảo đảm trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, công tác bảo vệ chính trị nội bộ luôn đạt hiệu quả thiết thực, góp phần giữ vững ổn định chính trị nội bộ cơ quan, đơn vị.

Bốn là, thường xuyên nắm và quản lý chặt chẽ tình hình chính trị nội bộ, nhất là vấn đề chính trị hiện nay của cán bộ, đảng viên. Cấp ủy, chỉ huy các cấp duy trì nghiêm nền nếp chế độ quản lý, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên; chủ động phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn các hoạt động xâm nhập, cài cắm, móc nối, lôi kéo, mua chuộc, khống chế hoạt động và thu thập tin tức tình báo của nước ngoài. Trong đó, lấy phòng ngừa, ngăn chặn, triệt tiêu các nguy cơ từ gốc là nhiệm vụ cơ bản; lấy đấu tranh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên. Phải nắm chắc tình hình, nhận diện, phân loại đối tượng, xác định nội dung, hình thức và phương pháp đấu tranh phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ chính trị nội bộ hiện nay. Đồng thời, duy trì nghiêm chế độ báo cáo, trao đổi, giao ban, rút kinh nghiệm, chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện; khắc phục mọi biểu hiện chủ quan, mất cảnh giác, sơ hở, để kẻ địch, phần tử xấu tác động, lôi kéo, phá hoại nội bộ. Để đạt hiệu quả, các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị cần nghiên cứu, ban hành các quy chế, quy định, triển khai toàn diện, đồng bộ các nội dung, biện pháp bảo vệ chính trị nội bộ, trong xét duyệt tiêu chuẩn chính trị đối với các đối tượng.

Sáu là, xây dựng cơ quan và đội ngũ cán bộ chuyên trách vững mạnh, thực sự là lực lượng nòng cốt trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Cấp ủy các cấp cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng cơ quan bảo vệ an ninh có tổ chức bộ máy tinh, gọn, mạnh, hoạt động theo đúng chức năng, nhiệm vụ, giữ vững nguyên tắc, linh hoạt, nhạy bén trong xử lý các tình huống, thực hiện tốt chức năng tham mưu cho cấp ủy, cán bộ chủ trì về công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Thường xuyên quan tâm đào tạo, bồi dưỡng xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên trách bảo vệ an ninh có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức, lối sống tốt, trung thực, tận tụy với công việc, không ngại khó khăn, gian khổ, hy sinh; có phương pháp, tác phong công tác tốt; nắm chắc luật pháp, tinh thông về nghiệp vụ, thực sự là nòng cốt, chuyên trách bảo vệ an ninh ở đơn vị. Việc sắp xếp cán bộ bảo vệ an ninh phải đúng khả năng, sở trường của từng người; tăng cường công tác tập huấn, sơ kết, tổng kết, nghiên cứu khoa học để nâng cao trình độ tham mưu, hướng dẫn về công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong toàn quân. Đồng thời, tạo điều kiện cho cán bộ rèn luyện thực tế ở cơ sở, trau dồi kinh nghiệm thực tiễn, phát huy năng lực, sở trường trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ.

Trước yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ chế độ và Quân đội trong tình hình mới, công tác bảo vệ chính trị nội bộ Quân đội phải được cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy các cấp thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ; không ngừng đổi mới nội dung, hình thức, nâng cao chất lượng công tác theo đúng yêu cầu mà Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quân ủy Trung ương đã đề ra. Thực hiện tốt nhiệm vụ này, không chỉ góp phần quan trọng vào việc tổ chức thành công đại hội đảng ở các cấp tiến tới Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng mà còn bảo đảm an ninh, an toàn trong xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của Quân đội, thực sự là lực lượng nòng cốt bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thân yêu của chúng ta.

Đại tướng Lương Cường, Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam Theo Tạp chí Quốc phòng toàn dân Phương Thành (st)

1. Hồ Chí Minh – Toàn tập, Tập 12, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 389.

Kết Quả Công Tác Bảo Vệ Chính Trị Nội Bộ

PTO- Bảo vệ chính trị nội bộ là bộ phận quan trọng trong công tác xây dựng Đảng. Những năm qua, thực hiện sự chỉ đạo của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Ban Tổ chức Tỉnh ủy, các cấp ủy Đảng đã triển khai thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ đạt kết quả khá toàn diện.

Công tác rà soát, kiểm tra hồ sơ đảng viên và hồ sơ cán bộ, rà soát chính trị nội bộ, thẩm định tiêu chuẩn chính trị cán bộ phục vụ công tác kết nạp đảng viên, đề bạt, bổ nhiệm, điều động, bố trí cán bộ được thực hiện thường xuyên nghiêm túc, có chất lượng. Quy chế phối hợp trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ được phối hợp chặt chẽ với các cơ quan theo quy chế, nhất là lực lượng công an từ tỉnh đến cơ sở để triển khai nắm chắc tình hình, địa bàn, kịp thời phát hiện, ngăn chặn đấu tranh với những âm mưu, hoạt động phá hoại của các phần tử xấu và các đối tượng chống đối; rà soát các điểm nóng về an ninh trật tự, kịp thời tham mưu cấp ủy, chính quyền các cấp chỉ đạo giải quyết dứt điểm, sớm ổn định tình hình, không để tác động ảnh hưởng đến công tác chuẩn bị và tổ chức các kỳ đại hội Đảng và bầu cử đại biểu HĐND các cấp.

Thực hiện Quy định số 04-QĐ/TU về xét duyệt, quản lý đảng viên ra nước ngoài, các cấp ủy, tổ chức Đảng, các cơ quan, đơn vị trong tỉnh đã làm tốt công tác học tập, quán triệt để các cấp ủy, cán bộ, đảng viên nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng và sự cần thiết của công tác quản lý cán bộ, đảng viên; đặc biệt là việc xét duyệt, quản lý cán bộ đảng viên đi ra nước ngoài học tập, công tác, đi thăm thân hoặc có mối quan hệ với tổ chức, cá nhân người nước ngoài từ đó công tác tổ chức chỉ đạo và thực hiện có nền nếp, hiệu quả…

Để góp phần giữ vững ổn định chính trị trong giai đoạn hiện nay, công tác bảo vệ chính trị nội bộ cần tập trung đẩy mạnh việc giáo dục, rèn luyện nâng cao bản lĩnh chính trị, ý thức cảnh giác cách mạng cho cán bộ, đảng viên trước âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch. Tiếp tục quán triệt và nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên về quan điểm, nội dung, nhiệm vụ, phương châm, phương pháp công tác bảo vệ chính trị nội bộ, quán triệt sâu sắc và tổ chức thực hiện tốt Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII. Tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ Đảng, tập trung làm tốt công tác thẩm định tiêu chuẩn cán bộ phục vụ công tác đề bạt, bổ nhiệm, đào tạo, quy hoạch cán bộ theo phương châm chú trọng quản lý đầu vào là chính. Tiếp tục thực hiện tốt các nội dung Quy định 57-QĐ/TƯ chú trọng quán triệt, thực hiện tốt các nội dung Quy định của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về việc xét duyệt, quản lý đảng viên ra nước ngoài, làm tốt công tác phối hợp với các cơ quan chức năng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chính trị nội bộ, phối hợp nắm bắt tình hình, trao đổi thông tin thống nhất nhận định; nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chính trị nội bộ, tăng cường nâng cao năng lực, chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác bảo vệ chính trị nội bộ, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới…

Bích Nguyệt

Công Tác Bảo Vệ Chính Trị Nội Bộ: Lấy Phòng Ngừa Là Chính

Ngày đăng: 11/02/2024 01:58

– So với trước đây, công tác bảo vệ chính trị nội bộ hiện nay có gì mới, thưa đồng chí?

– Công tác bảo vệ chính trị nội bộ luôn được Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo. Ngày 28/02/2024, Bộ Chính trị (khóa XII) đã ban hành Quy định số 126-QĐ/TW “Một số vấn đề về bảo vệ chính trị nội bộ Đảng” thay thế Quy định số 57-QĐ/TW ngày 03/5/2007 của Bộ Chính trị (khóa X) “Một số vấn đề về bảo vệ chính trị nội bộ Đảng”. Ban Tổ chức Trung ương cũng đã ban hành Hướng dẫn số 19-HD/BTCTW ngày 12/9/2024 về thực hiện một số điều trong Quy định số 126-QĐ/TW.

Trong các văn bản nêu trên, công tác bảo vệ chính trị nội bộ có thêm nhiều nội dung mới theo hướng chặt chẽ hơn. Đặc biệt, công tác bảo vệ chính trị nội bộ chuyển mạnh trọng tâm từ xem xét lịch sử sang nắm bắt và giải quyết vấn đề chính trị hiện nay gắn với việc phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Hà Nội sẽ phát huy vai trò giám sát của nhân dân để phòng ngừa vi phạm về chính trị nội bộ. Trong ảnh: Lãnh đạo quận Hoàng Mai đối thoại với người dân trên địa bàn quận.

Bảo vệ chính trị nội bộ cũng là một trong những nội dung được nêu rõ trong Chỉ thị số 35-CT/TW ngày 30/5/2024 của Bộ Chính trị (khóa XII) về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Khi ban hành Kế hoạch số 155-KH/TU ngày 08/7/2024 về tổ chức đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu lần thứ XVII Đảng bộ thành phố Hà Nội, Thành ủy đã kịp thời tích hợp đầy đủ các nội dung trên. Trên cơ sở đó, Ban Tổ chức Thành ủy có hướng dẫn, các cấp ủy đảng tiếp thu triển khai thực hiện nghiêm túc.

Qua theo dõi, chúng tôi thấy rằng, các cấp ủy đảng đã thực hiện nghiêm các bước bảo vệ chính trị nội bộ trong quá trình xem xét hồ sơ nhân sự; rà soát, thẩm tra, thẩm định về tiêu chuẩn, điều kiện, phẩm chất, năng lực, uy tín cán bộ theo quy định và tiêu chuẩn chính trị. Kết quả thực hiện đã giúp nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên; xử lý được những bất cập về công nhận văn bằng có yếu tố nước ngoài; phòng ngừa hiện tượng gian dối trong kê khai lý lịch…

– Có nhiều trường hợp hồ sơ nhân sự từ cơ sở chuyển lên bị Ban Tổ chức Thành ủy trả lại không, thưa đồng chí?

– Số lượng hồ sơ bị trả lại không nhiều, nhưng vẫn có. Vì thực tế, một số đơn vị trong quá trình rà soát, thẩm tra, thẩm định hồ sơ cán bộ, đảng viên còn thiếu chặt chẽ, có biểu hiện sơ suất, chủ quan.

Mặc dù vậy, chúng tôi khẳng định, tại Hà Nội, công tác bảo vệ chính trị nội bộ, đặc biệt là nhiệm vụ thẩm định hồ sơ nhân sự luôn được thực hiện nghiêm túc, đầy đủ, chính xác để bảo đảm chất lượng nhân sự cấp ủy khóa mới.

– Thưa đồng chí, để tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong năm 2024, năm tiến hành đại hội đảng bộ các cấp, chúng ta cần chú trọng những vấn đề gì?

– Bảo vệ chính trị nội bộ trước hết là bảo vệ Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, bảo vệ Hiến pháp và pháp luật Nhà nước, bảo vệ cán bộ, đảng viên, ngăn chặn tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Bảo vệ chính trị nội bộ không phải là “bới lông tìm vết” mà phải lấy phòng ngừa là chính. Theo tinh thần chỉ đạo của Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội, nhiệm vụ hàng đầu là cần tiếp tục tuyên truyền, nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong tình hình hiện nay.

Chúng tôi cho rằng, quá trình chuẩn bị và tiến hành đại hội đảng bộ các cấp cần thực hiện nghiêm các chỉ đạo của Trung ương về hồ sơ nhân sự, nhất là thực hiện đầy đủ, chất lượng các bước rà soát, thẩm tra, thẩm định bảo đảm tất cả phải đúng quy trình, không làm tắt. Trong quá trình đó, các cấp ủy cần tiếp tục thực hiện chặt chẽ công tác quản lý cán bộ, đảng viên, bao gồm cả kỷ luật phát ngôn; công tác đánh giá cán bộ hằng tháng; phát huy vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị – xã hội và nhân dân đối với cán bộ, đảng viên.

– Trân trọng cảm ơn đồng chí./.

Theo: hanoimoi.com.vn

Vai Trò Của Khoa Học Và Công Nghệ Trong Công Tác Bảo Vệ Môi Trường

Vụ Khoa học và công nghệ, Bộ Tài nguyên và Môi trường

Khoa học và công nghệ trong thời đại ngày nay có vai trò to lớn trong việc hình thành nền “kinh tế tri thức”, phát triển hàm lượng trí tuệ cao trong sản xuất, dịch vụ và quản lý ở tất cả các quốc gia trên thế giới, thể hiện ở vai trò then chốt trong việc phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, bảo vệ tài nguyên và môi trường, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, tốc độ phát triển và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Vai trò của khoa học và công nghệ là nền tảng để phát triển bền vững kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường là quan điểm xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta được thể hiện trong mọi chủ trương, chính sách và định hướng phát triển đất nước.

– Đại hội XI của Đảng xác định: “Phát triển mạnh khoa học, công nghệ làm động lực đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế trí thức, góp phần tăng nhanh năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế.”.

– Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển 2011) nhấn mạnh: “Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư phát triển. Sự phát triển của khoa học và công nghệ ngày càng có ý nghĩa quyết định trong việc làm thay đổi nền sản xuất vật chất của xã hội”.

– Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 3/6/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường cũng xác định một trong năm giải pháp để thực hiện Nghị quyết là “Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ trong ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường”.

KH&CN trong lĩnh vực môi trường giữ một vị trí quan trọng trong việc thiết lập các cơ sở lý luận, khoa học và thực tiễn để xây dựng cơ chế, chính sách, các văn bản quy phạm pháp luật; các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường hoặc các giải pháp quản lý nhà nước, giải pháp công nghệ, kỹ thuật phục vụ công tác BVMT.

Về xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách, hệ thống quản lý trong công tác bảo vệ môi trường

Các nghiên cứu đã cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc xây dựng cơ chế, chính sách, hệ thống quản lý, nhằm đảm bảo tính khả thi khi triển khai trên thực tế, đáp ứng yêu cầu thực tiễn quản lý nhà nước về công tác bảo vệ môi trường. Luật BVMT 2014, Luật Đa dạng sinh học 2008, Chiến lược BVMT quốc gia đến năm 2024, tầm nhìn đến năm 2030, Chiến lược Bảo tồn đa dạng sinh học đến năm 2024 và định hướng đến năm 2030… đều được xây dựng với sự đóng góp tích cực của các đề tài, nhiệm vụ nghiên cứu KH&CN gắn kết với thực tiễn quản lý.

Khung Bộ luật Môi trường theo hướng xác lập cơ chế quản lý và bảo vệ môi trường đồng bộ với thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN được đề xuất là tiền đề quan trọng để hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật, bộ luật về bảo vệ môi trường của Việt Nam

2) Về xây dựng công cụ quản lý

Song song với việc xây dựng hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường, trong giai đoạn vừa qua, các nghiên cứu khoa học của Bộ Tài nguyên và Môi trường đã cung cấp cơ sở để xây dựng hệ thống tiêu chuẩn-quy chuẩn kỹ thuật môi trường phù hợp với điều kiện Việt Nam là công cụ quản lý hữu hiệu phục vụ đánh giá, kiểm soát chất lượng hoạt động bảo vệ môi trường; xây dựng các công cụ để hướng dẫn các Bộ, ngành và địa phương triển khai hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường (xây dựng quy trình đánh giá tác động môi trường; cơ chế chi trả dịch vụ môi trường; phương pháp lượng giá thiệt hại môi trường; phương pháp luận tiếp cận hệ sinh thái trong giải quyết các vấn đề môi trường-sức khỏe; quy trình và phương pháp xác định thiệt hại dân sự, giải quyết bồi thường thiệt hại…).

3) Góp phần nâng cao năng lực quan trắc môi trường; dự báo, kiểm soát, phòng ngừa, giảm thiểu, xử lý ô nhiễm, cải thiện chất lượng môi trường, khắc phục suy thoái môi trường, phòng chống các sự cố, thảm họa môi trường.

Kết quả nghiên cứu của nhiều chương trình, đề tài, dự án KH&CN các cấp đã được ứng dụng, triển khai trong thực tế, góp phần không nhỏ trong công tác xử lý, phòng ngừa và kiểm soát ô nhiễm môi trường:

– Xây dựng hệ số phát thải phục vụ công tác thống kê nguồn thải lưu vực sông ở Việt Nam; hệ số phát thải phục vụ kiểm soát khí thải đối với một số ngành công nghiệp chính ở Việt Nam;

– Hướng dẫn kỹ thuật quản lý về bảo vệ môi trường tại các cơ sở nghiên cứu hóa học, sinh học; các quy trình phân tích thông số môi trường phù hợp với điều kiện Việt Nam;

4) Đóng góp quan trọng trong việc sử dụng hợp lý, bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học, phát triển bền vững

– Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong công tác bảo vệ môi trường: thiết lập sơ đồ mô hình cảnh báo, điều khiển từ xa phục vụ quan trắc các thông số môi trường; phương án công nghệ xử lý nước thải có tính thân thiện môi trường; xây dựng phương pháp và tiêu chí đánh giá công nghệ; Ứng dụng GIS và ảnh viễn thám quang học Landsat, Quickbird và ảnh Palsar theo dõi sự biến động của một số thành phần môi trường,….

– Đề xuất thành lập, thiết kế và quản lý hành lang đa dạng sinh học; đề xuất các mô hình làng sinh thái ….

– Xây dựng mô hình thử nghiệm khoanh tạo rừng ngập mặn thành công là cơ sở cho việc nhân rộng rừng ngập mặn, phát triển hệ sinh thái rừng ngập mặn và đóng góp đáng kể vào quá trình bảo tồn đa dạng sinh học;

– Xây dựng được bản đồ hiện trạng đa dạng sinh học Khu Dự trữ sinh quyển Cần Giờ và đề xuất được Danh lục động, thực vật và hệ sinh thái ưu tiên bảo về đến 2024;

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trong giai đoạn vừa qua, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã triển khai có hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệ. Các nhiệm vụ khoa học và công nghệ các cấp đã có những đóng góp tích cực, tập trung giải quyết các vấn đề ưu tiên theo yêu cầu của thực tiễn công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường, đặc biệt là trong công tác xây dựng, hoàn thiện và triển khai hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường cũng như xác lập được các công cụ, giải pháp quản lý, công nghệ, kỹ thuật, phục vụ đắc lực và hiệu quả cho hoạt động quản lý nhà nước về môi truờng. Các nghiên cứu gắn liền với thực tiễn đã góp phần tháo gỡ các vướng mắc, bất cập trong việc thực thi các quy định của pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, đề xuất được những giải pháp để nâng cao hiệu quả quản lý môi trường tại Việt Nam.

Văn kiện Đại hội XI

Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển 2011)

Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 3/6/2013 Hội nghị Trung ương 7 khóa XI về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường.

Luật Bảo vệ môi trường năm 2014.

Luật Đa dạng sinh học 2008.

Chiến lược BVMT quốc gia đến năm 2024, tầm nhìn đến năm 2030.

Chiến lược Bảo tồn đa dạng sinh học đến năm 2024 và định hướng đến năm 2030.

Báo cáo công tác ngành tài nguyên và môi trường năm 2014 và phương hướng nhiệm vụ năm 2024.

Mua bán piano Nhật

………………………………………………………………………………………………….

, Dạy Học mat xa, dạy massage body, Mi Katun

Vai Trò Của Pháp Luật Trong Việc Bảo Vệ Môi Trường Ở Nước Ta Hiện Nay

Trân trọng cảm ơn người dùng đã đóng góp vào hệ thống tài liệu mở. Chúng tôi cam kết sử dụng những tài liệu của các bạn cho mục đích nghiên cứu, học tập và phục vụ cộng đồng và tuyệt đối không thương mại hóa hệ thống tài liệu đã được đóng góp.

Many thanks for sharing your valuable materials to our open system. We commit to use your countributed materials for the purposes of learning, doing researches, serving the community and stricly not for any commercial purpose.

Bảo vệ môi trường là sự nghiệp chung của toàn xã hội đòi hỏi phải có sự tham gia tích cực của mọi người với những biện pháp khác nhau. Một trong những biện pháp đó là sử dụng pháp luật để quản lí và bảo vệ môi trường. Trong bối cảnh xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và xây dựng đất nước phát triển bền vững thì việc tiếp tục xây dựng hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường là hết sức cần thiết.Nhận thức được tính cần thiết của việc tiếp tục xây dựng hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường ở nước ta hiện nay. Em xin mạnh dạn chọn đề tài: ” Vai trò của pháp luật trong việc bảo vệ môi trường ở nước ta hiện nay ” làm bài tập học kì của mình

I.Cơ sở lý luận của vai trò pháp luật bảo vệ môi trường Việt Nam.

Môi trường là một khái niệm có nội hàm rộng. Môi trường gồm toàn bộ những điều kiện tự nhiên và xã hội. Tại khoản 1 điều 3 luật Bảo vệ môi trường được Quốc hội nước CHXHCN Việt nam thông qua ngày 29-11-2005 (sửa đổi). Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người có ảnh hưởng đén đời sống sản xuất và sự tồn tại phát triển của con người và sinh vật.

Thứ nhất, Pháp luật bảo vệ môi trường ở Việt nam ra đời muộn hơn so với các lĩnh vực pháp luật khác.Có thể nói trong hệ thống pháp luật Việt nam thì pháp luật bảo vệ môi trường là lĩnh vực mới nhất. Nguyên nhân là do vấn đề môi trường mới thực sự đặt ra những thách thức khi chúng ta thực hiện công cuộc đổi mới tới nay. Trong thời gian sau đó thì vấn đề môi trường ngày càng trở nên trầm trọng: sự ô nhiễm không khí, ô nhiễm môi trường nước, môi trường đất……Vì vậy mà vấn đề bảo vệ môi trường đã được đưa ra và thực hiện phổ biến.

Thứ hai pháp luật bảo vệ môi trường có sự phát triển nhanh chóng và ngày càng hoàn thiện hơn. Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã mang lại những thành tựu to lớn cho đất nước tuy nhiên nó cũng đặt ra cho nước ta những vấn đề to lớn về môi trường và sự pháp triển bền vững.

Thứ tư pháp luật bảo vệ môi trường chịu sự điều chỉnh của công ước quốc tế về môi trường. Đây là một đặc điểm của pháp luật bảo vệ môi trường hiện nay của nước ta. Do tính thống nhất của môi trường, các yếu tố, thành phần môi trường của Việt nam vừa là đối tượng tác động của pháp luật trong nước vừa là đối tượng tác động của các điều ước quốc tế về môi trường mà Việt nam đã là thành viên.Vì vậy pháp luật bảo vệ môi trường ở Việt nam cũng được xây dựng hài hòa với các điều ước quốc tế về môi trường và chịu sự tác động của các thành viên đó.

Có thể thấy qua quá trình xây dựng hoàn thiện pháp luật bảo vệ môi trường nhằm có một hệ thống pháp luật đồng bộ, hoàn chỉnh, có tính khả thi hơn.

Thực tiễn sản xuất và đời sống xã hội đòi hỏi phải có các chuẩn mực trong mọi hành vi ứng xử, giao tiếp cho mọi thành viên trong xã hội tuân theo. Những văn bản quy định những nguyên tắc như vậy người ta gọi là văn bản quy phạm pháp luật, được nhà nước đảm bảo cho nó được thực hiện. Các văn bản quy phạm pháp luật về môi trường cũng chính là những quy tắc xử sự chung nằm trong khuôn khổ pháp luật.

Là một lĩnh vực trong hệ thống pháp luật bảo vệ Việt nam, pháp luật bảo vệ môi trường cũng có các vai trò của phap luật nói chung và cũng có những vai trò riêng của nó. Đó là pháp trong luật quản lí nhà nước đối với lĩnh vực bảo vệ môi trường là cơ sở pháp lí cho việc quy định cơ cấu tổ chức của các cơ quan quản lí nà nước đối với lĩnh vực bảo vệ môi trường, là cơ sở pháp lí cho hoạt động thanh tra kiểm tra, giám sát, xử lí vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, và là cơ sở pháp lí cho công tác bảo vệ môi trường. Nó được thể hiện như sau:

Thứ nhất là pháp luật trong quản lí nhà nước đối với lĩnh vực bảo vệ môi trường là cơ sở pháp lí quy định cơ cấu tổ chức của các cơ quan quản lí nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Có thể thấy pháp luật bảo vệ môi trường có một vai trò quan trọng đối với lĩnh vực môi trường.Hệ thống cơ quan quản lí môi trường nằm trong hệ thống cơ quan nhà nước nói chung và được tổ chức thống nhất từ trung ương xuống địa phương.

Thứ hai là, pháp luật trong quản lí nhà nước đối với lĩnh vực môi trường là cơ sở pháp lí quy định hoạt động của các cơ quan quản lí nhà nước trong lĩnh vức bảo vệ môi trường.

Thứ ba là pháp luật trong quản lí nhà nước đối với lĩnh vực bảo vệ môi trường là cơ sở pháp lí cho việc thanh tra, kiểm tra, giám sát và sử lí các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực môi trường.Việc thanh tra, giám sát được thực hiện thường xuyên , định kì hàng năm hoặc kiểm tra đột xuất dựa vào các văn bản pháp luật do nhà nước ban hành, còn xử lí vi phạm được áp dụng cho mọi cá nhân tổ chức trong và ngoài nước có những hành vi vô ý hay cố tình vi phạm các quy định nhà nước trong lĩnh vực môi trường.

Thứ tư, pháp luật trong quản lí nhà nước đối với lĩnh vực bảo vệ môi trường là cơ sở pháp lí cho xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường. Dựa vào các văn bản pháp luật do nhà nước ban hành các cơ quan thực hiện theo đó để hoàn thành nhiệm vụ của mình.

Có thể thấy, pháp luật bảo vệ môi trường ở nước ta hiện nay có vai trò hết sức quan trọng. Nó thể hiện được sự quan tâm của nhà nước tới vấn đề môi trường ngày càng được nâng cao

Trong những năm qua, việc thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường ở Việt nam đã có những chuyển biến tích cực và đạt được nhiều thành tựu to lớn. Cụ thể như sau:

Thứ nhất, hệ thống cơ chế chính sách pháp luật về bảo vệ môi trường đã được hoàn thiện một bước. Giai đoạn 2005-2010 được coi là giai đoạn thành công nhất trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt nam về bảo vệ môi trường, được đánh dấu bằng việc Quốc hội thông qua Luật Bảo vệ môi trường năm 2005. Năm 2008 Luật Đa dạng sinh học đả được Quốc hội thông chúng tôi tới nay có tổng cộng 66 văn bản luật dưới luật được xây dựng và ban hành.

Thứ hai, hệ thống cơ quan quản lí bảo vệ môi trường được tăng cao. Sau 5 năm thực hiện luật bảo vệ môi trường năm 2005, hệ thống các cơ quan quản lí nhà nước về bảo vệ môi trường đã từng bước được kiện toàn và đi vào hoạt động ổn định.Ở trung ương, Thủ tướng chính phủ đã quyết định thành lập Tổng cục môi trường trực thuộc Bộ Tài nguyên-Môi trường. Ở địa phương, đã thành lập các chi cục bảo vệ môi trường thuộc Sở tài nguyên môi trường.

Thứ ba, công tác kiểm soát ô nhiễm, quản lí chất thải được tăng cao, cụ thể. Hoạt động kiểm soát môi trường khu công nghiêp đã có nhiều tiến bộ đáng khích lệ: Nhiều địa phương đã có lộ trình, kế hoạch về xây dựng trạm sử lí nước thải.Hoạt động của ban quản lí các khu công nghiệp bài bản hơn.Hoạt động quan trắc môi trường ở cả trung ương và địa phương tiếp tục được duy trì và phát triển.

Thứ tư: hoạt động phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường dã được đẩy mạnh. Nhiều mỏ than sau khi khai thác được cải tạo phục hồi môi trường thành các khu vui chơi giải trí, du lịch sinh thái hoặc phục hồi đất trồng cây..Tính tới nay, trong tổng số 439 cơ sở gây ô nhiễm môi trường quan trọng phải hoàn thiện việc xử lí thì đã có 325 cơ sở không còn gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng(chiếm 74%) và 114 cơ sở đang triển khai thực hiệ biện pháp khắc phục(chiếm 26%)

Thứ năm, công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật môi trường diễn ra thường xuyên và phổ biến hơn góp phần năng cao nhận thức của cộng đồng dân cư trong bảo vệ môi trường.

Thứ sáu, công tác kiểm tra sử lí vi phạm pháp luật về môi trường cũng được tăng cường. Năm 2010 theo kết quả thanh tra, kiểm tr 9 tháng đầu năm, các Đoàn thanh tra đã lập 133 biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, trong đó có đề nghị các cơ quan có thẩm quyền phạt 9.666.700.000đồng đến 15.269.000đồng.Hoạt động kiểm tra được thực hiện thường xuyên, nghiêm túc.

Đầu tiên là hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường còn chưa hoàn thiện,còn sơ sài. Các văn bản pháp luật về môi trường chưa được rà soát kĩ. Các hoạt động giám sát cần phải được rà soát để tránh luật bảo vệ môi trường ban hành phải chờ các văn bản hưỡng dẫn thi hành làm cho luật khó điu vào đời sống.

Thứ hai là pháp luật môi trường còn quy định khá học thuật, rất phức tạp và khó hiểu nên người dân khó có thể nắm bắt được hết ý đồ của nhà nước,.

Thứ ba là từ góc độ quản lí của nhà nước thì công tác bảo vệ môi trường dù luôn được nêu ra nhưng vẫn còn ở hàng thứ yếu khi xử lí đối kháng lợi ích, vẫn tập trung ưu tiên phát triển kinh tế.

Thứ tư là nhận thức của cán bộ về vấn đề môi trường còn rất hạn chế,quy trình thủ tục còn tồn tại quá nhiều bất cập, việc giám sát thực hiện chưa đi liền với sử lý các vi phạm pháp luật về môi trường, mức phạt thấp,, chỉ phạt tiền rồi yêu cầu khắc phục. Cư như vậy, sau khi phạt xong thì tiếp tục vi phạm tiếp.

Thứ năm là các quyết định xử ;lí vi phạm đo không được theo dõi chặt chẽ nên dễ để cho một số đối tượng lợi dụng cố tình không chấp hành .

Để pháp luật bảo vệ môi trường có những hiệu quả cao hơn thì phải tiến hành khắc phục những nhược điểm hiện có, đang tồn tại trong hệ thống pháp luật môi trường hiện nay, cụ thể như sau:

Thứ nhất là hoàn thiện các quy định pháp lí (trách nhiệm hành vi, trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự) đối với những hành vi vi phạm pháp luật về môi trường.

Thứ hai hoàn thiện cơ chế tổ chức và đảm bảo thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường.Tăng cường nắm bắt tình hình, thanh tra kiểm tra và giám sát việc thực hiện pháp luật môi trường.

Thứ ba là tang cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Thuwch hiện đầy đủ các cam kết quốc tế.Đẩy mạnh hợp tác song phương.

Thứ tư là tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường trong xã hội.

Nhìn chung, pháp luật Việt nam về bảo vệ môi trường đã tạo hành lang pháp lí để các chủ thể trong xã hội thực hiện đầy đủ, triệt để các quy phạm pháp luật. Vấn đề thực hiện pháp luật hiên nay cần phải được nghiên cứu tổng thể, đánh giá toàn diện nhằm tạo cơ sở vững chắc cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật. Bài làm của em do còn thiếu sự hiểu biết sâu rộng nên còn nhiều thiếu sót. Rất mong thầy cô đọc và góp ý để em có kinh nghiệm cho các bài tập sau này. Em xin trân thành cảm ơn.

1. Trường Đại học Luật Hà Nội,Giáo trình môn lí luận nhà nước và pháp luật,nxb.CAND,Hà Nội,2014.

2. Khoa Luật ĐHQG Hà Nội, Giáo trình lí luận chung về nhà nước và pháp luật,nxb.ĐHQGHN,2005

3. Nguyễn Văn Hùng, Luận văn Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường ở Việt nam trong điều kiện hiện nay.

4. Bộ tư pháp (2005), Quyền và nghĩa vụ và trách nhiệm của các tổ chức các nhân về bảo vệ môi trường, Nhà xuất bản tư pháp, Hà Nội

Cập nhật thông tin chi tiết về Vai Trò Công Tác Bảo Vệ Chính Trị Nội Bộ Trong Tình Hình Hiện Nay trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!