Xu Hướng 3/2024 # Văn Bản Và Cấu Trúc Ngoài Văn Bản # Top 8 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Văn Bản Và Cấu Trúc Ngoài Văn Bản được cập nhật mới nhất tháng 3 năm 2024 trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Rất khó định nghĩa khái niệm văn bản. Trước hết, cần phải chống lại thói quen đồng nhất văn bản với quan niệm về chỉnh thể của tác phẩm nghệ thuật. Hoàn toàn không có cơ sở để đối lập, theo kiểu hết sức phổ biến hiện nay, giữa văn bản như một thứ hiện thực của các quan niệm, tư tưởng nào đó với sự hiểu biết được xem là cái gì đó rất đỏng đảnh và chủ quan trong toàn bộ cái vẻ bên ngoài của nó.

Là một mô hình thế giới cụ thể, một thông tin nào đó bằng ngôn ngữ nghệ thuật, tác phẩm nghệ thuật không thể tồn tại bên ngoài ngôn ngữ ấy, cũng như bên ngoài tất cả các ngôn ngữ giao tiếp xã hội khác. Với người đọc muốn dựa vào các bộ mã được lựa chọn tùy tiện và chủ quan để giải mã, nghĩa sẽ bị xuyên tạc nghiêm trọng, còn với người đọc muốn tiếp xúc với một văn bản bị tách ra khỏi tổng thể các mối liên hệ ngoài văn bản, thì tác phẩm sẽ chẳng còn là nhân tố đại diện cho bất kỳ một loại ý nghĩa nào. Toàn bộ các mã được hình thành trong quá trình lịch sử biến văn bản thành nhân tố biểu nghĩa bao giờ cũng có quan hệ với phạm vi của các mối liên hệ ngoài văn bản. Nhưng đó là những mối liên hệ rất thực tế. Tính thực tế của khái niệm “tiếng Nga” hoàn toàn không nhỏ hơn so với tính thực tế của khái niệm “văn bản bằng tiếng Nga”, dù đó là thực tế thuộc những loại khác nhau và phương pháp nghiên cứu chúng cũng khác nhau.

Các mối liên hệ ngoài tác phẩm có thể mô tả như là quan hệ giữa vô số yếu tố được định hình trong văn bản với vô số yếu tố mà từ đó có thể tiến hành lựa chọn một yếu tố khả dụng nào đấy. Rõ ràng, việc sử dụng một loại nhịp điệu nào đó trong một hệ thống không cho phép có ngoại lệ, trong hệ thống cho phép lựa chọn một khả năng thay thế, hoặc đưa ra 5 kiểu tổ chức câu thơ có giá trị ngang nhau, – sẽ cho chúng ta những cấu trúc nghệ thuật hoàn toàn khác nhau, dù về mặt vật chất, bình diện được định hình của tác phẩm – văn bản của nó, chẳng hề có gì thay đổi.

Nên nhớ, cấu trúc ngoài văn bản cũng có cấp độ giống như ngôn ngữ của tác phẩm nghệ thuật nói chung. Hơn nữa, khi nhập vào những tầng bậc khác nhau của trật tự cấp độ, yếu tố này hay yếu tố kia của văn bản có thể tham gia vào các mối liên kết khác nhau ngoài văn bản (tức là có một đại lượng biểu thị độ bất ổn định khác nhau). Chẳng hạn, nếu chúng ta xác định văn bản nào đó là một tác phẩm thơ Nga, thì ở đây, khả năng sử dụng mọi vận luật tiêu biểu cho câu thơ Nga nói chung đều có xác suất như nhau. Nếu chúng ta thu hẹp ranh giới biên niên của cấu trúc mà chúng ta sẽ liệt vào đấy một văn bản nào đó cho tới phạm trù “tác phẩm của một nhà thơ Nga thế kỷ XIX”, hay chúng ta làm như thế với một thể loại (“ballad”), thì xác suất sẽ thay đổi. Nhưng văn bản lại nhất loạt thuộc về tất cả các cấu trúc ấy, và đó là điều cần phải tính đến khi xác định mức độ bất ổn định của nó.

Việc đặc điểm của một văn bản thuộc về các thể loại, phong cách khác nhau, về thời đại, tác giả v.v… làm thay đổi mức độ bất ổn định của những yếu tố riêng lẻ của nó không chỉ buộc phải xem các mối liên hệ ngoài văn bản  như một cái gì đó hoàn toàn thực tế, mà còn chỉ ra một số cách thức làm thay đổi thực tế ấy.

Cần phân biệt các mối liên hệ ngoài văn bản ở cấp độ ngôn ngữ nghệ thuật và cấp độ thông báo nghệ thuật. Ở trên, chúng tôi đã dẫn ra những ví dụ về các mối liên hệ ngoài văn bản ở cấp độ ngôn ngữ nghệ thuật. Ở cấp độ thông báo nghệ thuật, đó là những trường hợp, khi việc không sử dụng yếu tố này hay yếu tố kia, sự vắng mặt có nghĩa, “thủ pháp-âm”[1] trở thành một bộ phận hữu cơ của văn bản đã được định hình dưới dạng văn tự. Chẳng hạn, sự bỏ qua các khổ đã được đánh số trong văn bản cuối cùng của Evgheni Oneghin, việc Pushkin thay thế đoạn kết đã có sẵn trong bài thơ Napoleon bằng một mẩu câu bỏ lửng: “Thế giới trở nên hoang vắng…”, việc sử dụng câu thơ không vần trên cái nền chờ vần của độc giả v.v… Tương quan giữa yếu tố không sử dụng – thủ pháp – âm – với cấu trúc được độc giả chờ đợi và, đến lượt nó, tương quan giữa cấu trúc được chờ đợi với mức độ xác suất sử dụng trong vị thế cấu trúc nào đó của một yếu tố được định hình về mặt văn bản sẽ biến thông tin do sự thủ pháp – âm mang lại thành một đại lượng hoàn toàn thực tế và có thể đo lường. Vấn đề này là một phần của vấn đề mang tính khái quát cao hơn – vai trò cấu trúc của chỗ trống có nghĩa (“zero-probleme”), giá trị ngữ nghĩa của chỗ ngắt giọng, quy mô thông tin do sự im lặng nghệ thuật mang lại.

Điều kiện thiết yếu ở đây, như chúng ta thấy, là làm thế nào để yếu tố có nghĩa hoặc một tập hợp các yếu tố có nghĩa thuộc loại đồng nghĩa nào đó được đặt vào đúng vị trí giữ vai trò của thủ pháp-âm trong văn bản thuộc cấp độ này hay cấp độ kia phù hợp với cấu trúc mã của nó. Cho nên, văn bản dứt khoát phải nhập vào một cấu trúc ngoài văn bản phức tạp để tạo thành một cặp đối lập với nó.

Vẫn còn một nguyên nhân khác khiến cho vấn đề trở nên phức tạp: các cấu trúc ngoài văn bản làm thay đổi mức độ xác suất ở những yếu tố nào đó của chúng tuỳ thuộc vào việc, chúng có quan hệ hay không với “các cấu trúc của người nói” – tác giả, hay “các cấu trúc của người nghe”- độc giả, với toàn bộ sự phức tạp của vấn đề này trong nghệ thuật như là hệ quả tất yếu sẽ xẩy ra.

Khái niệm văn bản

Hoàn toàn có thể đưa ra những định nghĩa như sau làm nền tảng cho khái niệm văn bản:

1. Tính biểu thị. Văn bản được định hình bằng những ký hiệu cụ thể và với ý nghĩa như thế, nó đối lập với các cấu trúc ngoài văn bản. Với văn học nghệ thuật, trước hết, đó là sự biểu thị của văn bản bằng các ký hiệu của ngôn ngữ tự nhiên. Sự biểu thị, trái ngược với sự không biểu thị, buộc phải xem văn bản là sự hiện thực hoá một hệ thống nào đấy, là sự phản ánh vật chất của nó. Trong cặp đối lập ngôn ngữ và lời nói của de Saussure, văn bản bao giờ cũng thuộc về lĩnh vực lời nói. Với lý do như thế, văn bản bao giờ cũng có hàng loạt yếu tố hệ thống và những yếu tố ngoài hệ thống. Thật ra, việc kết hợp các nguyên tắc về trật tự cấp độ và sự chồng xếp đa tầng cấu trúc sẽ dẫn tới chỗ: cái ngoài hệ thống từ giá độ của một trong số những tiểu cấu trúc có thể trở thành cái hệ thống từ giác độ của một tiểu cấu trúc khác; và việc chuyển mã của văn bản sang ngôn ngữ cảm thụ nghệ thuật của cử toạ hoàn toàn có thể chuyển bất kỳ yếu tố nào vào tầng bậc của những cái thuộc hệ thống. Và toàn bộ sự hiện diện của các yếu tố ngoài hệ thống – hệ quả tất yếu của sự vật chất hoá, cũng như cảm giác cho rằng, cùng là những yếu tố như thế, nhưng ở cấp độ này, chúng có thể là những yếu tố thuộc hệ thống, nhưng ở cấp độ khác, chúng lại là những yếu tố ngoài hệ thống, – nhất thiết sẽ đi kèm với văn bản.

2. Tính phân giới. Tính phân giới là đặc trưng của văn bản. Về phương diện này, một mặt, văn bản đối lập với tất cả các ký hiệu được biểu hiện bằng vật chất không thuộc thành phần của nó, theo nguyên tắc can dự, nó đối lập với cái không can dự. Mặt khác, nó đối lập với tất cả các cấu trúc có dấu hiệu không phân giới – ví như cấu trúc của các ngôn ngữ tự nhiên, và các cấu trúc không phân giới (“cấu trúc mở”) của các văn bản bằng lời nói của nó. Nhưng trong hệ thống các ngôn ngữ tự nhiên cũng vẫn có những cấu trúc có phạm trù biểu hiện sự phân giới rõ rệt: ví như từ và, đặt biệt là câu. Không phải ngẫu nhiên mà chúng có vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc tổ chức văn bản nghệ thuật. Khi xưa, A.A.Potebnhia từng nói về tính đẳng cấu giữa từ với văn bản nghệ thuật. A.M.Piatigorski đã chỉ ra, mối văn bản có một ý nghĩa văn bản duy nhất và ở phương diện này, có thể xem nó là một tín hiệu không thể chia tách. “Thành tiểu thuyết”, “thành bài ký”, “thành văn khấn” – điều đó có nghĩa là hiện thực hoá một chức năng văn hoá nào đó và truyền đạt một ý nghĩa toàn vẹn nào đó. Mỗi một văn bản được người đọc xác định bằng một tổ hợp các dấu hiệu. Vì vậy, chuyển ký hiệu cho một văn bản khác là một trong những phương thức cơ bản dùng để tổ chức các nghĩa mới (dấu hiệu văn bản của một tài liệu được chuyển cho tác phẩm nghệ thuật v.v…).

Trong những loại hình văn bản khác nhau, khái niệm ranh giới được biểu hiện theo những kiểu khác nhau: đó là mở đầu và kết thúc ở cấu trúc triển khai trong thời gian, khung trong hội hoạ, hàng đèn trước sân khấu trong nhà hát. Sự phân giới giữa không gian cấu trúc (nghệ thuật) với không gian phi cấu trúc là phương thức cơ bản của điêu khắc và kiến trúc.

Tính phân cấp của văn bản, việc hệ thống của nó được tách ra thành cấu trúc phức tạp của những tiểu hệ thống sẽ dẫn tới chỗ: hàng loạt yếu tố thuộc cấu trúc bên trong sẽ được phân giới trong các tiểu hệ thống thuộc một loại hình khác (ranh giới của các chương, các khổ, các câu thơ, của các nhịp, phách…). Ranh giới chỉ cho người đọc, rằng anh ta đang tiếp xúc với văn bản bằng cách gợi dậy trong ý thức của anh ta toàn bộ hệ thống của các mã nghệ thuật tương ứng, rằng anh ta đang đứng ở một vị thế cấu trúc vững chắc. Do một loạt yếu tố này thì là tín hiệu của một ranh giới nào đó, còn những yếu tố khác lại là những tín hiệu của một số ranh giới trùng với vị thế chung trong văn bản (kết thúc chương cũng là kết thức cuốn sách), nên trật tự đẳng cấp của các cấp độ cho phép ta nói về vị thế chủ đạo của các ranh giới này hay ranh giới kia (ranh giới các chương giữa vị thế chủ đạo hơn so với ranh giới các khổ, ranh giới của tiểu thuyết giữ vị thế chủ đạo so với ranh giới các chương), nó mở ra khả năng đối sánh vai trò của các tín hiệu phân giới nào đó về phương diện cấu trúc. Song song với điều đó, sự bão hoà ranh giới nội tại của văn bản (sự hiện diện của “ngắt dòng”, phân khổ, hay phân đoạn cấu trúc, chia nhỏ thành các chương v.v…) và sự đánh dấu các ranh giới bên ngoài (mức độ đánh dấu các ranh giới bên ngoài có thể hạ sát tới mức mô phỏng chỗ ngắt máy móc của văn bản) cũng tạo ra cơ sở để phân loại các dạng kiến tạo văn bản.

3. Tính cấu trúc. Văn bản không phải là một trình tự giản đơn của các ký hiệu nằm ở khoảng cách giữa hai ranh giới bên ngoài. Văn bản bao giờ cũng là một tổ chức nội tại biến nó thành một chỉnh thể cấu trúc ở cấp độ ngữ đoạn. Vì thế, muốn thừa nhận một tổ hợp câu nào đó của ngôn ngữ tự nhiên là một văn bản nghệ thuật, cần phải chứng minh, chúng tạo thành một cấu trúc thuộc loại thứ cấp nào đó ở cấp độ tổ chức nghệ thuật.

Nên nhớ, tính cấu trúc và tính phân giới của văn bản gắn bó chặt chẽ với nhau.

Trật tự đẳng cấp của khái niệm văn bản

Cần nhấn mạnh rằng, khi bàn về tính biểu thị vật chất của văn bản, chúng tôi muốn nói tới một đặc điểm thể hiện tính riêng biệt cao nhất của các hệ thống ký hiệu. Thực thể vật chất hiện ra trong các hệ thống ký hiệu không phải là các “sự vật”, mà là tương quan giữa các sự vật. Cũng như thế, điều này còn thể hiện cả trong vấn đề văn bản nghệ thuật, loại văn bản được kiến tạo như một hình thái tổ chức, tức là như một hệ thống các quan hệ nào đó của những đơn vị vật chất tạo nên nó. Đây là lý do giải thích vì sao giữa các cấp độ khác nhau của văn bản có thể xác lập những mối liên hệ cấu trúc mang tính bổ trợ: quan hệ giữa các loại hình hệ thống. Có thể tháo dỡ văn bản thành nhiều tiểu văn bản (cấp độ âm vị, cấp độ cú pháp v.v…), trong đó, mỗi tiểu văn bản có thể xem là một đơn vị tổ chứ độc lập. Quan hệ cấu trúc giữa các cấp độ thể hiện đặc trưng của văn bản trong chỉnh thể của nó. Chính những mối liên hệ vững bền này (bên trong các cấp độ và giữa các cấp độ) mang lại cho văn bản đặc điểm của cái bất biến. Hoạt động của văn bản trong hoàn cảnh xã hội sẽ tạo ra xu hướng phân chia văn bản thành các biến thể. Với folklo và văn học trung đại, hiện tượng này đã được nghiên cứu kỹ lưỡng. Người ta thường nghĩ rằng, kỹ nghệ in ấn khiến văn hoá hiện đại bị lệ thuộc vào ngôn ngữ chữ viết, và như thế, nó sẽ làm triệt tiêu các biến thể của văn bản văn học. Điều này, không hẳn là như vậy. Chỉ cần ghi âm cách đọc cùng một bài thơ của nhiều người đọc khác nhau, ta sẽ thấy, văn bản in chỉ cho ra một loại hình văn bản cố định nào đó (ví như, ở cấp độ ngữ điệu), còn bản ghi âm thì có nhiều biến thể của nó. Nếu không nghiên cứu văn học hiện đại từ quan điểm nhà văn như chúng ta vẫn quen làm, mà nghiên cứu từ quan điểm độc giả, thì sự bảo tồn biến thể là thực tế hiển nhiên. Cuối cùng, vấn đề văn bản và các biến thể của nó cũng là vấn đề đối với các nhà văn bản học.

Việc văn bản là một hệ thống cố định của nhiều mối quan hệ bộc lộ rất rõ khi nghiên cứu giải cấu trúc các tác phẩm dở dang hoặc đã bị thất lạc. Hơn nữa, dù giới folklore đã có nhiều thành tựu trong việc nghiên cứu vấn đề này, dù với các nhà nghiên cứu văn hoá cổ-trung đại, nhiệm vụ ấy đã thành truyền thống, nhưng nó vẫn xuất hiện thường xuyên trước các nhà nghiên cứu văn học hiện đại. Cho nên, có thể chỉ ra, nhất là trong lĩnh vực Pushkin học, nhiều thử nghiệm giải cấu trúc các ý tưởng và dự định sáng tác của nhà thơ, những thử nghiệm lý thú nhằm khôi phục các văn bản đã bị thất lạc. Nếu văn bản không phải là một cấu trúc bất biến nào đó trong giới hạn của nó, thì không có cơ sở để đặt ra những nhiệm vụ như vậy.

Những rõ ràng là, từ hướng tiếp cận vấn đề như thế, có thể tập hợp một nhóm văn bản (ví như hài kịch Nga thế kỷ XVIII), rồi khảo sát nhóm văn bản ấy như một văn bản bằng cách mô tả hệ thống luật lệ cố định của nó và gắn toàn bộ những khác biệt với các biến nảy sinh trong quá trình hoạt động xã hội của nó. Cũng có thể tạo ra một sự trừu xuất tương tự như thế ở một cấp độ rất cao. Chắc chắn, nếu khảo sát khái niệm “văn học nghệ thuật thế kỷ XX” như một văn bản được đem ra mô tả nào đó với những tương quan phức tạp giữa các mối liên hệ biến thái và bất biến, trong hệ thống và ngoài hệ thống, thì đó là nhiệm vụ hoàn toàn khả thi.

Từ những gì đã nói, có thể thấy, nếu chọn một nhóm văn bản đẳng cấu theo một tương quan nào đó, rồi miêu tả chúng như một văn bản, thì trong tương quan với các văn bản được miêu tả, sự miêu tả tương tự như thế chỉ bao hàm các yếu tố của hệ thống, còn bản thân các văn bản, trong tương quan với sự miêu tả ấy, chỉ hoạt động như là sự kết hợp phức tạp của các yếu tố có tổ chức (yếu tố hệ thống, xung yếu) và vô tổ chức (ngoài hệ thống, thứ yếu). Bởi vậy, văn bản thuộc cấp độ cao hơn sẽ hoạt động như một ngôn ngữ miêu tả trong tương quan với các văn bản ở cấp độ thấp hơn. Và, đến lượt mình, ngôn ngữ miêu tả của các văn bản nghệ thuật, trong một tương quan nào đó, mang tính đẳng cấu với các văn bản ấy. Có một hệ quả khác: sự mô tả ở cấp độ cao nhất (ví như “văn bản nghệ thuật”), nếu nó chỉ bao hàm các tương quan hệ thống, sẽ là ngôn ngữ dùng để mô tả các văn bản khác, nhưng bản thân sự mô tả ấy không phải là văn bản (theo quy tắc: là hệ thống vật chất hoá, văn bản chứa đựng các yếu tố ngoài hệ thống).

Dựa vào các luận điểm nêu trên, có thể rút ra một quy tắc bổ ích. Thứ nhất: ngôn ngữ miêu tả văn bản là một trật tự cấp bậc. Không thể xáo trộn sự mô tả ở những cấp độ khác nhau. Cần phải giới thuyết chính xác, sự miêu tả đang được tiến hành ở cấp độ (các cấp độ) nào. Thứ hai: trong giới hạn của một cấp độ nào đó, sự miêu tả phải có tính cấu trúc và toàn vẹn. Thứ ba: các siêu ngôn ngữ ở những cấp độ khác nhau của sự miêu tả dứt khoát phải khác nhau.

Tuy nhiên, cần nhấn mạnh, rằng hiện thực được mô tả trong nghiên cứu không hoàn toàn đồng nhất với hiện thực được người đọc cảm nhận: trong sự mô tả của nhà nghiên cứu, trật tự cấp bậc của các văn bản tựa những chồng xếp lên nhau là một thực tế. Nhưng với người đọc, chỉ có một văn bản duy nhất do tác giả sáng tạo ra lại là một thực tế. Thể loại có thể là một văn bản thống nhất, nhưng không thể biến nó thành đối tượng thụ cảm nghệ thuật. Khi thụ cảm một văn bản do tác giả sáng tạo ra như một bản thể duy nhất, người tiếp nhận thông tin bao giờ cũng phân tích tất cả những gì được kiến tạo ở đó như một trật tự cấp bậc của các bộ mã làm hiển lộ ngữ nghĩa tiềm ẩn trong một tác phẩm nghệ thuật hiện hữu nào đấy với anh ta.

Bởi vậy, rõ ràng là, sẽ khôngthể có một định nghĩa hoàn chỉnh về văn bản nghệ thuật, nếu thiếu sự phân loại bổ trợ ở bình diện “người phát-người nhận”. Chẳng hạn, nhiều cách lý giải qua diễn xuất khác nhau của một vai, một vở nhạc kịch, một loại truyện kể trong hội hoạ (ví như bức Madonna và hài đồng) v.v…, nếu thụ cảm từ quan điểm này, thì chúng chỉ là sự lặp lại của một văn bản (sự khác biệt không được phát hiện. Cử toạ thiếu trình độ chuyên môn:trong bảo tàng Hermitage“mọi thứ giống hệt nhau”, “tất cả tranh thánh đều giống nhau như đúc”, hoặc “không thể phân biệt các nhà thơ thế kỷ XVIII”), hoặc là các phiên bản của cùng một văn bản cố định, nhưng nếu thụ cảm từ quan điểm khác chúng lại là những văn bản khác nhau, thậm chí đối lập với nhau.

Ký hiệu tạo hình bằng ngôn từ (hình tượng)

Thuộc tính mã hoá của các văn bản nghệ thuật – các hệ thống mô hình hoá – sẽ dẫn tới chỗ: một số dấu hiệu đặc trưng của chính văn bản như nó vốn dĩ, trong quá trình giao tiếp nghệ thuật được chuyển qua phạm vi của hệ thống mã hoá. Chẳng hạn, tính phân giới không chỉ là dấu hiệu cảu văn bản, mà còn trở thành thuộc tính cơ bản của ngôn ngữ nghệ thuật.

Bây giờ chúng tôi sẽ dừng lại ở vấn đề vềếy nghĩa tính phân giới như một nguyên tắc cấu trúc đối với kết cấu, mà cụ thể là sẽ dừng lại ở chỗ: điều ấy có hệ quả thế nào đối với ngôn ngữ nghệ thuật?

Nghệ thuật ngôn từ chỉ thực sự trở thành nghệ thuật khi nó nỗ lực khắc phục đặc điểm cố hữu của từ như một ký hiệu ngôn ngữ – mối liên hệ giữa các bình diện nội dung và biểu hiện không có sự chế định lẫn nhau – và xây dựng một mô hình nghệ thuật bằng lời theo nguyên tắc hình tượng hệt như trong các nghệ thuật tạo hình. Đó chẳng phải là điều ngẫu nhiên và nó gắn bó hữu cơ với số phận của các ký hiệu trong lịch sử văn hoá của nhân loại.

Với tính ước lệ trong quan hệ giữa cái được biểu đạt với cái biểu đạt, do chỉ có thể hiểu khi được gắn với một bộ mã nào đó, các ký hiệu của ngôn ngữ tự nhiên rất dễ trở thành cái không thể hiểu được và bất kỳ ở đâu, hễ hệ thống ngữ nghĩa mã hoá được bện kết vào đời sống xã hội là chúng lại trở thành cái dối trá. Ký hiệu như là nguồn mạch thông tin cũng dễ dàng trở thành phương tiện phao tin nhảm nhí, đánh lạc hướng xã hội.ỏTong đời sống văn hoá của nhân loại, xu hướng đấu tranh với ngôn từ, ý thức về khả năng lừa dối cắm rễ rất sâu trong bản chất của nó là nhân tố thường trực, chẳng kém gì xu hướng thán phục trước sức mạnh của nó. Không phải ngẫu nhiên mà hình thức thấu hiểu cao nhất đối với nhiều loại hình văn hoá được đặt vào dạng thức “thông hiểu không lời” và được liên hệ với sự giao tiếp ngoài lời như âm nhạc, tình yêu và ngôn ngữ biểu cảm cận ngôn ngữ học.

Các ký hiệu tạo hình có một đặc tính ưu việt: do cấu trúc ký hiệu và nội dung của đó đã nói lên sự tương đồng bền ngoài, mang tính trực quan, nên cũng không đòi hỏi phải am hiểu những bộ mã phức tạp (người tiếp nhận những thông tin như thế có cảm giác trong trường hợp này anh ta không sử dụng bất kỳ một loại mã nào cả). Có thể dẫn ra đây một thí dụ về ký hiệu giao thông theo kiểu hỗn hợp do hai yếu tố tạo thành: vạch cấm và mõm ngựa. Yếu tố thứ nhất có tính ước lệ: muốn hiểu ý nghĩa của nó cần nắm vững bộ mã dành riêng cho ký hiệu giao thông. Yếu tố thứ hai mang tính hình tượng và chỉ có thể dùng kinh nghiệm đời sống đã tích luỹ được để giải mã (người chưa bao giờ nhìn thấy ngựa sẽ không thể hiểu được). Nhưng chúng ta sẽ làm một thí nghiệm thầm trong óc: kết hợp ký hiệu cấm với một chữ số hoặc một từ. Cả hai yếu tố đều đúng luật, nhưng mức độ ước lệ của chúng sẽ rất khác nhau. Trên cái nền của ký hiệu giao thông tự động, có thể dựa vào một bộ mã chuyên ngành, chỉ có một phạm vi rất hẹp am hiểu, để giải mã, thì từ và chữ số sẽ trở nên nổi bật nhờ vào sự hiểu biết chung và về mặt chức năng chúng cũng tương đương như cái mõm ngựa hoặc bất kỳ một yếu tố hình tượng nào khác. Thí dụ về một ký hiệu ước lệ có thể tương đươcng với một ký hiệu tạo hình về mặt chức năng hết sức lý thú đối với văn học. Bằng chất liệu từ ngôn ngữ tự nhiên – hệ thống các ký hiệu ước lệ, nhưng được tập thể hiểu rõ tới mức, người ta không còn cảm thấy tính ước lệ ấy nữa trên cái nền của những “ngôn ngữ” khác, mang tính chuyên biệt lớn hơn,- và thế là xuất hiện ký hiệu thứ sinh thuộc loại tạo hình (có lẽ cần phải gắn nó với “hình tượng” của lý luận văn học truyền thống). Ký hiệu tạo hình thứ sinh có những đặc điểm của ký hiệu hình tượng: sự tương đồng trực tiếp với đối tượng, tính trực quan, nó tạo ra ấn tượng về sự chế định của mã ít hơn và vì thế – có vẻ như – đảm bảo tính chân thực lớn hơn, sự tường minh lớn hơn so với các ký hiệu ước lệ. Ở loại ký hiệu này có hai phương diện không thể tách riêng: sự tương đồng với đối tượng được nó biểu nghĩa và sự khác biệt với đối tượng được nó biểu nghĩa. Hai khái niệm ấy không thể tồn tại tách rời nhau.

Người dịch: Lã Nguyên

Nguồn: Лотман Ю.М. Структура художественного текста

 

[1] Tiếng Nga: “минус-приём”, thuật ngữ của Iu.Lotman, được ông sử dụng trong ký hiệu học đại cương để chỉ “sự vắng mặt có ý nghĩa”. Với sáng tác văn học, “thủ pháp-âm” là sự loại bỏ cố ý theo kiểu phá cách những yếu tố mang nghĩa nào đó trong văn bản thuộc phạm vi chờ đợi của độc giả.-ND.

Tiêu Chí Và Cấu Trúc Của Văn Bản Văn Học

Tiêu chí và cấu trúc của văn bản văn học I. Tiêu chí của văn bản văn học

Ngày nay, đa số nhận diện một văn bản văn học theo các tiêu chí sau:

1. Văn bản văn học là những văn bản đi sâu phản ánh hiện thực khách quan và khám phá thế giới tình cảm và tư tưởng, thoả mãn nhu cầu thẩm mĩ của con người.

Khái niệm về văn bản văn học là một vấn đề phức tạp, tuỳ thuộc vào quan niệm của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ lịch sử để xác định.

2. Văn bản văn học được xây dựng bằng ngôn từ nghệ thuật, có hình tượng, có tính thẩm mĩ cao( trau chuốt, biểu cảm, hàm sức và đa nghĩa)

3. Văn bản văn học được xây dựng theo một phương thức riêng (thuộc về một thể loại nhất định và theo những qui ước, cách thức của thể loại đó).

– Kịch: có hồi, có cảnh, có lời đối thoại, độc thoại …

– Thơ: có vần, có điệu, luật, có câu thơ, có khổ thơ …

– Truyện: có nhân vật, có sự việc, sự kiện, chi tiết, kết cấu cốt truyện, các loại lời văn …

Ranh giới giữa văn bản văn học và những văn bản phi văn học không phải lúc nào cũng rõ ràng, cố định

Ví dụ: + Có văn bản không phân biệt giữa văn sử (Sử kí Tư Mã Thiên) hay giữa triết văn (Nam Hoa kinh của Trang Tử)

+ Có những văn bản văn học là những sự kiện có ý nghĩa lịch sử xã hội (Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn, Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn, Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi)

-Nội dung 2: Cấu trúc của văn bản văn học

II. Cấu trúc của văn bản nghị luận 1. Tầng ngôn từ – từ ngữ âm đến ngữ nghĩa:

– Đọc văn bản ta phải hiểu đúng (rõ) ngữ nghĩa và ngữ âm của các ngôn từ.(tức là hiểu các nghĩa: nghĩa tường minh→nghĩa hàm ẩn; từ nghĩa đen đến nghĩa bóng của từ ngữ, là hiểu các âm thanh gợi ra khi đọc, khi phát âm)

Ví dụ 2: Từ ngôi sao nghĩa là “tỏa sáng”, chúng ta có ngôi sao điện ảnh, ngôi sao ca nhạc…với hàm nghĩa khen ngợi, ngưỡng mộ.

– Tầng ngôn từ là bước thứ nhất cần phải vượt qua để đi vào chiều sâu của văn bản.

2. Tầng hình tượng:

– Dùng ngôn từ nghệ thuật để xây dựng hình tượng

– Hình tượng trong văn bản được sáng tạo nhờ các chi tiết, cốt truyện, nhân vật, hoàn cảnh, tâm trạng mà có sự khác nhau. Hình tượng văn học có thể là: hình ảnh thiên nhiên, sự vật, con người.

– Ví dụ: SGK

– VD: Hình ảnh thiên nhiên: sen, tùng, cúc, trúc, mai…

+ Sự vật: xe ô tô: Bài thơ về tiểu đội xe không kính…

+ Con người: anh thanh niên trong Lặng lẽ sa pa; cô gái thanh niên xung phong trong Những ngôi sao xa xôi; chị Dậu trong Tắt đèn…

3. Tầng hàm nghĩa:

– Trong TPVH: Từ tầng ngôn từ đến tầng hình tượng, dần dần tìm ra tầng hàm nghĩa (ý nghĩa ẩn kín, ý nghĩa tiềm tàng) của văn bản.

– Hàm nghĩa:

+ Điều nhà văn muốn tâm sự, những thể nghiệm về cuộc sống, những quan niệm về đạo đức xã hội, những hoài bão …

– Ví dụ: SGK

III. Từ văn bản đến tác phẩm văn học

– VBVH chỉ là hệ thống kí hiệu chưa tác động đến con người và xã hội.

– TPVH thể hiện mối quan hệ giữa độc giả với TP, giữa độc giả với nhà văn. Người đọc hiểu TP thì lúc đó mới tác động đến con người và xã hội

IV. Luyện tập

* Văn bản “Nơi dựa”: SGK

* Tìm hiểu:

a. Bài thơ văn xuôi (có ý thơ, ngôn từ có nhịp điệu). Bài có 2 đoạn có cấu trúc tương tự nhau, gần như đối xứng với nhau:

– Câu đầu đoạn là câu hỏi của nhà thơ về 1 hiện tượng nhìn thấy trên đường

– Các câu tiếp diễn tả 2 nh n vật: nét mặt, đôi mắt, cử chỉ, cái miệng…

– Câu kết của mỗi đoạn vừa là câu hỏi vừa là nỗi băn khoăn, suy nghĩ về nơi dựa

– Các nhân vật được trình bày cốt làm nổi bật tính tương phản.

b. Hàm nghĩa những hình tượng: người đàn bà – em bé; người chiến sĩ – bà cụ già:

– Thông thường người yếu đuối tìm “nơi dựa” ở người vững mạnh. Ở đây ngược lại.

– Nơi dựa ở đây là tinh thần: nơi con người tìm thấy niềm vui và ý nghĩa của cuộc sống

→ phẩm giá nhân văn của con người, giúp con người vượt qua những trở ngại.

* Văn bản “Thời gian”: SGK

* Tìm hiểu:

a. Hàm nghĩa của các câu:

– Câu 3, 4: Thời gian qua đi, những kỉ niệm của đời người cũng rơi vào quên lãng, vô tăm tích. Như vậy cuộc đời và những kỉ niệm đều tàn tạ, đều bị thời gian xoá nhoà.

– Câu 5,6: sức sống mãnh liệt, tồn tại với thời gian của VHNT. NT đạt đến độ tuyệt vời sẽ tươi xanh mãi mãi, bất chấp thời gian.

– Câu kết: đôi mắt người yêu – kỉ niệm tình yêu như giếng nước không cạn, gợi lên những điều trong mát ngọt lành.

b. Ý nghĩa của bài thơ: Thời gian xóa nhòa tất cả, thời gian tàn phá cuộc đời con người. Duy chỉ có VHNT và kỉ niệm về tình yêu là có sức sống lâu dài.

* Văn bản “Mình và ta”: SGK

* Tìm hiểu:

a. Chế Lan Viên dùng thơ để nói lên quan niệm của mình về VHNT:

– Câu thơ 1,2 nói mối quan hệ thân thiết giữa bạn đọc (mình) và người viết (ta). Chỗ sâu thẳm trong tâm hồn người đọc cũng là chỗ sâu thẳm tâm hồn mà người viết tìm đến để khai thác, diễn tả.

– Vì mối quan hệ tương thông đó mà người viết mới có thể tiêu biểu cho tâm hồn dân tộc, có thể sáng tác những tráng ca về đất nước

b. Câu 3,4: Chế Lan Viên nói lên quá trình từ văn bản của nhà văn đến TPVH trong tâm trí người đọc. Viết không phải là nói hết, cạn lời, cạn ý. Nhà văn cần dành cho người đọc cơ hội tái tạo lại, tưởng tượng thêm, suy nghĩ rộng hơn thế giới NT được nói đến trong văn bản.

Theo chúng tôi

Soạn Bài: Tiêu Chí Và Cấu Trúc Của Văn Bản Văn Học

Tiêu chí và cấu trúc của văn bản văn học

I. Tiêu chí của văn bản văn học

Ngày nay, đa số nhận diện một văn bản văn học theo các tiêu chí sau :

1. Văn bản văn học là những văn bản đi sâu phản ánh hiện thực khách quan và khám phá thế giới tình cảm và tư tưởng, thoả mãn nhu cầu thẩm mĩ của con người. Khái niệm về văn bản văn học là một vấn đề phức tạp, tuỳ thuộc vào quan niệm của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ lịch sử để xác định.

2. Văn bản văn học được xây dựng bằng ngôn từ nghệ thuật, có hình tượng, có tính thẩm mĩ cao( trau chuốt, biểu cảm, hàm sức và đa nghĩa)

3. Văn bản văn học được xây dựng theo một phương thức riêng (thuộc về một thể loại nhất định và theo những qui ước, cách thức của thể loại đó). – Kịch : có hồi, có cảnh, có lời đối thoại, độc thoại … – Thơ : có vần, có điệu, luật, có câu thơ, có khổ thơ … – Truyện : có nhân vật, có sự việc, sự kiện, chi tiết, kết cấu cốt truyện, các loại lời văn … Ranh giới giữa văn bản văn học và những văn bản phi văn học không phải lúc nào cũng rõ ràng, cố định Ví dụ : + Có văn bản không phân biệt giữa văn sử (Sử kí Tư Mã Thiên) hay giữa triết văn (Nam Hoa kinh của Trang Tử) + Có những văn bản văn học là những sự kiện có ý nghĩa lịch sử xã hội (Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn, Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn, Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi) -Nội dung 2: Cấu trúc của văn bản văn học

II. Cấu trúc của văn bản nghị luận 1. Tầng ngôn từ – từ ngữ âm đến ngữ nghĩa : 2. Tầng hình tượng :

– Dùng ngôn từ nghệ thuật để xây dựng hình tượng – Hình tượng trong văn bản được sáng tạo nhờ các chi tiết, cốt truyện, nhân vật, hoàn cảnh, tâm trạng mà có sự khác nhau. Hình tượng văn học có thể là: hình ảnh thiên nhiên, sự vật, con người. – Ví dụ : SGK – VD: Hình ảnh thiên nhiên: sen, tùng, cúc, trúc, mai… + Sự vật: xe ô tô: Bài thơ về tiểu đội xe không kính… + Con người: anh thanh niên trong Lặng lẽ sa pa; cô gái thanh niên xung phong trong Những ngôi sao xa xôi; chị Dậu trong Tắt đèn…

3. Tầng hàm nghĩa : III. Từ văn bản đến tác phẩm văn học

– VBVH chỉ là hệ thống kí hiệu chưa tác động đến con người và xã hội. – TPVH thể hiện mối quan hệ giữa độc giả với TP, giữa độc giả với nhà văn. Người đọc hiểu TP thì lúc đó mới tác động đến con người và xã hội

IV. Luyện tập

* Văn bản “Nơi dựa” : SGK * Tìm hiểu : a. Bài thơ văn xuôi (có ý thơ, ngôn từ có nhịp điệu). Bài có 2 đoạn có cấu trúc tương tự nhau, gần như đối xứng với nhau : – Câu đầu đoạn là câu hỏi của nhà thơ về 1 hiện tượng nhìn thấy trên đường – Các câu tiếp diễn tả 2 nh n vật: nét mặt, đôi mắt, cử chỉ, cái miệng… – Câu kết của mỗi đoạn vừa là câu hỏi vừa là nỗi băn khoăn , suy nghĩ về nơi dựa – Các nhân vật được trình bày cốt làm nổi bật tính tương phản. b. Hàm nghĩa những hình tượng : người đàn bà – em bé; người chiến sĩ – bà cụ già : – Thông thường người yếu đuối tìm “nơi dựa” ở người vững mạnh. Ở đây ngược lại. – Nơi dựa ở đây là tinh thần : nơi con người tìm thấy niềm vui và ý nghĩa của cuộc sống → phẩm giá nhân văn của con người, giúp con người vượt qua những trở ngại.

* Văn bản “Thời gian” : SGK * Tìm hiểu : a. Hàm nghĩa của các câu : – Câu 3, 4 : Thời gian qua đi, những kỉ niệm của đời người cũng rơi vào quên lãng, vô tăm tích. Như vậy cuộc đời và những kỉ niệm đều tàn tạ, đều bị thời gian xoá nhoà. – Câu 5,6 : sức sống mãnh liệt, tồn tại với thời gian của VHNT. NT đạt đến độ tuyệt vời sẽ tươi xanh mãi mãi, bất chấp thời gian. – Câu kết : đôi mắt người yêu – kỉ niệm tình yêu như giếng nước không cạn, gợi lên những điều trong mát ngọt lành. b. Ý nghĩa của bài thơ : Thời gian xóa nhòa tất cả, thời gian tàn phá cuộc đời con người. Duy chỉ có VHNT và kỉ niệm về tình yêu là có sức sống lâu dài.

* Văn bản “Mình và ta” : SGK * Tìm hiểu : a. Chế Lan Viên dùng thơ để nói lên quan niệm của mình về VHNT : – Câu thơ 1,2 nói mối quan hệ thân thiết giữa bạn đọc (mình) và người viết (ta). Chỗ sâu thẳm trong tâm hồn người đọc cũng là chỗ sâu thẳm tâm hồn mà người viết tìm đến để khai thác, diễn tả. – Vì mối quan hệ tương thông đó mà người viết mới có thể tiêu biểu cho tâm hồn dân tộc, có thể sáng tác những tráng ca về đất nước b. Câu 3,4 : Chế Lan Viên nói lên quá trình từ văn bản của nhà văn đến TPVH trong tâm trí người đọc. Viết không phải là nói hết, cạn lời, cạn ý. Nhà văn cần dành cho người đọc cơ hội tái tạo lại, tưởng tượng thêm, suy nghĩ rộng hơn thế giới NT được nói đến trong văn bản.

Đọc Cấu Trúc Văn Bản Rừng Xà Nu

Rừng xà nu được viết ra vào giữa năm 1965, trong những ngày bắt đầu cuộc chiến tranh cục bộ của Mĩ ở miền Nam nước ta. “Đó là những ngày sôi sục, nghiêm trang, nghiêm trọng, lo lắng, quyết liệt, hào hứng, hào hùng : dân tộc ta bước vào cuộc chạm trán mất còn trực tiếp với đế quốc Mĩ”(1). Tuy kể về những sự kiện xảy ra trước đó mấy năm nhưng truyện ngắn này đã tiếp được hơi thở hào hùng của thời hiện đại và hiện thực được mô tả mang đậm ý nghĩa phổ quát. Chuyện làng Xô Man trở thành chuyện của cả “Đất nước đứng lên” trong cuộc đối đầu lịch sử. Hình tượng lớn bao trùm toàn tác phẩm là hình tượng những cây xà nu, rừng xà nu. Chính nó đã đem lại cho tác phẩm sức khái quát lớn cũng như sự sinh động, chân thực như cuộc đời. Và trước hết, nó khơi lên nguồn cảm hứng dạt dào ở người viết, trở thành điểm tựa, điểm gợi tứ để nhà văn suy ngẫm về mạch sống của đất nước và sức sống của nhân dân. Không phải ngẫu nhiên mà có một câu văn được lặp lại gần y nguyên đến hai lần ở phần đầu và phần kết thúc tác phẩm : “Đứng trên đồi xà nu ấy trông ra xa, đến hết tầm mắt cũng không thấy gì khác ngoài những đồi xà nu nối tiếp tới chân trời”. Đấy là một điệp khúc trầm hùng làm nền cho toàn bộ câu chuyện. Tác giả chưa bao giờ để gián đoạn mạch kể về rừng xà nu. Cây xà nu khi thì tách ra, khi thì hoà nhập với con người. Tả cây xà nu, tác giả ưa dùng thủ pháp nhân hoá, còn khi nói về con người, ông lại thường xuyên liên hệ, so sánh với cây xà nu. “Xà nu”, “xà nu” – tác phẩm trùng trùng điệp điệp những “xà nu” và đó chính là điểm khá cơ bản quy định chất thơ hào hùng của nó ( thơ, như có người nhận xét, là một kết cấu trùng điệp đầy âm vang). Hãy trở lại với đoạn đầu của truyện ngắn. Nhà văn đã đem hết bút lực của mình ra để tả một khu rừng xà nu. Đấy không phải là khu rừng xà nu chung chung, mà là khu rừng sát cạnh làng Xô Man, kề bên con nước lớn (nguồn sống của con người) và lọt trong tầm đại bác của đồn giặc. Ngay từ đầu, ta đã thấy rừng xà nu phải đối diện với những thử thách ác liệt, dữ dội. Thương tích là không thể tránh khỏi : “Cả rừng xà nu hàng vạn cây không có cây nào bị thương. Có những cây bị chặt đứt ngang nửa thân mình, đổ ào ào như một trận bão”. Nhưng sức sống mãnh liệt của rừng xà nu mới là điều tác giả muốn nhấn mạnh : “Trong rừng ít có loại cây sinh sôi nảy nở khoẻ như vậy. Cạnh một cây xà nu mới ngã gục, đã có bốn năm cây con mọc lên, ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời”. Chúng khoẻ vì chúng tha thiết với mặt trời : “Nó phóng lên rất nhanh để tiếp lấy ánh nắng, thứ ánh nắng trong rừng rọi từ trên cao xuống từng luồng lớn thẳng tắp, lóng lánh vô số hạt bụi vàng từ nhựa cây bay ra, thơm mỡ màng”. Thật là một đoạn miêu tả sống động, giàu chất tạo hình nhưng không chỉ có ý nghĩa tả thực. Rừng xà nu, đấy chính là một ẩn dụ về con người : con người đau khổ, con người bất khuất, con người khao khát tự do, con người của truyền thống anh hùng lớp trước lớp sau liên tục đứng lên bảo vệ phẩm giá của mình… Thêm nữa, rừng xà nu ở đây còn là một hình ảnh tượng trưng, một biểu tượng cho con người Tây Nguyên, cho cả một dân tộc hiệp sĩ : “Rừng xà nu ưỡn tấm ngực lớn của mình ra, che chở cho làng”. Trong hành động ưỡn tấm ngực lớn chứa đựng bao nhiêu là kiêu hãnh, nó biểu thị một phẩm chất phóng khoáng, hào hiệp và một hành động tự nguyện do xác định đúng vị trí đứng đầu bão táp của mình. Để diễn tả một nội dung phong phú như vậy qua hình tượng cây xà nu, tác giả đã sử dụng một giọng văn thiết tha pha chút cường điệu. Nhiều lúc như không nén nổi những xúc động đang tràn ngập vì yêu thương, vì khâm phục và cả vì kính trọng nữa, nhà văn đã thốt những lời nhận xét trực tiếp, để lộ cái “tôi” của mình : “Trong rừng có ít loại cây sinh sôi nảy nở khoẻ như vậy”, “Cũng ít có loại cây ham ánh sáng mặt trời đến thế”. Hàng loạt động từ, trạng từ gây cảm giác mạnh được huy động cho mục đích miêu tả: ào ào, ứa, tràn trề, ngào ngạt, long lanh, gay gắt, bầm, ngã gục, lao thẳng, phóng, vượt, ưỡn v.v… Đặc biệt, tác giả đã sử dụng rất đắt cái nhìn của điện ảnh để cho sự vật hiện lên động và nét hơn. ống kính của ông khi thì lùi ra xa để ghi lấy toàn cảnh rừng xà nu, khi lại rà sát, soi kĩ dáng vươn lên kiêu dũng của những vây xà nu con. Có lúc tác giả quay chếch ống kính, để, trước mắt ta, màn ảnh như chao đảo : một cảnh tượng tuyệt vời nên thơ, tráng lệ hiện ra : “ánh nắng trong rừng rọi từ trên cao xuống từng luồng lớn thẳng tắp…” Mạch cảm xúc đã được khơi lên. Hướng đi của ngòi bút đã được hình dung. Điểm “neo” những ấn tượng và quan sát phong phú về hiện thực đã được xác định với một cái làng cụ thể. Từ đây, toàn bộ câu chuyện cứ thế mà tuôn chảy và hiện rõ trước mắt người viết, người đọc mồn một từng chi tiết, từng hình ảnh.

Xác Định Cấu Trúc Văn Bản, Hỗ Trợ Kỹ Năng Đọc Hiểu

Văn bản dạng mô tả, giải thích, trình bày (expository text) có thể là thử thách đối với những bạn đọc nhỏ tuổi. Bởi lẽ:

Có những khái niệm trẻ chưa biết xuất hiện trong văn bản

Có những từ mới mà trẻ chưa hề biết, chưa quen

Hướng dẫn trẻ cách phân tích cấu trúc văn bản dạng này sẽ giúp trẻ dễ dàng hơn khi xác định ý chính và ý bổ trợ.

Cấu trúc văn bản (Text structure) là gì?

Cấu trúc văn bản hay cách thức tổ chức văn bản là sự sắp xếp các ý tưởng và mối quan hệ giữa các ý tưởng – Theo Armbruster, 2004.

Các bước tuần tự của quá trình tìm hiểu về cấu trúc văn bản

Trước hết, trẻ cần học xác định: cấu trúc văn bản dạng tường thuật giống cấu trúc của các câu chuyện kể. Việc này tạo tiền đề và hỗ trợ quá trình học đọc của trẻ.

Sau đó, khi bắt đầu đi học, trẻ sẽ nhận diện và hiểu được cấu trúc văn bản trong những nội dung mình học.

Suốt những năm học sau này, nhận thức về cấu trúc văn bản của trẻ phải tăng lên khi trẻ chuyển từ đọc truyện hoặc văn bản thông thường sang đọc để tìm kiếm thông tin.

Cho tới lớp 3 và trước khi vào lớp 4, trẻ từ chỗ đọc văn bản để tìm thông tin chuyển sang tìm thông tin trong những văn bản dài và khó hơn.

Tầm quan trọng của xác định cấu trúc văn bản?

Theo Meyer (2003), người đọc đủ mọi lứa tuổi phải hiểu về cấu trúc văn bản nếu muốn đọc hiểu thành công.

Phần lớn văn bản dạng mô tả, giải thích, trình bày đều chứa các yếu tố cấu trúc. Các tác giả sử dụng những cấu trúc này để sắp xếp và liên kết ý tưởng. Những trẻ hiểu và biết cách phân tích cấu trúc văn bản có thể học được nhiều hơn trẻ thiếu đi hiểu biết này.

Nghiên cứu chỉ ra rằng, kỹ năng đọc hiểu của trẻ được cải thiện khi chúng hiểu về cấu trúc văn bản cũng như cách sử dụng cấu trúc văn bản hợp lý.

Cụ thể hơn, nắm vững cấu trúc văn bản giúp trẻ:

nhớ lại nội dung đã đọc dễ dàng và chính xác hơn

nhận biết mối quan hệ ý chính – ý bổ trợ rõ ràng hơn.

xử lý thông tin thu được từ việc đọc hiệu quả hơn.

Ví dụ:

Tựa đề/ tiêu đề (heading) giúp trẻ biết, mình đang hướng tới thông tin cụ thể nào.

Từ đó, trẻ lưu giữ mỗi thông tin đó vào trí nhớ ngắn hạn.

Tiếp theo, trẻ sẽ xử lý thông tin hoặc kết nối nó với kiến thức nền rồi lưu trữ vào trí nhớ dài hạn.

Nếu không có tựa đề, thông tin có thể trở nên quá tải với trẻ. Kết quả, việc xử lý thông tin gặp nhiều khó khăn.

Phân loại các dạng cấu trúc văn bản

Theo Mayer (1985), có 5 dạng cấu trúc văn bản chính:

2. Xâu chuỗi: Tác giả sử dụng trình tự số hoặc trình tự thời gian để liệt kê các vật, các sự kiện.

4. Nguyên nhân/Kết quả: Tác giả phác hoạ 1 hoặc nhiều hơn 1 nguyên nhân và sau đó mô tả kết quả tương ứng.

5. Vấn đề/Giải pháp: Tác giả đặt vấn đề hoặc câu hỏi, sau đó, đưa ra câu trả lời.

Dạy trẻ cấu trúc văn bản dạng mô tả, trình bày, giải thích như thế nào?

Theo Tompkins (1998), bạn có thể áp dụng 3 bước sau để hướng dẫn trẻ về cấu trúc văn bản:

1. Giới thiệu một mẫu cấu trúc văn bản:

Bạn giới thiệu các từ/cụm từ dấu hiệu (signal words/phrases) biểu thị mỗi dạng cấu trúc văn bản. Sau đó, đưa cho trẻ 1 biểu đồ dạng Graphic Organizer tương ứng với mỗi mẫu cấu trúc.

2. Để trẻ thực hành với văn bản

Hướng dẫn trẻ phân tích cấu trúc văn bản trong các cuốn sách cung cấp thông tin, chứ không phải trong các câu chuyện. Ở giai đoạn này, trẻ học cách nhận biết từ/cụm từ dấu hiệu. Trẻ có thể sử dụng Graphic Organizer để minh hoạ cho từng mẫu cấu trúc.

3. Đề nghị trẻ viết các đoạn văn sử dụng các cấu trúc văn bản tìm được.

Nếu có nhóm trẻ, hãy để trẻ thực hiện hoạt động viết theo nhóm trước, rồi theo cặp và độc lập 1 mình.

Sau đó, đề nghị trẻ viết bản nháp, sử dụng từ/cụm từ dấu hiệu.

Biên tập, chỉnh sửa bản nháp để hoàn thiện đoạn văn cuối cùng.

Lưu ý quan trọng khi hướng dẫn trẻ về cấu trúc văn bản Lưu ý 1:

Mỗi lần, chỉ dạy trẻ về một dạng cấu trúc văn bản nhất định. Không kết hợp các dạng cấu trúc với nhau ở giai đoạn này.

Lưu ý 2:

Mỗi dạng cấu trúc văn bản nên hướng dẫn trẻ trong vòng 3-4 lần. Sau đó, chuyển sang dạng cấu trúc tiếp theo.

Lưu ý 3:

Chuẩn bị những đoạn văn ngắn (khoảng 6-8 dòng) khi dạy về từng dạng cấu trúc văn bản.

Lưu ý 4:

Cố gắng đánh dấu hay làm nổi bật từ/cụm từ dấu hiệu. Việc nhận biết của trẻ sẽ hiệu quả hơn khi đề nghị trẻ viết đoạn văn có sử dụng từ/cụm từ dấu hiệu.

Lưu ý 5:

Bước tiếp theo sẽ là tận dụng lợi ích của Graphic Organizer. Đầu tiên, bạn hãy giao cho trẻ một mẫu Graphic Organizer hoàn chỉnh, trong đó thể hiện cấu trúc văn bản mà trẻ đang học.

Lưu ý 6:

Khi trẻ đã thành thạo sử dụng nhiều loại Graphic Organizer khác nhau, bạn có thể đưa cho trẻ một mẫu chưa hoàn chỉnh. Đề nghị trẻ điền nốt vào những phần còn trống sau khi đọc xong đoạn văn.

Lưu ý 7:

Cuối cùng, giao cho trẻ 1 Graphic Organizer hoàn toàn để trống. Trẻ sẽ tự hoàn tất mọi việc.

Lưu ý 8:

Tăng dần độ dài, độ khó của văn bản để trẻ thực hành xác định cấu trúc.

Ví dụ cụ thể về 5 cấu trúc văn bản chính

(Tham khảo từ tài liệu của Emily Kissner)

1. Mô tả

The pond was a beautiful place to visit. The falling leaves, all different colors, decorated the surface of the water. At the edges of the pond, small wildflowers grew. The golden forest glowed faintly in the distance.

Đoạn văn có cấu trúc dạng Mô tả. Tác giả bắt đầu bằng 1 câu nêu ý chính: Ao nước rất đẹp. Các ý sau làm rõ (mô tả cụ thể) vẻ đẹp đó.

Các từ/cụm từ dấu hiệu trong đoạn văn trên là: One reason, another reason, và for example

2. Xâu chuỗi

Dễ dàng nhận ra cấu trúc dạng xâu chuỗi (trình tự) trong các đoạn mô tả cách thức làm gì đó theo từng bước.

Từ/cụm từ dấu hiệu là: First; Then; After; Finally

Have you ever made macaroni and cheese? It’s simple! First, boil some water and make some macaroni. Then, make your cheese sauce. After the cheese sauce is ready, mix it with the macaroni. Bake the entire thing in the oven. Finally, it’s time to eat!

Through the ages, Pennsylvania has seen many interesting events. The state was founded in 1681 by William Penn. Later, Pennsylvania was the site of important Revolutionary War battles. After that, Pennsylvania was home to new factories during the Industrial Revolution. Today, Pennsylvania continues to make history.

Trong đoạn văn trên, có thể xác định cấu trúc là dạng Xâu chuỗi (trình tự).

Từ/cụm từ dấu hiệu: Through the ages; Later; After that; Today.

3. So sánh/Đối lập

Đoạn văn trên có cấu trúc So sánh/Đối lập. Tác giả chỉ ra điểm giống và khác của 2 loài chim.

Từ/cụm từ dấu hiệu: Both; Differences; While; On the other hand

4. Nguyên nhân/Kết quả

The night’s snowstorm had many effects. People were out shoveling snow from their sidewalks. The power lines were draped with ice. Snow plows drove down every street. Children were the happiest of all. The unexpected snow caused school to be cancelled!

Đoạn văn trên có cấu trúc Nguyên nhân/Kết quả. Tác giả chỉ ra hậu quả của trận bão tuyết trong đêm.

Từ/cụm từ dấu hiệu: effect, caused

Baby painted turtles spend all winter in their nests. They have special chemicals in their blood that can keep their blood from freezing. As a result, baby painted turtles can survive freezing temperatures!

Đoạn văn trên có cấu trúc Nguyên nhân/Kết quả. Tác giả chỉ ra vì sao loài rùa bản địa Bắc Mỹ lại có khả năng sống sót trong nhiệt độ băng giá (câu văn thứ hai).

Từ/cụm từ dấu hiệu: As a result

5. Vấn đề/Giải pháp

Park School had a terrible problem. Every day at recess, students would argue over the slides. Teachers had to spend time every day taking care of the arguments. Finally, one teacher came up with a great solution. They bought another set of slides that everyone could enjoy.

Đoạn văn trên có cấu trúc Vấn đề/Giải pháp. Tác giả chỉ ra vấn đề ở câu văn thứ 2: trẻ tranh cãi nhau lượt chơi cầu trượt. Sau đó, đưa ra giải pháp ở câu cuối cùng: nhà trường mua thêm cầu trượt mới.

Từ/cụm từ dấu hiệu: Terrible problem; Great Solution

The Chesapeake Bay faces an uncertain future. Issues such as pesticides, too many nutrients, and habitat loss all threaten the Bay’s water quality and animal life. However, scientists are hopeful that the future may be brighter. If everyone in the Chesapeake Bay watershed works together, solutions may be found.

Đoạn văn trên có cấu trúc Vấn đề/Giải pháp. Tác giả chỉ ra các vấn đề như thuốc trừ sâu, quá nhiều dưỡng chất, môi trường sống biến mất đang đe doạ Vịnh Chesapeake. Giải pháp đưa ra là mọi người cùng hợp tác với nhau để cải thiện tình hình.

Từ/cụm từ dấu hiệu: Uncertain, issues, threaten, hopeful, solutions

Tham khảo từ Reading Rocket

Khái Niệm Cấu Trúc Vốn Và Nhân Tô Ảnh Hưởng Đến Cấu Trúc Vốn

1. Khái niệm về cấu trúc vốn và chi phí sử dụng vốn

Vốn là một điều kiện tiên quyết để cho một doanh nghiệp có thể ra đời và hoạt động. Mỗi một loại nguồn vốn đều có chi phí và sử dụng nhất định. Do vậy, để có thể huy động, quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn của mình, doanh nghiệp phải nghiên cứu từng nguồn vốn của mình, doanh nghiệp phải nghiên cứu chi phí của từng nguồn vốn cụ thể để từ đó xác định cho mình một cơ cấu hợp lý phù hợp với từng điều kiện cụ thể, từng giai đoạn của doanh nghiệp.

1.1 Khái niệm về cấu trúc vốn.

Vấn đề đặt ra ở đây là liệu một Công ty nào đó có thể tác động đến giá trị và chi phí sử dụng vốn của nó bằng cách thay đổi cấu trúc vốn hay không? Và quyết định đầu tư hay không đầu tư vào một dự án nào đó có thay đổi không và thu nhập của cổ đông thay đổi hay không? Mục tiêu của bài này là xem xét và phân tích sự ảnh hưởng của cấu trúc vốn lên giá trị doanh nghiệp và thu nhập của cổ đông.

Một Công ty có thể có một cấu trúc vốn tối ưu bằng cách sử dụng đòn bẩy tài chính phù hợp. Như vậy Công ty có thể hạ thấp chi phí sử dụng vốn thông qua việc gia tăng sử dụng nợ (vì khi sử dụng nợ Công ty sẽ được hưởng lợi ích từ tấm chắn thuế). Tuy nhiên khi tỷ lệ nợ gia tăng thì rủi ro cũng gia tăng do đó nhà đầu tư sẽ gia tăng tỷ lệ lợi nhuận đòi hỏi rE. Mặc dù sự gia tăng rE lúc đầu cũng không hoàn toàn xóa sạch lợi ích của việc sử dụng nợ như là một nguồn vốn rẻ hơn cho đến khi nào nhà đầu tư tiếp tục gia tăng lợi nhuận đòi hỏi khiến cho lợi ích của việc sử dụng nợ không còn nữa.

Chi phí sử dụng vốn cũng có thể được hiểu như là tỷ suất sinh lợi tối thiểu mà doanh nghiệp đòi hỏi khi thực hiện một dự án mới. Nếu một dự án mới tạo được tỷ suất sinh lợi nộ bộ IRR lớn hơn chi phí sử dụng vốn thì giá trị của doanh nghiệp sẽ tăng. Ngược lại, nếu một dự án đầu tư mới tạo ra IRR thấp hơn chi phí sử dụng vốn, giá trị của doanh nghiệp sẽ giảm.

1.2. Các nhân tố cấu thành cấu trúc vốn.

a./ Nguồn vốn vay:

Trong nền kinh tế thị trường,hầu như không một doanh nghiệp nào hoạt động sản xuất kinh doanh chỉ bằng nguồn vốn tự có mà đều phải hoạt động bằng nhiều nguồn vốn, trong đó nguồn vốn vay sử dụng đáng kể.

Vay ngắn hạn:

Thời gian đáo hạn ngắn hơn một năm

Lãi suất của nguồn vốn vay ngắn hạn thường thấp hơn tín dụng dài hạn Thuờng được bổ sung vốn lưu động

Vay dài hạn:

Thời gian đáo hạn dài hơn một năm

Lãi suất vay dài hạn thường cao hơn so với lãi suất vay ngắn hạn

Thường được dùng để bổ sung cho vốn xây dựng cơ bản hay mua sắm tài sản cố định.

Nguồn vốn vay này có thể được huy động từ các tổ chức tài chính,ngân hàng hay việc phát hành trái phiếu. Việc doanh nghiệp sử dụng loại nguồn vốn vay này nhiều hay ít thì còn tùy thuộc vào đặc điểm của loại hình doanh nghiệp và doanh nghiệp đang ở trong chu kỳ sản xuất kinh doanh

b/ Nguồn vốn chủ sở hữu

Nói đến nguồn vốn chủ sở hữu là nói đến nguồn vốn đầu tiên mà doanh nghiệp huy động được.Bởi vì,đối với một doanh nghiệp trước khi đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp phải có vốn điều lệ (vốn góp nếu doanh nghiệp cổ phần,hoặc là vốn ngân sách nhà nước cấp nếu là doanh nghiệp nhà nước)

Tỷ trọng nguồn vốn chủ sở hữu trong tổng tài sản nợ phản ánh tình hình tự chủ về tài chính của doanh nghiệp.

Tóm lại: Khác biệt cơ bản giữa nguồn vốn vay và nguồn vốn chủ sở hữu là:

* Nguồn vốn vay:

Doanh nghiệp nhận được nguồn vốn này không phải từ chủ sở hữu

Phải trả lãi vay cho các khoản tiền vay

Mức lãi suất phải trả cho các khỏan vay theo mức ổn định,được thỏa thuận khi vay

Doanh nghiệp phải hòan trả nợ khi đáo hạn,ngọai trừ nguồn huy động từ tín dụng ưu đãi.

Doanh nghiệp có thể phải thế chấp tài sản hay nhờ bảo lãnh khi vay nợ.

Do các chủ sở hữu của doanh nghiệp đóng góp

Chỉ chia lợi tức cho chủ sở hữu nếu doanh nghiệp có lợi nhuận

Lợi tức chia cho các chủ sở hữu tùy theo quyết định của Hội Đồng Quản Trị và tùy thuộc vào mức lợi nhuận thu được của công ty.

Doanh nghiệp không phải hòan trả tiền vốn đã nhận từ chủ sở hữu,trừ khi doanh nghiệp phá sản

Doanh nghiệp không phải thế chấp khi huy động vốn

Các tỷ số đo lường cấu trúc vốn

Các tỷ số thường được để đánh giá và xem xét cấu trúc vốn của Doanh Nghiệp. Tỷ số nợ dài hạn trên vốn chủ sở hữu = Nợ dài hạn / Vốn chủ sở hữu

Nợ dài hạn: là những khỏan nợ có thời hạn thanh tóan trên một năm chẳng hạn như vay dài hạn bằng phát hành trái phiếu,tài sản thuê mua.

Vốn chủ sở hữu bao gồm: Vốn cổ phần và lợi nhuận giữ lại

Vốn cổ phần = Mệnh giá cổ phiếu x Số cổ phiếu đang lưu hành

Thu nhập giữ lại là thu nhập ròng sau khi đã chi trả cho cổ đông dưới dạng cổ tức.

Vốn cổ phần = P x N

Trong đó:

P: Giá thị trường tại thời điểm lập báo cáo

N: Số cổ phiếu đang lưu hành

Tỷ Số nợ = Nợ dài hạn/ Tổng tài sản

Tổng tài sản bao gồm: Tài sản lưu động và tài sản cố định hay là tổng giá trị tòan bộ kinh phí đầu tư cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong phần bên trái của bảng cân đối kế toán.

Tỷ số này cho thấy gánh nặng nợ của doanh nghiệp:

Chỉ số thanh toán ngắn hạn = Tổng tài sản / Tổng nợ ngắn hạn

2. Ý nghĩa của việc nghiên cứu cấu trúc vốn trong quản trị tài chính:

Khái niệm về cấu trúc vốn

Cấu trúc vốn là vấn đề đã được các nhà nghiên cứu kinh tế -tài chính quan tâm và để nhiều thời gian nghiên cứu.Đứng trên góc độ nhà quản lý tài chính tại doanh nghiệp việc nghiên cứu cấu trúc vốn giúp họ tìm ra lời giải cho những câu hỏi sau:

Xác định cấu trúc vốn như thế nào là hợp lý và có lợi cho doanh nghiệp?

Nên vay nợ hay là không?

Nếu vay nợ, doanh nghiệp gánh chịu rủi ro ở mức độ nào?

Nếu bạn không có nhiều kinh nghiệm trong việc viết luận văn, luận án hay khóa luận tốt nghiệp. Bạn cần đến dịch vụ làm luận văn thuê để giúp mình hoàn thành những bài luận đúng deadline? Khi gặp khó khăn về vấn đề viết luận văn, luận án hay khóa luận tốt nghiệp, hãy nhớ đến Tổng đài tư vấn luận văn 1080, nơi giúp bạn giải quyết những khó khăn mà chúng tôi đã từng trải qua.

3. Cấu trúc vốn tối ưu và các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn

Cấu trúc vốn (capital structure) là quan hệ về tỷ trọng của từng loại vốn dài hạn bao gồm nợ, vốn cổ phần ưu đãi và vốn cổ phần thường trong tổng số nguồn vốn của công ty.

3.1. Khái niệm cấu trúc vốn và cấu trúc vốn tối ưu.

Cấu trúc vốn (capital structure) là quan hệ về tỷ trọng của từng loại vốn dài hạn bao gồm nợ, vốn cổ phần ưu đãi và vốn cổ phần thường trong tổng số nguồn vốn của công ty.

Cấu trúc vốn tối ưu là hỗn hợp nợ dài hạn, cổ phần ưu đãi, và vốn cổ phần thường cho phép tối thiểu hóa chi phí sử dụng vốn bình quân của doanh nghiệp. Với cấu trúc vốn có chi phí sử dụng vốn bình quân được tối thiểu hóa, tổng giá trị các chứng khoán của doanh nghiệp được tối đa hóa.

Số lượng nợ trong cấu trúc vốn tối ưu của doanh nghiệp được gọi là khả năng vay nợ của doanh nghiệp. Do đó khả năng vay nợ của một doanh nghiệp được xác định bởi các yếu tố rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp, thuế suất thuế thu nhập của doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân, mức độ phá sản có thể có chi phí đại lý, vai trò của chính sách cấu trúc vốn trong việc cung cấp các tín hiệu về thành quả của doanh nghiệp cho các thị trường vốn.

Do đó, cấu trúc vốn có chi phí sử dụng vốn tối thiểu được gọi là cấu trúc vốn tối ưu. Rủi ro tài chính của một doanh nghiệp là tính khả biến thêm của thu nhập mỗi cổ phần với xác suất gia tăng của mất khả năng chi trả bắt nguồn từ việc doanh nghiệp sử dụng các nguồn vốn có chi phí tài chính cố định, như là nợ và cổ phần ưu đãi trong cấu trúc vốn của mình. Việc sử dụng đòn bẩy tài chính đưa đến một gia tăng trong rủi ro cảm nhận được cho các nhà cung cấp vốn của doanh nghiệp.

Để bù đắp rủi ro gia tăng này, lợi nhuận đòi hỏi sẽ cao hơn. Các thay đổi cấu trúc vốn thường chuyển các tín hiệu thông tin quan trọng về viễn cảnh tương lai của doanh nghiệp đến nhà đầu tư.

3.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn

Rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp : Khi một doanh nghiệp ở trong giai đọan gặp phải khó khăn trong kinh doanh do bị cạnh tranh về giá cả hoặc việc vừa đưa ra thị trường một sản phẩm mới nên chưa có thị phần và phải chấp nhận thua lỗ trong thời gian này… Trong những trường hợp này các doanh nghiệp thường không mạo hiểm trong việc sử dụng nợ vay để bổ sung vốn kinh doanh góp phần làm thay đổi cấu trúc vốn hiện tại của doanh nghiệp.

Chính sách thuế của quốc gia cũng tác động trực tiếp đến cấu trúc vốn của một doanh nghiệp .Trong trường hợp doanh nghiệp sử dụng nợ thì phải trả khoản chi phí sử dụng vốn vay. Những khoản chi phí này lại được tính sau thuế do đó nếu chính sách của một qua gia phù hợp thì doanh nghiệp sẽ sử dụng nợ vì lãi vay thực sự mà doanh nghiệp phải trả sau thuế rất thấp.Như vậy cấu trúc vốn tác động đến quyết định chọn cấu trúc vốn thâm dụng nợ hay thâm dụng vốn cổ phần.

Tình hình tài chính của doanh nghiệp sẽ tác động trực tiếp đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp.Trong trường hợp thiếu vốn muốn tăng vốn hoạt động thì doanh nghiệp phải quyết định chọn nguồn nào để bổ sung,nếu doanh nghiệp mà quyết định sử dụng nợ vay thì cấu trúc vốn của doanh nghiệp sẽ thiên về sử dụng nợ nhưng nếu doanh nghiệp có nguồn vốn tích lũy để cung cấp cho hoạt động kinh doanh thì khi đó doanh nghiệp sẽ sử dụng vốn bỏ sung mà không sử dụng vốn vay. Như vậy Chính khả năng tài chính của doanh nghiệp sẽ quyết định có nên vay hay là không.

Quan điểm của nhà quản lý quyết định có nên sử dụng nợ vay hay là không. Thực tế có một số nhà quản lý sẵn sàng sử dụng nợ để tăng lợi nhuận nhưng cũng có những nhà quản lý khác lại e dè khi quyết định sử dụng nợ chúng tôi đó quan điểm của nhà quản trị hết sức quan trọng trong việc ra quyết định này

Cập nhật thông tin chi tiết về Văn Bản Và Cấu Trúc Ngoài Văn Bản trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!