Xu Hướng 2/2023 # Vấn Đề Pháp Lý Và Những Tranh Chấp Trong Hợp Đồng Xây Dựng Thường Gặp # Top 11 View | Bac.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Vấn Đề Pháp Lý Và Những Tranh Chấp Trong Hợp Đồng Xây Dựng Thường Gặp # Top 11 View

Bạn đang xem bài viết Vấn Đề Pháp Lý Và Những Tranh Chấp Trong Hợp Đồng Xây Dựng Thường Gặp được cập nhật mới nhất trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Vấn đề pháp lý và những tranh chấp trong hợp đồng xây dựng thường gặp

Vấn đề pháp lý và những tranh chấp trong hợp đồng xây dựng thường gặp đây là nội dung tư vấn của Luật sư Nguyễn Trinh Đức trên báo chúng tôi của Bộ Tư Pháp.

Người dẫn chương trình: Thưa Luật sư, xin Luật sư cho biết hiện nay, pháp luật quy định về “Hợp đồng xây dựng” như thế nào?

LS Nguyễn Trinh Đức – Công ty Luật TNHH IPIC: Theo quy định tại Điều 138 Luật Xây dựng năm 2014: “Hợp đồng xây dựng là hợp đồng dân sự được thỏa thuận bằng văn bản giữa bên giao thầu và bên nhận thầu để thực hiện một phần hay toàn bộ công việc trong hoạt động đầu tư xây dựng”.

Người dẫn chương trình: Thưa Luật sư, thực tế hiện nay những tranh chấp nào về Hợp đồng xây dựng thường hay gặp phải nhất?

LS Nguyễn Trinh Đức – Công ty Luật TNHH IPIC.

Song song với đó, cũng có những vấn đề tranh chấp (nhưng ít xảy ra): về thời gian và tiến độ thực hiện công việc (03 bản án); chất lượng sản phẩm và nghiệm thu, bàn giao sản phẩm (04 bản án);

Các địa phương xảy ra nhiều tranh chấp nhất trên trang Bản án như: Thành phố Hà Nội (42 bản án), Thành phố Hồ Chí Minh (21 bản án), còn lại là các địa phương khác như: Thành phố Đà Nẵng, Thành phố Hải Phòng, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Thanh Hóa,….

Người dẫn chương trình: Như Luật sư có nói, hiện nay việc tranh chấp về việc thanh toán trong Hợp đồng xây dựng diễn ra rất nhiều. Vậy Luật sư có thể nói rõ hơn về việc tranh chấp về thanh toán trong hợp đồng xây dựng lại diễn ra nhiều như vây?

LS Nguyễn Trinh Đức – Công ty Luật TNHH IPIC: Như tôi đã nói ở trên. Từ đầu năm 2018 đến tháng 07/2019. Có khoảng 128 bản án tranh chấp về xây dựng được Tòa án nhân dân các cấp tuyên (chưa kể các vụ án được giải quyết tại trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam). Trong đó có khoảng 121 bản án giải quyết tranh chấp về Thanh toán trong hợp đồng xây dựng.

Theo quy định tại khoản 1, 2, 3 Điều 19 Nghị định 37/2015/NĐ-CP:

“1. Việc thanh toán hợp đồng xây dựng phải phù hợp với loại hợp đồng, giá hợp đồng và các điều kiện trong hợp đồng mà các bên đã ký kết. Khi thanh toán theo các thỏa thuận trong hợp đồng các bên không phải ký phụ lục hợp đồng, trừ trường hợp bổ sung công việc chưa có trong hợp đồng.

Các bên thỏa thuận trong hợp đồng về số lần thanh toán, giai đoạn thanh toán, thời điểm thanh toán, thời hạn thanh toán, hồ sơ thanh toán và điều kiện thanh toán.

Bên giao thầu phải thanh toán đầy đủ (100%) giá trị của từng lần thanh toán cho bên nhận thầu sau khi đã giảm trừ tiền tạm ứng, tiền bảo hành công trình theo thỏa thuận trong hợp đồng, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác”.

  Như vậy, pháp luật cũng quy định rõ về việc thanh toán được các bên tự thỏa thuận và được ghi nhận trong hợp đồng xây dựng.

Tuy nhiên, hiện nay, các tranh chấp thường gặp phải nhất trong Thanh toán hợp đồng xây dựng phải kể đến là:

Đây là tranh chấp phổ biến nhất về nghĩa vụ thanh toán hợp đồng. Tranh chấp này diễn ra theo các hình thức sau:

+    Bên nhận thầu muốn bên giao thầu thanh toán khi đã hoàn tất khối lượng công trình. Tuy nhiên bên giao thầu lại không muốn thanh toán cho bên nhận thầu.

+    Nhà thầu phụ muốn nhà thầu chính thanh toán khi đã hoàn tất khối lượng công trình. Tuy nhiên bên giao thầu lại chưa thanh toán với nhà thầu chính nên nhà thầu chính không thanh toán với nhà thầu phụ.

Bản chất của việc thanh toán này là sự giao kết giữa các bên. Các bên cần phải nắm rõ và đặt mình vào từng hoàn cảnh cụ thể phù hợp với thực tiễn thanh toán. Không tự đặt mình vào thế bị động. Ví dụ: Như bên nhận thầu khi giao kết hợp đồng với các nhà thầu phụ khác, cần chú ý tới việc khả năng thanh toán của mình đến đâu.

Khi nhà thầu phụ hoàn thành công việc và thanh lý hợp đồng liệu có thanh toán được không? Đối với những trường hợp nhà thầu chính không có khả năng thanh toán với nhà thầu phụ khi nhà thầu phụ thanh lý hợp đồng thì nhà thầu chính khi ký kết hợp đồng xây dựng với bên giao thầu cần quy định rõ về việc thanh toán, cần phải ghi rõ trong hợp đồng về việc thanh toán ngay sau khi hoàn thành từng giai đoạn của công trình.

Vấn đề thanh toán còn ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín của nhà thầu chính (nên nhà thầu chính cần cân nhắc đến vấn đề này).

Tranh chấp thanh toán về hồ sơ, thủ tục thanh toán: 

Về tranh chấp này, thường xảy ra đối với bên nhà thầu chính. Việc bên nhà thầu không thực hiện hồ sơ thanh toán theo đúng quy định của hợp đồng. Cho nên chủ đầu tư không thể thanh toán cho bên nhà thầu.

Ví dụ: Khi bàn giao công trình, bên nhà thầu không lập biên bản nghiệm thu, dẫn đến việc không xác định được ngày tháng cụ thể, khối lượng công việc; đề nghị thanh toán của nhà thầu không đầy đủ các nội dung theo quy định tại Điều 20 Nghị định 37/2015/NĐ-CP. Việc nhà thầu không thể xuất hóa đơn cũng ảnh hưởng đến việc thanh toán.

Bài học rút ra:

–     Các bên phải cân nhắc kỹ trong việc ký kết hợp đồng xây dựng, các điều khoản phải quy định chính xác, rõ ràng,…

–     Soạn thảo hợp đồng chặt chẽ, rõ ràng, mang tính khả thi cao, đúng với điều kiện thực tế, không nên tự ràng buộc mình vào các vấn đề gây khó khăn cho mình.

      Xin cám ơn Luật sư!

Tranh Chấp Hợp Đồng Thương Mại

X là một công ty chuyên kinh doanh trang thiết bị văn phòng ở một tỉnh miền núi yêu cầu Y là công ty kinh doanh cùng mặt hàng giao cho X 100 bộ bàn ghế văn phòng có kiểu dáng như X đã từng mua của Y theo những hợp đồng trước đã ký kết và thực hiện xong vào 1 ngày xác định qua 1 bức thư mà trong đó không nói đến giá cả, chất lượng, điểm giao hàng và phương thức thanh toán. Y không trả lời và không giao hàng. X đòi khởi kiện và dẫn chứng: trong hợp đồng trước đã có nói tới điều khoản ” Y sẵn sàng cung cấp những mặt hàng được ghi trong hợp đồng này vào bất cứ thời điểm nào khi nhận được yêu cầu cụ thể của X với điều kiện X phải trả thêm cho mỗi đơn vị hàng hóa 0,1% giá cả của đơn vị hàng hóa đó trong lần giao hàng theo hợp đồng này”, Y lập luận hợp đồng nói trên đã chấm dứt vào thời điểm giao hàng lần cuối cùng theo hợp đồng đó và hợp đồng này chỉ lập ra trong các lần mua bán đó. Y cùng cho rằng điều khoản mà X dẫn chiếu rất mập mờ không thể hiện ý chí cụ thể các điểm chính của việc mua bán như giá cả, chất lượng, phương thức thanh toán…X cho rằng mình đã trả thêm 0,1% nên có quyền đòi hỏi như vậy. tranh chấp nói trên được khởi kiện ra tòa, vậy ai sẽ là người thắng kiện, trách nhiệm của bên vi phạm sẽ như thế nào?

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập – Phòng tư vấn trực tuyến của Công ty LUẬT DƯƠNG GIA. Với thắc mắc của bạn, Công ty LUẬT DƯƠNG GIA xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

Theo quy định tại Điều 24 Luật Thương mại 2005 về Hình thức hợp đồng mua bán hàng hoá

1. Hợp đồng mua bán hàng hoá được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể.

2. Đối với các loại hợp đồng mua bán hàng hoá mà pháp luật quy định phải được lập thành văn bản thì phải tuân theo các quy định đó.

Theo quy định này thì hình thức hợp đồng mua bán hàng hóa có thể là: bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể. Vậy việc X gửi cho Y 1 bức thư yêu cầu về việc giao hàng hóa thì coi như hành vi đề nghị giao kết hợp đồng.

Y không trả lời lại đề nghị giao kết hợp đồng của X. Điều 404 Khoản 2 “Bộ luật dân sự 2015″ : ” Hợp đồng dân sự cũng xem như được giao kết khi hết thời hạn trả lời mà bên nhận được đề nghị vẫn im lặng, nếu có thoả thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết “.

Tuy nhiên, cũng không thể chỉ dựa vào sự im lặng để kết luận về việc hợp đồng có được giao kết không. Mà xét trong thực tiễn vụ việc này giữa Công ty X và Công ty Y đã từng kí kết và thực hiện hoạt động mua bán bàn ghế văn phòng nhiều lần trước đó.

Hơn nữa trong hợp đồng trước đã có nói tới điều khoản “ Y sẵn sàng cung cấp những mặt hàng được ghi trong hợp đồng này vào bất cứ thời điểm nào khi nhận được yêu cầu cụ thể của X với điều kiện X phải trả thêm cho mỗi đơn vị hàng hóa 0,1% giá cả của đơn vị hàng hóa đó trong lần giao hàng theo hợp đồng này ”

Như vậy,có thể thấy rằng trong yêu cầumà công ty X gửi cho công ty Y có các nội dung về mặt hàng, số lượng hàng hóa. Nhưng không nói đến vấn đề giá cả, chất lượng, địa điểm và phương thức giao hàng. Tuy nhiên giữa hai bên đã có thói quen trong hoạt động thương mại được thiết lập.

Trừ trường hợp có thoả thuận khác, các bên được coi là mặc nhiên áp dụng thói quen trong hoạt động thương mại đã được thiết lập giữa các bên đó mà các bên đã biết hoặc phải biết nhưng không được trái với quy định của pháp luật. ( Điều 12 Luật Thương mại)

Như vậy, trong yêu cầu mà X đưa ra thì những vấn đề về giá cả, chất lượng, địa điểm và phương thức giao hàng có thể coi là được thực hiện theo thói quen thương mại giữa hai bên và sự im lặng của Y làm cho X sẽ hiểu là hàng vẫn sẽ được giao như những hợp đồng trước đó.

Vậy Y lập luận hợp đồng nói trên đã chấm dứt vào thời điểm giao hàng lần cuối cùng theo hợp đồng đó và hợp đồng này chỉ lập ra trong các lần mua bán đó. Y cũng cho rằng điều khoản mà X dẫn chiếu rất mập mờ không thể hiện ý chí cụ thể các điểm chính của việc mua bán như giá cả, chất lượng, phương thức thanh toán.

Với những căn cứ nêu trên thì có thể thấy rằng lập luận của Y sẽ là không hợp lý, không có căn cứ pháp luật và không được chấp nhận khi giải quyết tranh chấp.

Khi các bên đưa tranh chấp nêu trên ra Tòa án thì Tòa án sẽ căn cứ vào quy định của Luật Thương mại 2005 mà đưa ra bản án buộc bên vi phạm hợp đồng – bên Y thực hiện các nghĩa vụ sau:

Thứ nhất, Bên vi phạm sẽ phải chịu một trong các loại chế tài trong thương mại ( Điều 292 Luật Thương Mại )

– Buộc thực hiện đúng hợp đồng.

-Tạm ngừng thực hiện hợp đồng.

– Các biện pháp khác do các bên thoả thuận không trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và tập quán thương mại quốc tế.

Thứ hai, bên vi phạm có thể bị phạt vi phạm hợp đồng nếu có căn cứ tại Điều 300 Luật Thương Mại “Phạt vi phạm là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả một khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng nếu trong hợp đồng có thoả thuận, trừ các trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294 của Luật này”.

Mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thoả thuận trong hợp đồng, nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm, trừ trường hợp quy định tại Điều 266 của Luật này.

Thứ ba, bên vi phạm sẽ phải bồi thường thiệt hại cho bên kia nếu có căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

1. Bồi thường thiệt hại là việc bên vi phạm bồi thường những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm.

2. Giá trị bồi thường thiệt hại bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm.

Điều 303. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Trừ các trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294 của Luật này, trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi có đủ các yếu tố sau đây:

1. Có hành vi vi phạm hợp đồng;

Thực Trạng Xây Dựng Pháp Luật Kinh Tế Và Những Vấn Đề Đặt Ra Trong Quá Trình Hoàn Thiện

Trang chủ

»

Nghiên cứu Khoa học Xã hội Và Nhân Văn

Thực trạng xây dựng pháp luật kinh tế và những vấn đề đặt ra trong quá trình hoàn thiện

Nguyễn Đức Minh

(PGS., TS. Viện Nhà nước và Pháp luật)

Tóm tắt: Bài viết phản ánh mang tính khái quát kết quả, hạn chế và nguyên nhân của hoạt động xây dựng pháp luật kinh tế ở nước ta hiện nay; nêu ra những vấn đề lớn về lý luận và thực tiễn cần giải quyết trong quá trình hoàn thiện pháp luật kinh tế.

Abstract: This article briefly reflects the results, shortcomings and their reasons of building up economic law in Vietnam nowadays. On that basis, it points out both theoretical and practical issues to be solved to improve the economic law of Vietnam.

 

1. Thực trạng xây dựng pháp luật kinh tế ở nước ta hiện nay

1.1. Kết quả xây dựng pháp luật kinh tế

Qua nghiên cứu hoạt động xây dựng pháp luật của nước ta thời gian qua, có thể thấy những thành tựu đã đạt được trong lĩnh vực này như sau:

Thứ nhất, đường lối, quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về kinh tế cơ bản đã được thể chế hóa đầy đủ trong chính sách, pháp luật của Nhà nước. Hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách tiếp tục được hoàn thiện[1].

Thứ hai, tính tối thượng của Hiến pháp và các đạo luật, nguyên tắc nhà nước quản lý bằng pháp luật đã được quán triệt trong thực tiễn thể chế hóa đường lối, quan điểm, chính sách của Đảng, cũng như trong hoạt động của bộ máy nhà nước và của công chức, viên chức nhà nước.

Hiện nay, Nhà nước thực thi quyền lực của mình dựa trên nền tảng Hiến pháp và pháp luật. Pháp luật được ban hành theo thủ tục hiến định. Nhà nước chịu sự kiểm soát, sự chế ngự của pháp luật trong mọi hoạt động. Nhà nước có nghĩa vụ bảo đảm bằng pháp luật các quyền tự do, dân chủ của nhân dân và công lý[2].

Thứ ba, pháp luật, cơ chế, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và các nguồn lực kinh tế đang được sử dụng như công cụ chủ yếu để quản lý nhà nước về kinh tế.

Đại hội Đảng lần thứ XI tiếp tục chủ trương sử dụng pháp luật, cơ chế, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và các nguồn lực kinh tế trong quản lý nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Việc nhấn mạnh vai trò của pháp luật, cơ chế, chính sách trước các công cụ chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và các nguồn lực kinh tế cho thấy sự thay đổi trong nhận thức của Đại hội Đảng XI.

Đại hội Đảng lần thứ IX chính thức đưa ra khái niệm “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” và khái quát những nhân tố cấu thành cơ bản của nó[4]. Đại hội Đảng lần thứ XI đã làm rõ thêm nội dung của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Theo đó, “nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Đây là một hình thái kinh tế thị trường vừa tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội. Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cơ chế thị trường phải được vận dụng đầy đủ, linh hoạt để phát huy mạnh mẽ và có hiệu quả mọi nguồn lực…”[5].

Đến Đại hội lần thứ XII, Đảng ta xác định rõ hơn yêu cầu xây dựng nền tảng pháp lý cho nền kinh tế thị trường. Theo đó, đến năm 2020, nước ta phấn đấu cơ bản hoàn thiện đồng bộ hệ thống thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa theo các tiêu chuẩn phổ biến của nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế[6].

Thứ năm, hệ thống pháp luật, chính sách kinh tế đã được xây dựng tương đối đồng bộ, cơ bản phù hợp với cơ chế thị trường và đáp ứng được ở mức độ nhất định yêu cầu, đòi hỏi của sự phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.

Thứ sáu, trong giai đoạn đầu của công cuộc đổi mới, hoạt động lập pháp, lập quy tập trung tạo cơ sở pháp lý cho việc cải cách tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, bảo đảm trật tự quản lý hành chính nhà nước, đấu tranh chống tội phạm. Cùng với quá trình đổi mới chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước, pháp luật hướng nhiều hơn vào việc điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực thương mại, dân sự, hội nhập kinh tế quốc tế và giải quyết vấn đề xã hội, phát triển bền vững.

Thứ bảy, phương pháp và cách thức điều chỉnh của pháp luật đã thay đổi theo hướng tạo hành lang và khung pháp lý, phục vụ vai trò định hướng, điều chỉnh, kiểm tra, kiểm soát, giám sát, điều tiết, hỗ trợ và khuyến khích phát triển kinh tế thị trường. Điều này được thấy rõ trong Điều 33 Hiến pháp hiện hành. Thay cho quy định công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật (Điều 57 Hiến pháp năm 1992, sửa đổi, bổ sung năm 2001), Điều 33 Hiến pháp hiện hành đã mở rộng phạm vi và đổi mới cách thức điều chỉnh bằng cách quy định: mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm.

Thứ tám, dân chủ trong lĩnh vực kinh tế đã được phản ánh và bảo đảm trong pháp luật.

Thứ chín, pháp luật kinh tế đã tạo ra mặt bằng pháp lý chung cho các loại hình doanh nghiệp, đảm bảo sự bình đẳng về pháp lý trong kinh doanh của các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, giữa doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Sự hiện diện của Luật Đầu tư năm 2014, Luật Doanh nghiệp năm 2014 áp dụng chung cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế là minh chứng cho điều đó.

Thứ mười, các quyền con người, quyền công dân về kinh tế làm nền tảng cho chế độ kinh tế đã được quy định trong Hiến pháp, đạo luật có hiệu lực pháp lý cao nhất và được cụ thể hóa trong nhiều đạo luật và văn bản dưới luật. Có thể kể đến các quyền con người, quyền công dân quan trọng trong lĩnh vực kinh tế đã được pháp luật ghi nhận, bảo đảm và bảo vệ như quyền tư hữu tài sản, quyền tự do kinh doanh, quyền lao động, quyền tự do nghề nghiệp, quyền tham gia công đoàn. Hiến pháp ghi nhận quyền bình đẳng trong các quan hệ kinh tế; bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế…

Thứ mười một, pháp luật đã tác động đến nhận thức xã hội, làm cho đại bộ phận cán bộ, công chức, viên chức, người dân và doanh nghiệp hiểu rõ hơn giá trị và hạn chế của kinh tế thị trường, định hướng hành vi theo nhu cầu của thị trường.

Nhận thức, ý thức tôn trọng, tuân thủ, chấp hành, thực hiện pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức, doanh nghiệp và người dân đã cao hơn. Sự chuyển biến nhận thức này cũng là kết quả của đổi mới nhận thức về nhà nước pháp quyền và vai trò của pháp luật trong nhà nước pháp quyền.

Thứ mười hai, cơ quan lập pháp đã tổ chức tốt việc lấy ý kiến nhân dân về sửa đổi Hiến pháp năm 1992 và thông qua Hiến pháp năm 2013. Cụ thể hoá Hiến pháp, Quốc hội đã thông qua gần 70 đạo luật[7].

Thứ mười ba, hiện nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện, đối tác chiến lược, đối tác toàn diện, và quan hệ đặc biệt với nhiều nước. Trong lĩnh vực kinh tế, Việt Nam đã hội nhập ở các cấp độ và hình thức khác nhau như tham gia các thỏa thuận thương mại ưu đãi (PTA), tham gia các hiệp định thương mại tự do (FTA), tham gia các liên minh thuế quan (CU), tham gia thị trường chung và tham gia liên minh kinh tế, tiền tệ. Ngoài khuôn khổ WTO, Việt Nam đã ký kết nhiều hiệp định thương mại, trong đó có Hiệp định Thương mại song phương và Hiệp định khung về Thương mại và Đầu tư với Hoa Kỳ[8]. Từ năm 2001, Việt Nam đã đẩy mạnh đàm phán và ký kết một số hiệp định thương mại tự do với mức độ cam kết và mở cửa thị trường cao hơn như cắt giảm biểu thuế theo tỷ lệ và theo lộ trình một số loại thuế đối với thương mại hàng hóa, xóa bỏ hàng rào phi thuế quan, điều chỉnh một số hoạt động phi thương mại, áp dụng phương pháp tự do hóa thương mại không chỉ theo phương pháp chọn cho mà cả phương pháp chọn bỏ, giảm bớt sự bảo hộ trong nước đối với thương mại dịch vụ, và đầu tư. Việt Nam đã xác lập quan hệ đối tác kinh tế toàn diện với Nhật Bản[9]; ký Hiệp định thương mại tự do với Chile[10]. Riêng trong năm 2015, Việt Nam đã ký kết 3 Hiệp định thương mại tự do quan trọng với các khu vực thị trường lớn là Hàn Quốc[11], Liên minh Kinh tế Á – Âu[12], Liên minh châu Âu[13]. Đặc biệt, ngày 04/02/2016, tại Auckland, New Zealand Việt Nam đã ký Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). Hiện nay, nước ta đang đàm phán ký kết Hiệp định thương mại tự do với Khối EFTA[14], với Israel[15].

Trong quan hệ với ASEAN, Việt Nam đã tham gia một số hiệp định thương mại nội khối như Hiệp định Thương mại hàng hoá ASEAN (ATIGA)[16], Hiệp định khung ASEAN về dịch vụ (AFAS)[17], Hiệp định Đầu tư toàn diện ASEAN (ACIA)[18], Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC)[19]. Ngoài ra, với tư cách là thành viên của ASEAN, một số hiệp định ký giữa ASEAN với một số đối tác cũng có hiệu lực đối với Việt Nam, như Hiệp định khung về Hợp tác kinh tế toàn diện ASEAN – Ấn Độ[20], Hiệp định thương mại tự do ASEAN – Úc – New Zealand (AANZFTA)[21], Hiệp định khung về Hợp tác kinh tế toàn diện ASEAN – Hàn Quốc và các hiệp định đi kèm[22], Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện ASEAN – Nhật Bản (AJCEP)[23], Hiệp định khung về Hợp tác kinh tế toàn diện ASEAN – Trung Quốc và các hiệp định đi kèm[24]. Hiện nay, nước ta đang cùng một số quốc gia trong ASEAN đàm phán Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP)[25], Hiệp định thương mại tự do ASEAN – HongKong.  

Thể chế hóa quan điểm của Đảng trong Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 10/4/2013 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 40/QĐ-TTg ngày 07/01/2016 về việc phê duyệt Chiến lược tổng thể hội nhập quốc tế đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. 

Việc ký kết nhiều điều ước, hiệp định song phương và đa phương về thương mại, đầu tư, tránh đánh thuế hai lần, đặc biệt là việc gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới đã tạo cơ sở pháp lý và tiền đề, điều kiện quan trọng về thể chế để nền kinh tế nước ta hội nhập ngày càng sâu rộng và toàn diện vào nền kinh tế quốc tế; để pháp luật trong nước phù hợp và tương thích với pháp luật quốc tế; đồng thời, đảm bảo tính quốc tế của sự phát triển kinh tế thị trường nước ta.

Thứ mười bốn, nhiều quan hệ xã hội mới đã được pháp luật điều chỉnh. Chẳng hạn, khái niệm quyền tài sản theo nghĩa bao gồm quyền sở hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt và hưởng lợi từ sử dụng tài sản đã được quy định trong Hiến pháp[26]. Kinh tế tư nhân đã được xác định là một động lực quan trọng của nền kinh tế[27]. Đây sẽ là tiền đề chính trị, pháp lý hình thành các quan hệ pháp luật mới.

Ngoài những thành tựu nói trên, những cải cách pháp luật kinh tế trong thời gian qua tiếp tục được nói đến qua việc cải cách pháp luật về thủ tục kinh doanh, đầu tư theo hướng đơn giản hơn. Phân cấp trong quản lý kinh tế ngày càng rõ ràng và mức độ phân cấp cho chính quyền địa phương ngày càng nhiều hơn.

1.2. Một số hạn chế trong công tác thể chế hóa

Bên cạnh những thành tựu, pháp luật kinh tế cũng còn một số hạn chế trên cả hai phương diện:

Thứ nhất, công tác thể chế hóa và ban hành chính sách, pháp luật cụ thể hóa đường lối, quan điểm, chính sách của Đảng, cũng như cụ thể hóa, hướng dẫn thi hành luật, trong đó có pháp luật kinh tế vẫn còn chậm[28]. Việc thường xuyên phải điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh chưa được khắc phục. Việc chuẩn bị một số dự án luật chưa bảo đảm tiến độ và chất lượng trình Quốc hội[29]. Điều này ảnh hưởng đến việc thực hiện mục tiêu của đường lối, chính sách.

Thứ hai, chất lượng hệ thống chính sách và pháp luật kinh tế chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu của Nhà nước pháp quyền[30].   

Theo đánh giá trong Báo cáo chính trị của Đại hội lần thứ XII của Đảng Cộng sản Việt Nam, “hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách chưa hoàn chỉnh và đồng bộ, chất lượng không cao, chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, thực hiện ba đột phá chiến lược”. Biểu hiện:

(i) Hiến pháp và một số đạo luật chưa thể áp dụng nếu không có các văn bản dưới luật cụ thể hóa và hướng dẫn thi hành. Các văn bản dưới luật vẫn chiếm tỷ lệ lớn trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. Nhiều văn bản pháp luật kinh tế cần có số lượng lớn các văn bản hướng dẫn thi hành[31]. Điều này chưa thực sự phù hợp với yêu cầu đảm bảo tính tối thượng của Hiến pháp và của các đạo luật trong Nhà nước pháp quyền. Đồng thời, việc văn bản luật cần có nhiều văn bản hướng dẫn thi hành ít nhiều gây khó khăn cho việc đảm bảo tính thống nhất và tính pháp chế của pháp luật. Thực trạng này là do các văn bản luật thường có phạm vi và đối tượng điều chỉnh rộng[32].

(ii) Cơ sở pháp lý cho việc thực hiện chức năng định hướng, kiểm soát, giám sát, điều tiết, khuyến khích và trợ giúp của Nhà nước đối với thị trường và doanh nghiệp chưa đầy đủ và chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước đối với nền kinh tế thị trường. Điều này có thể thấy qua sự thiếu vắng luật quy hoạch[33]. 

(iii) Nội dung của một số văn bản pháp luật chưa sát với thực tế, chưa theo kịp nhu cầu xây dựng và phát triển kinh tế thị trường[34]. Không ít quy định của luật còn nặng về nguyên tắc chung, thiếu tính ổn định, chưa xác định được nguồn lực để triển khai thực hiện[35]; thiếu tính khả thi trong pháp luật trọng tài thương mại[36].

 Thứ ba, kết quả cải cách hệ thống pháp luật, cải cách hành chính và cải cách tư pháp chưa đồng bộ và theo kịp yêu cầu phát triển kinh tế thị trường[37].

Thứ tư, sự hiểu biết và ý thức pháp luật của các doanh nghiệp, nhất là pháp luật về cạnh tranh, bảo vệ người tiêu dùng, hội nhập quốc tế còn thấp. Nguyên nhân là do hiệu quả tuyên truyền pháp luật chưa cao và doanh nghiệp chưa thực sự coi trọng việc tìm hiểu pháp luật.

Thứ năm, việc ưu tiên nguồn lực cho hoạt động xây dựng chính sách, lập pháp trong lĩnh vực kinh tế là cần thiết, nhưng điều này ít nhiều ảnh hưởng đến việc đảm bảo tính cân đối và đồng bộ của hệ thống pháp luật trong điều chỉnh các lĩnh vực khác[38].

 Thứ sáu, chi phí thực thi pháp luật còn cao, chẳng hạn chi phí kinh doanh[39], tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích của công dân trong các tranh chấp kinh tế.

Thứ bảy, công tác điều hành, tổ chức thực thi pháp luật có những mặt còn yếu[40].   

Cơ chế thực thi và phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương trong quán triệt, tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách và pháp luật còn kém hiệu lực, hiệu quả[41].

Hiệu quả kiểm tra, giám sát, hiệu quả “hậu kiểm”, xử lý vi phạm còn hạn chế[42].

Quy định về thủ tục hành chính trong kinh doanh đã cải cách, nhưng trong một số lĩnh vực chuyên ngành vẫn còn phức tạp, chưa đồng bộ với thủ tục do pháp luật doanh nghiệp và pháp luật đầu tư quy định.

Thứ tám, năng lực phân tích, dự báo và điều chỉnh chủ trương, cơ chế, chính sách còn hạn chế[43].

1.3. Nguyên nhân của hạn chế trong công tác thể chế hóa

Những hạn chế trên là do các nguyên nhân sau:

Thứ nhất, đường lối, quan điểm, chính sách của Đảng đối với một số vấn đề chưa kịp thời được cụ thể hóa. Điều đó đã ảnh hưởng đến hoạt động thể chế hóa bằng pháp luật.

Thứ hai, mô hình Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta được hình thành và phát triển theo cách thức “vừa thiết kế, vừa thi công”, vừa làm, vừa tổng kết rút kinh nghiệm, khái quát thành lý luận, sau đó chắt lọc xây dựng thành đường lối, chính sách, thể chế hóa và thực hiện trên thực tế, sau khi kiểm chứng lại chỉnh sửa, bổ sung đường lối và pháp luật. Các quan hệ kinh tế – xã hội mà pháp luật điều chỉnh đang phát triển, tính ổn định chưa cao[44].

Thứ ba, công tác dự báo, nghiên cứu lý luận phục vụ việc xây dựng và hoạch định chính sách và pháp luật chưa theo kịp yêu cầu của thực tiễn. Đây là một trong những nguyên nhân làm cho pháp luật thiếu tính thực tiễn[45].

Thứ tư, giữa nhận thức về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và vận dụng nhận thức đó để đưa vào chính sách và pháp luật thường tồn tại khoảng cách nhất định[46]. Ở đây, là sự thận trọng trong ứng dụng các yếu tố mang tính phổ biến của các mô hình kinh tế thị trường khác vào mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn quá độ. 

Thứ năm, trình độ của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức làm công tác xây dựng pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật còn hạn chế. Kinh phí để xây dựng pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật chưa thực sự tương xứng với nhiệm vụ. 

Thứ sáu, nền kinh tế chịu tác động tiêu cực của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, trong khi đó, trình độ, năng lực nội tại của nền kinh tế và năng lực xây dựng, thực thi thể chế kinh tế còn bất cập[47].

Thứ bảy, chưa phát huy đầy đủ được vai trò, trách nhiệm của các chủ thể tham gia vào quá trình xây dựng văn bản, nhất là cơ quan chủ trì, cơ quan tham gia soạn thảo trong việc chuẩn bị, trình, tiếp thu ý kiến, hoàn thiện dự thảo trình thông qua; sự tham gia của các chuyên gia, các nhà khoa học vào quá trình chuẩn bị văn bản còn hạn chế[48].

2. Những vấn đề đặt ra trong quá trình hoàn thiện pháp luật kinh tế

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, yêu cầu tiếp tục xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đổi mới, phát triển kinh tế thị trường trong bối cảnh hội nhập quốc tế đã đặt ra những vấn đề lý luận và thực tiễn cần giải quyết trong quá trình hoàn thiện pháp luật kinh tế.

2.1. Về phương diện lý luận

Thứ nhất, tiếp tục thể chế hóa quan điểm về định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường vào thể chế, chính sách pháp luật[49]. Cùng với đó, giải quyết hài hòa giữa vai trò điều tiết của Nhà nước trong đảm bảo tính định hướng xã hội chủ nghĩa với sự vận động theo quy luật kinh tế khách quan của thị trường.

Về định hướng xã hội chủ nghĩa nền kinh tế thị trường ở nước ta, Đại hội Đảng lần thứ XII xác định: “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế; các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật; thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động và phân bổ có hiệu quả các nguồn lực phát triển, là động lực chủ yếu để giải phóng sức sản xuất; các nguồn lực nhà nước được phân bổ theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phù hợp với cơ chế thị trường. Nhà nước đóng vai trò định hướng, xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch và lành mạnh; sử dụng các công cụ, chính sách và các nguồn lực của Nhà nước để định hướng và điều tiết nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất kinh doanh và bảo vệ môi trường; thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển. Phát huy vai trò làm chủ của nhân dân trong phát triển kinh tế – xã hội”[50].

Thứ hai, giải quyết mối quan hệ giữa tôn trọng những giá trị chung mang tính phổ biến với những yếu tố đặc thù của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Thứ ba, cơ chế phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp đã được hiến định ở Điều 2 Hiến pháp năm 2013 cần tiếp tục cụ thể hóa[51].

Thứ tư, yêu cầu phân định vai trò chính trị, hành chính của Nhà nước (tổ chức quyền lực công) với vai trò kinh tế của Nhà nước (chủ sở hữu đối với tài sản thuộc sở hữu nhà nước và là đại diện của sở hữu toàn dân).

2.2. Về phương diện thực tiễn

2.2.1. Yếu tố trong nước

Thứ nhất, yêu cầu tiếp tục cải cách và đổi mới thể chế để tạo động lực phát triển. Phấn đấu đến năm 2020 cơ bản hoàn thiện đồng bộ hệ thống thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa theo các tiêu chuẩn phổ biến của nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế[52].

Tăng trưởng ở nước ta trong thời gian qua chủ yếu dựa vào các lợi thế đầu vào của sản xuất như tài nguyên thiên nhiên, nguyên liệu thô, nguồn nhân lực giá rẻ và sự cởi trói cơ chế cũ, giải phóng năng lực con người. Những yếu tố có khả năng tạo ra giá trị gia tăng lớn của sản xuất như tri thức, khoa học và công nghệ, quản lý tiên tiến… mới được khai thác ở mức độ hạn chế. Khi động lực được tạo ra từ những cuộc cải cách vừa qua không còn đủ mạnh để thúc đẩy phát triển thì cần tạo ra những động lực mới, trong đó có đổi mới thể chế và phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ của nhân dân[53].

Thứ hai, yêu cầu hiện thực hóa các quan điểm, chính sách đổi mới.

Đổi mới ở nước ta đã tiến hành được gần 30 năm. Nhiều quan điểm, chính sách đổi mới của Đảng ta đã được hiện thực hóa và đạt được kết quả nhất định. Tuy nhiên, cũng có những quan điểm tiếp tục cần cụ thể hóa và hiện thực hóa trên thực tế, chẳng hạn quan điểm của Đại hội lần thứ XII Đảng Cộng sản Việt Nam: “thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động và phân bổ có hiệu quả các nguồn lực phát triển, là động lực chủ yếu để giải phóng sức sản xuất”, “kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế”[54].

Hiện thực hóa mục tiêu đến năm 2020, nước ta về cơ bản trở thành nước công nghiệp có cơ sở vật chất, kỹ thuật hiện đại là thách thức rất lớn đối với Đảng và Nhà nước ta, trước hết là nhu cầu vốn để đầu tư phát triển. 

Thứ ba, yêu cầu về nâng cao vai trò của Nhà nước trong quá trình phát triển.

 Nhà nước pháp quyền là một thể chế để thực hành xã hội dân chủ, đồng thời là hình thức chính trị – pháp lý hợp lý để quản lý một xã hội dân chủ, văn minh và phát triển. Mọi sự đổi mới và phát triển đất nước đều không thể thoát ly được vai trò của Nhà nước. Để đảm bảo đổi mới thành công, cần phải có một Nhà nước mạnh, được tổ chức hợp lý, thực hành dân chủ, có khả năng huy động và quản lý mọi nguồn lực. Hiện nay, nước ta đang đứng trước những thách thức rất lớn của yêu cầu tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, đưa nước ta đến năm 2020 cơ bản trở thành nước công nghiệp; khắc phục mặt trái của kinh tế thị trường; phát triển kinh tế đi đôi với đảm bảo công bằng xã hội. Vai trò của Nhà nước có xu hướng ngày càng tăng trong điều hành chính sách vĩ mô và phối hợp giải quyết các vấn đề quốc tế.

2.2.2. Yếu tố quốc tế

Thứ nhất, nhu cầu hạn chế nguy cơ tụt hậu và rơi vào bẫy thu nhập trung bình.

Tuy Việt Nam đã có tốc độ tăng trưởng GDP trên đầu người khá cao và đã ở vào nhóm cuối của những nước thu nhập trung bình thấp. Nhưng khoảng cách từ nước có thu nhập trung bình thấp lên nhóm nước có thu nhập trung bình cao, chưa nói đến nhóm có thu nhập cao, còn khá xa. Trong khi đó, tăng trưởng hiện nay của nước ta chưa bền vững và chưa có dấu hiệu tăng đột biến. Mặt khác, hệ thống cơ sở hạ tầng còn yếu, thị trường chứng khoán hoạt động chưa tốt, hiệu quả đầu tư so với vốn bỏ ra thấp, năng suất tăng chậm, thiếu nguồn nhân lực có trình độ cao, chi phí sản xuất tăng, tiền đồng Việt Nam có xu hướng mất giá ảnh hưởng rất lớn đến sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Thứ hai, cải cách thể chế pháp lý đáp ứng yêu cầu về nâng cao năng lực cạnh tranh và quản trị quốc gia, cũng như năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác, giữa doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, và giữa doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp nước ngoài.

Thứ ba, tạo nền tảng pháp lý để đáp ứng cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia và ứng phó với những tác động tiêu cực của quá trình hội nhập quốc tế.

Chú thích

[1] Theo đánh giá của Đảng Cộng sản Việt Nam trong Báo cáo chính trị của Đại hội lần thứ XII của Đảng Cộng sản Việt Nam. Xem Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr. 97.

[3] Theo khoản 2 Điều 5 Luật Thương mại năm 2005: Các bên trong giao dịch thương mại có yếu tố nước ngoài được thoả thuận áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế nếu pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.

[4] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 86.

[5] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 204-205.

[6] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương, Hà Nội, 2016.

[7] Báo cáo công tác nhiệm kỳ khóa XIII của Quốc hội do Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng trình bày tại kỳ họp thứ 11 sáng 22/3/2016. Thông tin xem trên trang điện tử của Ban Nội chính trung ương ngày 23/3/2016, http://noichinh.vn/tin-tuc-su-kien/tin-trung-uong/201603/toan – van – bao – cao – cong-tac-nhiem-ky-khoa-xiii-cua-quoc-hoi-300287/.

[8] Hiệp định Thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ (BTA) được ký kết vào ngày 13/7/2000, có hiệu lực từ ngày 11/12/2001. Hiệp định khung về Thương mại và Đầu tư Việt Nam – Hoa Kỳ (TIFA) được ký kết giữa hai bên vào năm 2007.

[9] Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện Việt Nam-Nhật Bản (VJEPA) ký năm 2008, có hiệu lực từ ngày 01/10/2009 là một Hiệp định kinh tế toàn diện cả về thương mại hàng hóa, dịch vụ, đầu tư và hợp tác kinh tế. Nội dung văn kiện theo Trung tâm WTO và Hội nhập thuộc VCCI, http://www.trungtamwto.vn/cac hiepdinhkhac/hiep-dinh-doi-tac-kinh-te-giua-viet-nam-va-nhat-ban-vjepa.

[10] Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Chile (VCFTA) ký tháng 11/2011, có hiệu lực từ tháng 01/2014. Nội dung Hiệp định bản tiếng Việt theo Trung tâm WTO và Hội nhập thuộc VCCI, http://www.trungtamwto.vn/sites/default/files/vcfta_vie.pdf.

[11] Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam – Hàn Quốc (VKFTA), ký tháng 5/2015, có hiệu lực từ ngày 20/12/2015. Nội dung văn kiện tóm tắt theo Trung tâm WTO và Hội nhập thuộc VCCI, http://www.trungtamwto.vn/cachiepdinhkhac/tom-luoc-hiep-dinh-thuong-mai-tu-do-viet-nam-han-quoc-vkfta.

[12] Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh Kinh tế Á-Âu được ký vào cuối tháng 5/2015. Nội dung văn kiện theo Trung tâm WTO và Hội nhập thuộc VCCI, http://www.trungtamwto.vn/ cachiepdinhkhac/van-ban-hiep-dinh-thuong-mai-tu-do-viet-nam-lien-minh-kinh-te-au.

[13] Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA) được kết thúc đàm phán vào đầu tháng 12/2015. Nội dung văn kiện gần chính thức theo Trung tâm WTO và Hội nhập thuộc VCCI, http://www.trungtamwto.vn/vn-eu-fta/toan-van-hiep-dinh-thuong-mai-tu-do-giua-viet-nam-va-lien-minh-chau-au-evfta.

[14] Gồm các nước Thụy Sĩ, NaUy, Ai-xơ-len, Lichteinsten.

[15] Phiên đàm phán thứ nhất Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Israel đã được tiến hành tại Hà Nội ngày 28/3/2016. Thông tin của Trung tâm WTO và Hội nhập thuộc VCCI, http://www.trungtamwto. vn/tin-tuc/vong-dam-phan-thu-nhat-hiep-dinh-thuong-mai-tu-do-viet-nam-israel-tien-de-phat-trien-giai-do.

[17] Hiệp định khung về Dịch vụ của ASEAN (AFAS) được các nước thành viên ký năm 1995 và Nghị định thư sửa đổi AFAS được ký năm 2003 điều chỉnh hoạt động cung cấp dịch vụ giữa các nước ASEAN. Nội dung của AFAS tương tự Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ của WTO. Thông tin của Trung tâm WTO và Hội nhập thuộc VCCI, nguồn tài liệu đã dẫn ở trên.

[18] Hiệp định Đầu tư toàn diện ASEAN (ACIA) được ký kết năm 2009, có hiệu lực từ 29/3/2012 thay thế cho Hiệp định Khuyến khích và Bảo hộ đầu tư ASEAN (IGA) 1987 và Hiệp định Khu vực đầu tư ASEAN (AIA) 1998). ACIA bao gồm 4 nội dung chính: Tự do hóa đầu tư, Bảo hộ đầu tư, Thuận lợi hóa đầu tư và Xúc tiến đầu tư. Phạm vi điều chỉnh của ACIA bao gồm cả đầu tư trực tiếp và gián tiếp. Thông tin của Trung tâm WTO và Hội nhập thuộc VCCI, nguồn tài liệu đã dẫn ở trên.

[19] Cộng đồng kinh tế ASEAN là khối kinh tế khu vực của 10 quốc gia thành viên ASEAN chính thức được thành lập vào ngày 31/12/ 2015.

[20] Hiệp định được ký kết ngày 8/10/2003 thiết lập Khu vực Mậu dịch tự do (AIFTA) vào năm 2011 với các nước ASEAN5 (Brunei, Indonesia, Malaysia, Singapore và Thái Lan) và Ấn Độ, năm 2016 với Lào, Campuchia, Myanmar, Philippines và Việt Nam. Thông tin của Trung tâm WTO và Hội nhập thuộc VCCI, http://www.trungtamwto.vn/node/4350.

[21] Hiệp định đã được ký kết vào tháng 2/2009, có hiệu lực từ 01/01/2010. Hiệp định là thỏa thuận liên khu vực đầu tiên của ASEAN. Nội dung chi tiết của Hiệp định theo Trung tâm WTO và Hội nhập thuộc VCCI, http://www.trungtamwto.vn/node/2571.

[22] Hiệp định khung về Hợp tác kinh tế toàn diện ASEAN – Hàn Quốc đã được ký ngày 13/12/2005, có hiệu lực từ ngày 01/09/2009. Trên cơ sở Hiệp định khung đó, Hàn Quốc và một số nước ASEAN đã ký Hiệp định về Cơ chế giải quyết tranh chấp vào tháng 12/2005; Hiệp định về Thương mại hàng hóa được ký bởi 9 quốc gia thành viên ASEAN và Hàn Quốc vào tháng 8/2006; Hiệp định về Thương mại dịch vụ giữa ASEAN và Hàn Quốc được ký bởi 9 quốc gia thành viên ASEAN và Hàn Quốc vào tháng 11/2007. Hiệp định về Đầu tư được ký năm 2009. Thông tin của Trung tâm WTO và Hội nhập thuộc VCCI, http://www.trungtamwto.vn/node/316.

[23] Xem chú thích số 9.

[24] Trên cơ sở Hiệp định khung về Hợp tác Kinh tế toàn diện ký tháng 11/2002, ASEAN và Trung Quốc đã hình thành Hiệp định về thương mại hàng hóa và Thỏa thuận cơ chế giải quyết tranh chấp ký tháng 11/2004, có hiệu lực từ tháng 7/2005; Hiệp định thương mại dịch vụ được ký vào tháng 1/2007, có hiệu lực từ ngày 1/7/2007; Hiệp định đầu tư ASEAN – Trung Quốc được ký vào tháng 8/2009. Thông tin của Trung tâm WTO và Hội nhập thuộc VCCI, http://www.trungtamwto.vn/node/1836.

[25] Hiệp định RCEP được khởi động vào tháng 11/2012 với mục đích thúc đẩy hợp tác kinh tế sâu hơn giữa 10 quốc gia thành viên ASEAN và Australia, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, New Zealand và Hàn Quốc, tập trung vào thương mại hàng hóa, dịch vụ và đầu tư. Thông tin của Trung tâm WTO và Hội nhập thuộc VCCI, http://www. trungtamwto.vn/cachiepdinhkhac/dam-phan-hiep-dinh-rcep-co-hoi-phia-truoc.

[26] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, tài liệu đã dẫn, tr. 20.

[27] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, tài liệu đã dẫn, tr. 20.

[28] Nghị quyết số 22/NQ-CP ngày 22/3/2014 của Chính phủ, phiên họp chuyên đề xây dựng pháp luật tháng 3/2014. Dẫn chứng, xem Hoàng Văn Tú, Chính sách xây dựng pháp luật, Kỷ yếu hội thảo khoa học “Một số vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn cấp bách về chính sách pháp luật”, Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội, tháng 12/2013.

[29] Báo cáo công tác nhiệm kỳ khóa XIII của Quốc hội do Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng trình bày tại kỳ họp thứ 11 sáng ngày 22/3/2016, tài liệu đã dẫn ở trên.

[31] Hà Hùng Cường, “Hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 2+3/2009, tr. 17-25, tài liệu đã dẫn ở trên, Luật Đất đai năm 2003 muốn được thực hiện phải dựa trên 126 văn bản.

[32] Hoàng Văn Tú, Chính sách xây dựng pháp luật, tài liệu đã dẫn ở trên.

[34] Đinh Văn Ân/Lê Xuân Bá, Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Nxb. Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội 2006, tr. 98-99.

[35] Báo cáo công tác nhiệm kỳ khóa XIII của Quốc hội do Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng trình bày tại kỳ họp thứ 11, sáng ngày 22/3/2016, tài liệu đã dẫn ở trên.

[36] Nguyễn Văn Cương, Một số giải pháp tăng cường tính khả thi của văn bản quy phạm pháp luật, ngày 18/02/2014 trên http://moj.gov.vn/ct/tintuc/Pages/ nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemId=6009#_ftn3.

[37] Hoàng Văn Tú, Chính sách xây dựng pháp luật, tài liệu đã dẫn ở trên.

[38] Dẫn chứng cụ thể, xem Hoàng Văn Tú, Chính sách xây dựng pháp luật, tài liệu đã dẫn ở trên.

[39] Edmund Malesky (Trưởng nhóm)/Đậu Anh Tuấn, Phạm Ngọc Thạch… Báo cáo thường niên Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của Việt Nam năm 2015, Nxb. Lao động, Hà Nội, 2016.

[40] Trương Tấn Sang, Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng trong thời kỳ mới, bài công bố trên Báo điển tử Đảng Cộng sản Việt Nam, ngày 20/05/2011, http://dangcongsan.vn/ cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=28340666&cn_id=460528; Về hiệu lực thực thi pháp luật, xem Đinh Văn Ân/Lê Xuân Bá, Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Nxb. Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 2006, tr. 97.

[41]Theo đánh giá trong Báo cáo chính trị của Đại hội lần thứ XII Đảng Cộng sản Việt Nam.

[42]Theo đánh giá trong Báo cáo chính trị của Đại hội lần thứ XII Đảng Cộng sản Việt Nam.

[43]Theo đánh giá trong Báo cáo chính trị của Đại hội lần thứ XII Đảng Cộng sản Việt Nam.

[44] Báo cáo công tác nhiệm kỳ khóa XIII của Quốc hội do Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng trình bày tại kỳ họp thứ 11, sáng ngày 22/3/2016, tài liệu đã dẫn ở trên.

[45] So sánh Đinh Dũng Sỹ, Chính sách và mối quan hệ giữa chính sách với pháp luật, chính sách pháp luật với chính sách công, Kỷ yếu hội thảo khoa học “Một số vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn cấp bách về chính sách pháp luật”, Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội, tháng 12/2013.

[46] Theo đánh giá trong Báo cáo chính trị của Đại hội lần thứ XII Đảng Cộng sản Việt Nam: “nhận thức về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa còn chưa đủ rõ, nhất là về kinh tế nhà nước, doanh nghiệp nhà nước, kinh tế tập thể; về cơ chế phân bổ nguồn lực, sở hữu đất đai, cơ chế giá một số hàng hóa, dịch vụ công thiết yếu”.

[47] Trích từ Báo cáo chính trị của Đại hội lần thứ XII Đảng Cộng sản Việt Nam. 

[48] Báo cáo công tác nhiệm kỳ khóa XIII của Quốc hội do Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng trình bày tại kỳ họp thứ 11, sáng ngày 22/3/2016, tài liệu đã dẫn ở trên.

[49] Trần Kim Cúc, Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay – Từ lý luận đến thực tiễn, Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 16/1/2014, địa chỉ: http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Xay -dung-nha-nuoc-phap-quyen/2014/25460/Xay-dung-nha-nuoc-phap-quyen-xa-hoi-chu-nghia-o-Viet.aspx.

[50] Trích từ Báo cáo chính trị của Đại hội lần thứ XII Đảng Cộng sản Việt Nam. 

[51] Trần Kim Cúc, Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay – Từ lý luận đến thực tiễn, tài liệu đã dẫn ở trên.

[52] Theo Báo cáo chính trị của Đại hội lần thứ XII Đảng Cộng sản Việt Nam. 

[53] Nguyễn Tấn Dũng, “Hoàn thiện thể chế, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ năm 2014, tạo nền tảng phát triển nhanh và bền vững”, bài viết công bố trên Cổng Thông tin điện tử Chính phủ ngày 01/01/2014, truy cập từ địa chỉ http://baodientu.chinhphu.vn/Cac-bai-phat-bieu-cua-Thu-tuong/Thong-diep-nam-moi-cua-Thu-tuong-Nguyen-Tan-Dung/189949.vgp.

[54] Trích từ Báo cáo chính trị của Đại hội lần thứ XII Đảng Cộng sản Việt Nam.  

Nguồn: Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, 2016, số 12, tr.31-41.

Các tin đã đưa ngày:

Phạt Vi Phạm Trong Hợp Đồng Xây Dựng

1. Bản chất của hợp đồng xây dựng và pháp luật điều chỉnh đối với hợp đồng xây dựng

Một cách khái quát, hợp đồng xây dựng có thể là một loại hợp đồng đặc thù trong lĩnh vực đầu tư xây dựng chịu sự điều chỉnh của Luật Xây dựng 2014, hợp đồng dân sự chịu sự điều chỉnh của BLDS 2015, và/hoặc hợp đồng thương mại chịu sự điều chỉnh của Luật Thương mại 2005.

Trước hết, bản thân hợp đồng xây dựng là một loại hợp đồng đặc thù thuộc lĩnh vực chuyên ngành về đầu tư xây dựng và được quy định tại Luật Xây dựng 2014. Do đó, hợp đồng xây dựng thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật Xây dựng 2014.

Luật Xây dựng 2014 cũng định nghĩa hợp đồng xây dựng là một loại hợp đồng dân sự. Do vậy, hợp đồng xây dựng có thể thuộc phạm vi điều chỉnh của BLDS 2015. Cụ thể, khoản 1 Điều 138 của Luật Xây dựng 2014 quy định như sau:

“Hợp đồng xây dựng là hợp đồng dân sự được thoả thuận bằng văn bản giữa bên giao thầu và bên nhận thầu để thực hiện một phần hay toàn bộ công việc trong hoạt động đầu tư xây dựng”.

Mặc dù không được định nghĩa cụ thể tại Luật Xây dựng 2014, hợp đồng xây dựng về lý thuyết cũng có thể là hợp đồng thương mại chịu sự điều chỉnh của Luật Thương mại 2005. Về cơ bản, hợp đồng thương mại cũng là một loại hợp đồng dân sự. Tuy nhiên, khác với những loại hợp đồng dân sự khác, hợp đồng thương mại có đặc trưng về chủ thể xác lập (được xác lập giữa các bên là thương nhân hoặc một trong các bên là thương nhân) và mục đích của hợp đồng (nhằm mục đích sinh lợi). Do đó, nếu một hợp đồng xây dựng cụ thể đáp ứng điều kiện về chủ thể xác lập và mục đích của hợp đồng thương mại (như đã đề cập), hợp đồng xây dựng đó có thể đồng thời là hợp đồng thương mại và chịu sự điều chỉnh của Luật Thương mại 2005.

Trên thực tế, phần lớn các hợp đồng xây dựng đáp ứng các điều kiện của hợp đồng thương mại (như đã đề cập). Trong trường hợp như vậy, các hợp đồng xây dựng này có thể đồng thời là đối tượng điều chỉnh của cả BLDS 2015, Luật Thương mại 2005 và Luật Xây dựng 2014. Ngoài ra, BLDS 2015, Luật Thương mại 2005 và Luật Xây dựng 2014 đều có quy định về mức phạt vi phạm tối đa được áp dụng trong hợp đồng. Tuy nhiên, các quy định này có sự khác biệt nhất định và có thể tạo ra xung đột pháp luật khi xác định mức phạt vi phạm tối đa được áp dụng đối với hợp đồng xây dựng (đặc biệt là hợp đồng xây dựng của công trình không sử dụng vốn nhà nước). Cụ thể, BLDS 2015 cho phép các bên thỏa thuận về mức phạt vi phạm mà không chịu bất kỳ giới hạn nào, trừ khi luật chuyên ngành có quy định khác[1]. Luật Thương mại 2005 quy định mức phạt vi phạm không vượt quá 8% giá trị phần hợp đồng bị vi phạm[2]. Luật Xây dựng 2014 quy định mức phạt vi phạm không vượt quá 12% giá trị phần hợp đồng bị vi phạm đối với công trình xây dựng sử dụng vốn nhà nước[3]. Luật Xây dựng 2014 không quy định về mức phạt vi phạm áp dụng đối với hợp đồng xây dựng của công trình xây dựng không sử dụng vốn nhà nước.

Do BLDS 2015, Luật Thương mại 2005 và Luật Xây dựng 2014 có quy định khác nhau về mức phạt vi phạm tối đa, vấn đề pháp lý cơ bản đầu tiên được đặt ra là quy định nào sẽ được ưu tiên áp dụng đối với hợp đồng xây dựng trên cơ sở nguyên tắc giải quyết xung đột pháp luật. Khi nguyên tắc giải quyết xung đột được xác định, các bên có cơ sở pháp lý rõ ràng hơn khi thỏa thuận mức phạt vi phạm tối đa trong hợp đồng xây dựng, bao gồm cả hợp đồng xây dựng của công trình không sử dụng vốn nhà nước.

Nếu nhìn vào quan hệ giữa BLDS 2015, Luật Thương mại 2005 và Luật Xây dựng 2014, việc áp dụng riêng lẻ hai nguyên tắc này dường như tạo ra sự mâu thuẫn. Theo đó, nếu chỉ áp dụng nguyên tắc thứ nhất, trình tự ưu tiên áp dụng để giải quyết xung đột pháp luật trong trường hợp này sẽ là BLDS 2015, Luật Xây dựng 2014 và Luật Thương mại 2005. Trong khi đó, nếu chỉ áp dụng nguyên tắc thứ hai, trình tự này sẽ là Luật Xây dựng 2014, Luật Thương mại 2005 và BLDS 2015. Đây là vấn đề không phát sinh tại thời điểm BLDS 2005 có hiệu lực vì Luật Thương mại 2005 và Luật Xây dựng 2014 được ban hành sau BLDS 2005. Do đó, hai nguyên tắc này cần được giải thích cùng nhau để có thể rút ra các nguyên tắc pháp lý phù hợp nhằm xử lý xung đột pháp luật về vấn đề này.

Nguyên tắc văn bản ban hành sau

Khoản 3 Điều 156 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 quy định nguyên tắc văn bản ban hành sau và nguyên tắc này xử lý xung đột giữa các văn bản pháp luật do cùng một cơ quan ban hành. Cụ thể như sau:

“Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban hành có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của văn bản quy phạm pháp luật ban hành sau “.

Nguyên tắc này về cơ bản áp dụng giữa các văn bản pháp luật do cùng một cơ quan ban hành (ví dụ, các luật do Quốc hội ban hành). Nếu không có một nguyên tắc xung đột nào khác áp dụng (ví dụ luật chuyên ngành được ưu tiên áp dụng so với BLDS 2015 theo nguyên tắc luật chung – luật riêng) thì BLDS 2015 sẽ được ưu tiên áp dụng so với các luật ban hành trước thời điểm ban hành BLDS 2015 và không được ưu tiên áp dụng so với các luật ban hành sau thời điểm ban hành BLDS 2015 trong trường hợp có xung đột pháp luật. Cụ thể, BLDS 2015 sẽ được ưu tiên áp dụng so với Luật Xây dựng 2014 và Luật Thương mại 2005, và Luật Xây dựng 2014 sẽ được ưu tiên áp dụng so với Luật Thương mại 2005.

Nguyên tắc luật chung – luật riêng

Nguyên tắc luật chung – luật riêng không được quy định cụ thể tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, nhưng thường được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật cụ thể. Bản thân BLDS 2015 cũng quy định nguyên tắc này để giải quyết xung đột giữa BLDS 2015 và các luật chuyên ngành. Theo nguyên tắc luật chung – luật riêng của BLDS 2015; BLDS 2015 sẽ được xem là “luật chung” và các luật chuyên ngành sẽ được xem là “luật riêng”. Trong quan hệ giữa “luật chung” và “luật riêng”, luật chuyên ngành với tư cách là “luật riêng” được ưu tiên áp dụng với điều kiện là không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự được quy định trong BLDS 2015; nếu trái thì các quy định của BLDS 2015 sẽ được áp dụng. Ngoài ra, nếu luật chuyên ngành không quy định về một vấn đề mà vấn đề đó được quy định trong BLDS 2015 thì BLDS 2015 sẽ áp dụng. Cụ thể, khoản 2 và 3 của Điều 4 BLDS 2015 quy định nguyên tắc pháp lý này như sau:

Bên cạnh BLDS 2015, Luật Thương mại 2005 cũng có quy định nguyên tắc luật chung – luật riêng tại Điều 4. Cụ thể như sau:

2. Hoạt động thương mại đặc thù được quy định trong luật khác thì áp dụng quy định của luật đó.

3. Hoạt động thương mại không được quy định trong Luật thương mại và trong các luật khác thì áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự“.

Khác với BLDS 2015 và Luật Thương mại 2005, Luật Xây dựng 2014 không quy định nguyên tắc luật chung – luật riêng.

Nếu đọc cả hai nguyên tắc văn bản ban hành sau và luật chung – luật riêng như đã nêu, bốn kết luận sau có thể được rút ra để giải quyết xung đột pháp luật trong bối cảnh quan hệ hợp đồng xây dựng:

(i) Nếu quy định của Luật Thương mại 2005 và Luật Xây dựng 2014 trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự được quy định tại BLDS 2015, quy định của Luật Thương mại 2005 và Luật Xây dựng 2014 sẽ không được áp dụng và quy định của BLDS 2015 sẽ được áp dụng;

(ii) Nếu quy định của Luật Thương mại 2005 và Luật Xây dựng 2014 không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự được quy định tại BLDS 2015, quy định của Luật Thương mại 2005 và Luật Xây dựng 2014 sẽ được áp dụng và quy định của BLDS 2015 sẽ không được áp dụng;

(iii) Nếu Luật Thương mại 2005 và Luật Xây dựng 2014 đều không quy định về một vấn đề mà vấn đề đó lại được quy định trong BLDS 2015 thì BLDS 2015 sẽ được áp dụng; và

(iv) Nếu Luật Xây dựng 2014 có quy định về một vấn đề cụ thể thì ưu tiên áp dụng quy định đó. Nếu Luật Xây dựng 2014 không có quy định thì áp dụng Luật Thương mại 2005 nếu Luật Thương mại 2005 có quy định điều chỉnh vấn đề cụ thể đó. Nếu Luật Thương mại 2005 và Luật Xây dựng 2014 đều không có quy định thì áp dụng quy định của BLDS 2015 nếu BLDS 2015 có quy định điều chỉnh vấn đề cụ thể đó.

3. Mức phạt vi phạm tối đa được áp dụng trong hợp đồng xây dựng

Luật Xây dựng 2014 và Luật Thương mại 2005 đều có quy định về mức phạt vi phạm tối đa và các quy định này không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự được quy định tại BLDS 2015[5]. Do đó, trong trường hợp này, quy định của Luật Xây dựng 2014 và Luật Thương mại 2005 về mức phạt vi phạm tối đa đối với các hợp đồng chịu sự điều chỉnh tương ứng của Luật Xây dựng 2014 và Luật Thương mại 2005 sẽ được ưu tiên áp dụng so với BLDS 2015.

1. Đối với hợp đồng xây dựng của công trình có sử dụng vốn nhà nước, do Luật Xây dựng 2014 (với tư cách là luật chuyên ngành điều chỉnh quan hệ hợp đồng xây dựng) đã có quy định cụ thể về mức phạt vi phạm tối đa (cụ thể là 12% giá trị phần hợp đồng bị vi phạm), nên quy định của Luật Xây dựng 2014 sẽ được ưu tiên áp dụng so với Luật Thương mại 2005 và BLDS 2015; và

BLDS 2015. Điều 418.2. Thoả thuận phạt vi phạm

Chú thích:

[1] Khoản 2 Điều 418 BLDS 2015.

[2] Điều 301 Luật Thương mại 2005.

[3] Khoản 2 Điều 146 Luật Xây dựng 2014.

[4] Đoạn 3 Công văn số 48.

[5] Theo Điều 3 BLDS 2015, năm nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự bao gồm (i) không phân biệt đối xử, (ii) tự do thỏa thuận, (iii) thiện chí trung thực, (iv) không xâm phạm lợi ích công cộng và (v) tự chịu trách nhiệm. Quy định về mức phạt vi phạm tối đa của Luật Xây dựng 2014 và Luật Thương mại 2005 không trái với bất kỳ nguyên tắc cơ bản nào của BLDS 2015″.

Cập nhật thông tin chi tiết về Vấn Đề Pháp Lý Và Những Tranh Chấp Trong Hợp Đồng Xây Dựng Thường Gặp trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!