Xu Hướng 2/2023 # Văn Kiện Đại Hội 6 Năm 1986 # Top 7 View | Bac.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Văn Kiện Đại Hội 6 Năm 1986 # Top 7 View

Bạn đang xem bài viết Văn Kiện Đại Hội 6 Năm 1986 được cập nhật mới nhất trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Văn Kiện Đại Hội 6 Năm 1986, Văn Kiện Đại Hội Vi Năm 1986, Văn Kiện Đại Hội Đảng 1986, Đại Hội Đảng Vi Năm 1986, Đại Hội Đảng Năm 1986, Đại Hội Đảng Lần 6 Năm 1986, Đại Hội Đảng 6 Năm 1986, 1975 – 1986, Bối Cảnh Xã Hội Năm 1986, Đại Hội Đảng 1986, Xây Dựng Đảng Từ Năm 1986, Kinh Tế Việt Nam Từ 1986 Đến Nay, Nghị Quyết Số 04 Năm 1986, Đại Hội Đảng 6 Tháng 12 Năm 1986, Bối Cảnh Nhuaengx N 1986, Nghị Quyết Số 04/1986, 1986 Lịch Sử Đảng Đổi Mới Thể Chế, Nghị Quyết 04/1986, Thủ Tục Hành Chính Trước Năm 1986, Nghị Quyết Số 02 Ngày 5/1/1986, Hạn Chế Về Quản Lý Phát Triển Xã Hội (1986-2019), Cơ Sở Và Nhu Cầu Đổi Mới Thể Chế Đối Ngoại Của Việt Nam Thời Điểm Sau 1986, Hãy Phân Tích Quá Trình Đổi Mới Tư Duy Công Nghiệp Hóa Của Đảng Thời Kỳ Đổi Mới (1986 – Nay), Tiểu Luận Đảng Lãnh Đạo Xây Dựng Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Từ Năm 1986 Đến , Tiểu Luận Đảng Lãnh Đạo Xây Dựng Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Từ Năm 1986 Đến, Tiểu Luận Lịch Sử Đảng Lãnh Đạo Cả Nước Xây Dựng Và Bảo Vệ Chủ Nghĩa Xã Hội 1975 1986 Nước Xây Dự, Tiểu Luận Lịch Sử Đảng Lãnh Đạo Cả Nước Xây Dựng Và Bảo Vệ Chủ Nghĩa Xã Hội 1975 1986 Nước Xây Dự, ý Kiến Đóng Góp Cho Dự Thảo Văn Kiện Đại Hội Xiii Của Đảng Về Vấn Đề Môi Trường, ứng Phó Biến Đổi Kh, ý Kiến Đóng Góp Cho Dự Thảo Văn Kiện Đại Hội Xiii Của Đảng Về Vấn Đề Môi Trường, ứng Phó Biến Đổi Kh, Tờ Trinh Xin ý Kiến Kiện Toàn Ban Chấp Hanh Công Đoàn, Dự Thảo Các Văn Kiện Trình Đại Hội Xiii Của Đảng Bao Gồm Các Văn Kiện Nào, Tổng Hợp ý Kiến Góp ý Văn Kiện Đại Hội Xiii Của Đảng, Báo Cáo Tổng Hợp ý Kiến Đóng Góp Văn Kiện Đại Hội Đoàn, Báo Cáo Tổng Hợp ý Kiến Đóng Góp Văn Kiện Đại Hội Đảng Bộ, Báo Cáo Tổng Hợp ý Kiến Kiến Nghị Cử Tri, Mẫu Đóng Góp ý Kiến Vào Văn Kiện Đại Hội Xiii, ý Kiến Đóng Góp Vào Văn Kiện Đại Hội 13 Của Đảng, Báo Cáo Trả Lời ý Kiến, Kiến Nghị Cử Tri Trước Và Sau Kỳ Họp, ý Kiến Đóng Góp Văn Kiện Đại Hội Đảng, ý Kiến Đóng Góp Dự Thảo Văn Kiện Đại Hội, Báo Cáo Tổng Hợp ý Kiến Đóng Góp Văn Kiện Đại Hội Chi Bộ, Báo Cáo Tổng Hợp ý Kiến Kiến Nghị Của Cử Tri, Báo Cáo Tổng Hợp ý Kiến Đóng Góp Văn Kiện, ý Kiến Văn Kiện Trung ương, Phân Tích ưu Nhược Điểm Của Kiến Trúc Tập Trung Và Kiến Trúc Không Tập Trung, Các ý Kiên Đóng Góp Văn Kiện Đại Hội 13, Tổng Hợp ý Kiến Góp ý Văn Kiện Đại Hội, Mẫu Báo Cáo Lấy ý Kiến Góp ý Vào Văn Kiện Đại Hội Xiii, ý Kiến Dự Thảo Văn Kiện Đại Hội 13, Văn Kiện Đại Hội Iv, Cấu Kiện, Mẫu Văn Bản Ghi ý Kiến Của Bị Đơn, Đơn Kiện Đòi Nợ, Báo Cáo Kiến Tập, Báo Cáo Kiến Tập Báo Chí, Báo Cáo Kiến Tập Cơ Khí, Văn Kiện Đại Hội 4, Mẫu Văn Bản Lấy ý Kiến, Mẫu Văn Bản Xin ý Kiến, Văn Kiện Đại Hội 3, Báo Cáo Kết Quả Lấy ý Kiến Cử Tri, Báo Cáo Kết Quả Lấy ý Kiến, Văn Kiện Đại Hội Xi, Văn Kiện Đại Hội Iii, Văn Kiện Đại Hội Vii, Văn Kiện Đại Hội 11, Bài Mẫu Báo Cáo Kiến Tập, Văn Kiện Đại Hội X, Văn Kiện Đại Hội 6, Văn Kiện Đại Hội 5, Bìa Văn Kiện Đại Hội Chi Bộ, Mẫu Thư Mời Sự Kiện, Văn Kiện Đại Hội Lần Thứ 7, Mẫu Văn Bản Xin ý Kiến Chỉ Đạo, Kiến Tập, Văn Kiện Đại Hội 2, Đơn Xin ý Kiến, Văn Kiện Đại Hội Xii, Văn Kiện Đại Hội 12 Mua ở Đâu, ý Kiến, Đơn Xin Kiến Tập, Văn Kiện Đại Hội 12, Văn Kiện Đại Hội 10, Văn Bản Xin ý Kiến Chỉ Đạo, ý Kiến Đại Hội 12, Báo Cáo Kiến Tập Văn Thư Lưu Trữ, Văn Kiện Đại Hội 12 Pdf, Văn Kiện Đại Hội 12 Về Dân Tộc, Văn Kiện Đại Hội 12 Về Văn Hóa, Văn Kiện Đại Hội 13, Văn Kiện X Xi Xii, Văn Kiện Xi, Văn Kiện Đại Hội Hợp Tác Xã, Góp ý Văn Kiện Đại Hội Chi Bộ, Bài Báo Cáo Kiến Tập Mầm Non, Bài Báo Cáo Kiến Tập, Báo Cáo Kiến Tập Mầm Non, Báo Cáo Kiến Tập Mẫu, Báo Cáo Kiến Tập Nvl, Báo Cáo Kiến Tập Văn Hóa,

Văn Kiện Đại Hội 6 Năm 1986, Văn Kiện Đại Hội Vi Năm 1986, Văn Kiện Đại Hội Đảng 1986, Đại Hội Đảng Vi Năm 1986, Đại Hội Đảng Năm 1986, Đại Hội Đảng Lần 6 Năm 1986, Đại Hội Đảng 6 Năm 1986, 1975 – 1986, Bối Cảnh Xã Hội Năm 1986, Đại Hội Đảng 1986, Xây Dựng Đảng Từ Năm 1986, Kinh Tế Việt Nam Từ 1986 Đến Nay, Nghị Quyết Số 04 Năm 1986, Đại Hội Đảng 6 Tháng 12 Năm 1986, Bối Cảnh Nhuaengx N 1986, Nghị Quyết Số 04/1986, 1986 Lịch Sử Đảng Đổi Mới Thể Chế, Nghị Quyết 04/1986, Thủ Tục Hành Chính Trước Năm 1986, Nghị Quyết Số 02 Ngày 5/1/1986, Hạn Chế Về Quản Lý Phát Triển Xã Hội (1986-2019), Cơ Sở Và Nhu Cầu Đổi Mới Thể Chế Đối Ngoại Của Việt Nam Thời Điểm Sau 1986, Hãy Phân Tích Quá Trình Đổi Mới Tư Duy Công Nghiệp Hóa Của Đảng Thời Kỳ Đổi Mới (1986 – Nay), Tiểu Luận Đảng Lãnh Đạo Xây Dựng Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Từ Năm 1986 Đến , Tiểu Luận Đảng Lãnh Đạo Xây Dựng Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Từ Năm 1986 Đến, Tiểu Luận Lịch Sử Đảng Lãnh Đạo Cả Nước Xây Dựng Và Bảo Vệ Chủ Nghĩa Xã Hội 1975 1986 Nước Xây Dự, Tiểu Luận Lịch Sử Đảng Lãnh Đạo Cả Nước Xây Dựng Và Bảo Vệ Chủ Nghĩa Xã Hội 1975 1986 Nước Xây Dự, ý Kiến Đóng Góp Cho Dự Thảo Văn Kiện Đại Hội Xiii Của Đảng Về Vấn Đề Môi Trường, ứng Phó Biến Đổi Kh, ý Kiến Đóng Góp Cho Dự Thảo Văn Kiện Đại Hội Xiii Của Đảng Về Vấn Đề Môi Trường, ứng Phó Biến Đổi Kh, Tờ Trinh Xin ý Kiến Kiện Toàn Ban Chấp Hanh Công Đoàn, Dự Thảo Các Văn Kiện Trình Đại Hội Xiii Của Đảng Bao Gồm Các Văn Kiện Nào, Tổng Hợp ý Kiến Góp ý Văn Kiện Đại Hội Xiii Của Đảng, Báo Cáo Tổng Hợp ý Kiến Đóng Góp Văn Kiện Đại Hội Đoàn, Báo Cáo Tổng Hợp ý Kiến Đóng Góp Văn Kiện Đại Hội Đảng Bộ, Báo Cáo Tổng Hợp ý Kiến Kiến Nghị Cử Tri, Mẫu Đóng Góp ý Kiến Vào Văn Kiện Đại Hội Xiii, ý Kiến Đóng Góp Vào Văn Kiện Đại Hội 13 Của Đảng, Báo Cáo Trả Lời ý Kiến, Kiến Nghị Cử Tri Trước Và Sau Kỳ Họp, ý Kiến Đóng Góp Văn Kiện Đại Hội Đảng, ý Kiến Đóng Góp Dự Thảo Văn Kiện Đại Hội, Báo Cáo Tổng Hợp ý Kiến Đóng Góp Văn Kiện Đại Hội Chi Bộ, Báo Cáo Tổng Hợp ý Kiến Kiến Nghị Của Cử Tri, Báo Cáo Tổng Hợp ý Kiến Đóng Góp Văn Kiện, ý Kiến Văn Kiện Trung ương, Phân Tích ưu Nhược Điểm Của Kiến Trúc Tập Trung Và Kiến Trúc Không Tập Trung, Các ý Kiên Đóng Góp Văn Kiện Đại Hội 13, Tổng Hợp ý Kiến Góp ý Văn Kiện Đại Hội, Mẫu Báo Cáo Lấy ý Kiến Góp ý Vào Văn Kiện Đại Hội Xiii, ý Kiến Dự Thảo Văn Kiện Đại Hội 13, Văn Kiện Đại Hội Iv,

Những Nét Chính Về Đại Hội Đảng Vi Năm 1986

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng diễn ra từ ngày 15-18/12/1986 tại thủ đô Hà Nội.

Dự Đại hội có 1129 đại biểu thay mặt cho gần 1,9 triệu đảng viên trong toàn Đảng. Đến dự Đại hội có 32 đoàn đại biểu quốc tế.

Đồng chí Nguyễn Văn Linh – Uỷ viên Bộ Chính trị đọc diễn văn khai mạc Đại hội.

Đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí thư đọc Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Đồng chí Võ Văn Kiệt – Uỷ viên Bộ Chính trị đọc Báo cáo về phương hướng, mục tiêu chủ yếu phát triển kinh tế – xã hội trong 5 năm (1986-1990).

Đại hội đề xướng và lãnh đạo thành công sự nghiệp Đổi mới. Đại hội VI đã đưa ra quan điểm mới về cải tạo xã hội chủ nghĩa dựa trên 3 nguyên tắc:

– Nhất thiết phải theo quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất để xác định bước đi và hình thức thích hợp.

– Phải xuất phát từ thực tế của nước ta và là sự vận dụng quan điểm của Lênin coi nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ.

– Trong công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa phải xây dựng quan hệ sản xuất mới trên cả 3 mặt xây dựng chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, chế độ quản lý và chế độ phân phối xã hội chủ nghĩa.

Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VI gồm 124 uỷ viên chính thức và 49 uỷ viên dự khuyết.

Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã họp Hội nghị lần thứ nhất bầu Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Đồng chí Nguyễn Văn Linh được bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Các đồng chí Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ được giao trách nhiệm là Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

* Đường lối đổi mới

Đại hội khẳng định quyết tâm đổi mới công tác lãnh đạo của Đảng theo tinh thần cách mạng và khoa học. Đại hội nhận định: Năm năm qua là một đoạn đường đầy thử thách đối với Đảng và nhân dân ta. Cách mạng nước ta diễn ra trong bối cảnh quốc tế và trong nước có những thuận lợi cơ bản, nhưng cũng có nhiều khó khăn phức tạp. Thực hiện những nhiệm vụ, mục tiêu do Đại hội thứ V đề ra, nhân dân ta đã anh dũng phấn đấu đạt được những thành tựu quan trọng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, giành những thắng lợi to lớn trong cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế. Đại hội cũng nhận rõ: Tình hình kinh tế – xã hội đang có những khó khăn gay gắt; sản xuất tăng chậm; hiệu quả sản xuất và đầu tư thấp; phân phối lưu thông có nhiều rối ren; những mất cân đối lớn trong nền kinh tế chậm được thu hẹp; quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa chậm được củng cố; đời sống nhân dân lao động còn nhiều khó khăn… Nhìn chung, chúng ta chưa thực hiện được mục tiêu tổng quát do Đại hội lần thứ V đề ra là về cơ bản ổn định tình hình kinh tế – xã hội, ổn định đời sống nhân dân.

Về nguyên nhân dẫn đến tình hình trên, Đại hội nhấn mạnh trong những năm qua việc nhìn nhận, đánh giá tình hình cụ thể về các mặt kinh tế, xã hội của đất nước đã có nhiều thiếu sót. Do vậy đã dẫn đến nhiều sai lầm “trong việc xác định mục tiêu và bước đi về xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật, cải tạo xã hội chủ nghĩa và quản lý kinh tế”. Đại hội thẳng thắn cho rằng: “Những sai lầm nói trên là những sai lầm nghiêm trọng và kéo dài về chủ trương, chính sách lớn, sai lầm về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện”, đặc biệt là bệnh chủ quan duy ý chí, lạc hậu về nhận thức lý luận.

Từ thực tiễn, Đại hội nêu lên những bài học quan trọng. Một là, trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động. Hai là, Đảng phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan. Năng lực nhận thức và hành động theo quy luật khách quan là điều kiện bảo đảm sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng. Ba là, phải biết kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại trong điều kiện mới. Bốn là, phải xây dựng Đảng ngang tầm nhiệm vụ chính trị của một Đảng cầm quyền lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Trên cơ sở phân tích, đánh giá tình hình đất nước, tự phê bình về những sai lầm khuyết điểm, đổi mới tư lý luận trải qua nhiều tìm tòi, khảo nghiệm từ thực tiễn, Đại hội đề ra đường lối đổi mới.

– Trước hết là đổi mới cơ cấu kinh tế (cơ cấu công – nông nghiệp; cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp; ngành công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp; công nghiệp nặng và kết cấu hạ tầng; cơ cấu kinh tế huyện).

– Thực hiện ba chương trình kinh tế bao gồm chương trình lương thực, thực phẩm; chương trình hàng tiêu dùng; chương trình hàng xuất khẩu.

– Xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, sử dụng và cải tạo đúng đắn các thành phần kinh tế.

Đại hội VI đã đưa ra quan điểm mới về cải tạo xã hội chủ nghĩa dựa trên 3 nguyên tắc: Nhất thiết phải theo quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất để xác định bước đi và hình thức thích hợp. Phải xuất phát từ thực tế của nước ta và là sự vận dụng quan điểm của Lênin coi nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ. Trong công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa phải xây dựng quan hệ sản xuất mới trên cả 3 mặt xây dựng chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, chế độ quản lý và chế độ phân phối xã hội chủ nghĩa.

Đại hội đã đề ra phương hướng nhiệm vụ xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, sử dụng và cải tạo các thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa; thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa; kinh tế tư bản tư nhân; kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc. Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, chính sách xã hội, kế hoạch hoá dân số và giải quyết việc làm cho người lao động. Chăm lo đáp ứng các nhu cầu giáo dục, văn hoá, bảo vệ và tăng cường sức khoẻ của nhân dân. Trên lĩnh vực đối ngoại nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước ta là ra sức kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, phấn đấu giữ vững hoà bình ở Đông Dương, góp phần tích cực giữ vững hoà bình ở Đông Nam Á và trên thế giới, tăng cường quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện với Liên Xô và các nước trong cộng đồng xã hội chủ nghĩa, tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội.

Xây dựng và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Cơ chế Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý đã được Đại hội lần thứ VI xác định là “cơ chế chung trong quản lý toàn bộ xã hội”. Phương thức vận động quần chúng phải được đổi mới theo khẩu hiệu: Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra. Đó là nền nếp hàng ngày của xã hội mới, thể hiện chế độ nhân dân lao động tự quản lý nhà nước của mình.

*Báo cáo Chính trị chỉ rõ 6 nhiệm vụ chủ yếu của bộ máy Nhà nước và nhiệm vụ công tác xây dựng Đảng.

– Thể chế hoá đường lối, chủ trương của Đảng thành pháp luật, chính sách cụ thể.

– Xây dựng chiến lược kinh tế- xã hội và cụ thể hoá chiến lược đó thành những kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội.

– Quản lý hành chính – xã hội và hành chính kinh tế, điều hành các hoạt động kinh tế, xã hội trong toàn xã hội theo kế hoạch, giữ vững pháp luật, kỷ cương nhà nước và trật tự xã hội, giữ vững quốc phòng, an ninh.

– Kiểm tra việc thực hiện kế hoạch của Nhà nước, phát hiện những mất cân đối và đề ra những biện pháp để khắc phục.

– Thực hiện quy chế làm việc khoa học có hiệu suất cao.

– Xây dựng bộ máy gọn nhẹ, có chất lượng cao, với đội ngũ cán bộ có phẩm chất chính trị, có năng lực quản lý Nhà nước, quản lý kinh tế, quản lý xã hội.

(Nguồn tài liệu: Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam; Trang tin Trung tâm Thông tin – Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội).

Văn Kiện Đại Hội Hội Khuyến Học Nq Dai Hoi Doc

UBND XÃ MINH HÒA

HỘI KHUYẾN HỌC

ĐẠI HỘI THÀNH LẬP HỘI KHUYẾN HỌC

XÃ MINH HÒA – NHIỆM KỲ 2011 – 2016

Đại hội đã được đón tiếp quý vị đại biểu, qu ý vị khách quý. Dù thờ i gian làm việc chỉ có một buổi , nhưng với tinh thần và trách nhiệm cao.

C ông bố Quyết định của Chủ tịch UBND Huyện về việc thành lập Hội Khuyến học xã Minh Hòa;

Đại hội đã thông qua các mục tiêu hoạt động của H ội là:

Khuyến khích và hỗ trợ phong trào học tập, nâng cao trình độ văn hóa, nghề nghiệp, góp sức phấn đấu cho sự công bằng xã hội về quyền lợi học tập cho cán bộ công chức, viên chức, học sinh trong xã.

Khuyến khích người thầy phấn đấu, rèn luyện để không ngừng nâng ca o trình độ nghề nghiệp, đạo đức. K iến nghị với Nhà nước về việc ban hành các chính sách và chế độ đãi ngộ tương xứng với yêu cầu đào tạo và vị trí trong xã hội.

Làm tư vấn về giáo dục trên cơ sở tập hợp ý kiến của đông đảo các nhà giáo dục, khoa học và những người có tâm huyết với giáo dục. Vận động toàn xã hội chăm lo cho giáo dục. Làm cầu nối giữa các nhà hảo tâm, các cá nhân, tổ chức tâm huyết muốn đóng góp xây dựng nền giáo dục xã nhà.

Đại hội cũng thông qua chương trình hoạt động với các chỉ tiêu cụ thể như sau:

– Thành lập C hi hội khuyến học cơ sở ở 5 trường gồm: Mẫu giáo Hoa Mai, Tiểu học Minh Hòa, Tiểu học Hòa Lộc, Trung học cơ sở Minh Hòa và THPT Phan Bội Châu.

– Phấn đấu đến 2013 có 100 hội viên trên toàn xã.

– Đảm bảo phát triển và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn quỹ khuyến học hàng năm.

Với những thuận lợi đã có và những khó khăn trước mắt, Ban chấp hành H ội K huyến học xã Minh Hòa – Nhiệm kỳ 2011 – 2016 cùng với tất cả những nhà tâm huyết với khuyến học, khuyến tài và sự nghiệp giáo dục xã nhà, quyết tâm hoàn thành xuất sắc phương hướng nhiệm vụ mà đại hội đã đề ra.

Để thể hiện sự quyết tâm đó, Đại h ội biểu quyết thống nhất các chỉ tiêu đã đề ra trong Chương trình hoạt động của Hội – N hiệm kỳ 2011 – 2016.

Luật Hôn Nhân Gia Đình Năm 1986

Kế thừa và phát triển Luật hôn nhân và gia đình năm 1959, để tiếp tục xây dựng và củng cố gia đình xã hội chủ nghĩa, giữ gìn và phát huy những phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc, xoá bỏ những tục lệ lạc hậu, tập quán tốt đẹp của dân tộc, xoá bỏ những tục lệ lạc hậu, những tàn tích của chế độ hôn nhân và gia đình phòng kiến, chống ảnh hưởng của chế độ hôn nhân và gia đình tư sản ;Căn cứ vào Điều 64 và Điều 65 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ;Luật này quy định chế độ hôn nhân và gia đình.

Điều 1Nhà nước bảo đảm thực sự chế độ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng, nhằm xây dựng gia đình dân chủ, hoà thuận, hạnh phúc, bền vững.Hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc các dân tộc các tôn giáo khác nhau, giữa người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo được tôn trọng và bảo vệ.

Điều 3Nhà nước và xã hội bảo vệ bà mẹ và trẻ em, giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ.

Điều 4Cấm tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, yêu sách của cải trong việc cưới hỏi ; cấm cưỡng ép ly hôn.Cấm người đang có vợ, có chồng kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác.Cấm ngược đãi, hành hạ cha, mẹ, vợ, chồng, con cái.

Điều 5Nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên mới được kết hôn.

Điều 6Việc kết hôn do nam nữ tự nguyện quyết định, không bên nào được ép buộc bên nào, không ai được cưỡng ép hoặc cản trở.

Điều 7Cấm kết hôn trong những trường hợp sau đây :A) Đang có vợ hoặc có chồng ;B) Đang mắc bệnh tâm thần không có khả năng nhận thức hành vi của mình ; đang mắc bệnh hoa liễu ;C) Giữa những người cùng dòng máu về trực hệ ; giữa anh chị em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha ; giữa những người khác có họ trong phạm vi ba đời ;D) Giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi.

Điều 9Việc kết hôn vi phạm một trong các Điều 5, 6, 7 của Luật này là trái pháp luật.Một hoặc hai bên đã kết hôn trái pháp luật, vợ, chồng hoặc con của người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác, Viện kiểm sát nhân dân, Hội liên hiệp phụ nữa Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Công đoàn Việt Nam có quyền yêu cầu Toà án nhân dân huỷ việc kết hôn trái pháp luật.Tài sản của những người mà hôn nhân bị huỷ được giải quyết theo nguyên tắc : tài sản riêng của ai thì vẫn thuộc quyền sở hữu của người ấy ; tài sản chung được chia căn cứ vào công sức đóng góp của mỗi bên ; quyền lợi chính đáng của bên bị lừa dối hoặc bị cưỡng ép kết hôn được bảo vệ.Quyền lợi của con được giải quyết như trong trường hợp cha mẹ ly hôn.

Điều 10Vợ, chồng có nghĩa vụ và quyền ngang nhau về mọi mặt trong gia đình.

Điều 11Vợ, chồng có nghĩa vụ chung thuỷ với nhau, thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau tiến bộ, cùng nhau thực hiện sinh đẻ có kế hoạch.Chồng có nghĩa vụ tạo điều kiện cho vợ thực hiện tốt chức năng của người mẹ.

Điều 12Vợ, chồng có quyền tự do chọn nghề nghiệp chính đáng, tham gia các công tác chính trị, kinh tế, văn hoá và xã hội.

Điều 13Chỗ ở của vợ chồng do vợ chồng lựa chọn, không bị ràng buộc bởi phong tục, tập quán.

Điều 14Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ hoặc chồng tạo ra, thu nhập về nghề nghiệp và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được cho chung.

Điều 15Tài sản chung được sử dụng để bảo đảm những nhu cầu chung của gia đình.Vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với tài sản chung. Việc mua bán, đổi, cho, vay, mượn, và những giao dịch khác có quan hệ đến tài sản mà có giá trị lớn thì phải được sự thoả thuận của vợ, chồng.

Điều 16Đối với tài sản mà vợ hoặc chồng có trước khi kết hôn, tài sản được thừa kế riêng hoặc được cho riêng trong thời kỳ hôn nhân thì người có tài sản đó có quyền nhập hoặc không nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng.

Điều 17Khi một bên chết trước, nếu cần chia tài sản chung của vợ chồng thì chia đôi. Phần tài sản của người chết được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế.Vợ, chồng có quyền thừa kế tài sản của nhau.

Điều 18Khi hôn nhân tồn tại, nếu một bên yêu cầu và có lý do chính đáng, thì có thể chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định ở Điều 42 của Luật này.

Điều 20Cha mẹ có nghĩa vụ nuôi dưỡng con đã thành niên mà không có khả năng lao động để tự nuôi mình.

Điều 21Các con có nghĩa vụ và quyền ngang nhau trong gia đình.Con có nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, lắng nghe những lời khuyên bảo của cha mẹ.

Điều 22Con đã thành niên còn ở chung với cha mẹ có quyền lựa chọn nghề nghiệp, tham gia các công tác chính trị, kinh tế, văn hoá và xã hội.

Điều 23Con có quyền có tài sản riêng.Con từ 16 tuổi trở lên còn ở chung với cha mẹ có nghĩa vụ chăm lo đời sống chung của gia đình, và nếu có thu nhập riêng thì phải đóng góp vào nhu cầu của gia đình.

Điều 24Cha mẹ đại diện cho con chưa thành niên trước pháp luật.Cha mẹ quản lý tài sản của con chưa thành niên.

Điều 25Cha mẹ chịu trách nhiệm bồi thường các thiệt hại do hành vi trái pháp luật của con dưới 16 tuổi gây ra. Trong trường hợp cha mẹ không có khả năng mà con có tài sản riêng thì lấy tài sản của con để bồi thường.Con chưa thành niên từ 16 tuổi trở lên chịu trách nhiệm bồi thường bằng tài sản riêng của mình đối với các thiệt hại do hành vi trái pháp luật của mình gây ra. Nếu con không có tài sản riêng thì cha mẹ phải bồi thường.

Điều 26Người cha, người mẹ nào bị xử phạt về một trong các tội xâm phạm thân thể, nhân phẩm của con chưa thành niên, ngược đãi nghiêm trọng hoặc hành hạ con chưa thành niên, thì có thể bị Toà án nhân dân quyết định không cho trông giữ, giáo dục con, quản lý tài sản của con hoặc đại diện cho con trong thời hạn từ một năm đến năm năm. Đối với người đã sửa chữa, Toà án nhân dân có thể rút ngắn thời hạn này.Người cha, người mẹ nói trên vẫn có nghĩa vụ đóng góp phí tổn nuôi dạy con.

Điều 27Ông, bà có nghĩa vụ nuôi dưỡng, giáo dục cháu chưa thành niên trong trường hợp cháu không còn cha mẹ. Cháu đã thành niên có nghĩa vụ nuôi dưỡng ông bà trong trường hợp ông bà không còn con. Anh chị em có nghĩa vụ đùm bọc lẫn nhau trong trường hợp không còn cha mẹ.

Điều 28Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ đó là con chung của vợ chồng.Trong trường hợp có yêu cầu xác định lại vấn đề này thì phải có chứng cứ khác.

Điều 29Người được khai là cha, là mẹ một đứa trẻ có thể xin xác định đứa trẻ đó không phải là con mình.Người không được khai là cha, là mẹ một đứa trẻ có thể xin xác định đứa trẻ đó là con của mình.

Điều 30Việc cha mẹ nhận con ngoài giá thú do Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi thường trú của người con công nhận và ghi vào sổ khai sinh.

Điều 32Con ngoài giá thú được cha, mẹ nhận hoặc được Toà án nhân dân cho nhận cha, mẹ có mọi quyền và nghĩa vụ như con trong giá thú.

Điều 33Các tranh chấp về nhận con, nhận cha, mẹ do Toà án nhân dân nơi thường trú của người con xét xử.

Điều 34Việc nuôi con nuôi nhằm gắn bó tình cảm giữa người nuôi và con nuôi trong quan hệ cha mẹ và con cái, bảo đảm người con nuôi chưa thành niên được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục tốt.Giữa người nuôi và con nuôi có những nghĩa vụ và quyền của cha mẹ và con quy định ở các Điều từ 19 đến 25 của Luật này.

Điều 35Người từ 15 tuổi trở xuống mới được nhận làm con nuôi. Trong trường hợp con nuôi là thương binh, người tàn tật hoặc làm con nuôi người già yếu cô đơn thì con nuôi có thể trên 15 tuổi.Người nuôi phải hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên.

Điều 36Việc nhận nuôi con nuôi phải được sự thoả thuận của hai vợ chồng người nuôi, của cha mẹ đẻ hoặc người đỡ đầu của người con nuôi chưa thành niên. Nếu nhận nuôi người từ 9 tuổi trở lên thì còn phải được sự đồng ý của người đó.

Điều 37Việc nhận nuôi con nuôi do Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi thường trú của người nuôi hoặc con nuôi công nhận và ghi vào sổ hộ tịch.

Điều 38Nhà nước và xã hội khuyến khích việc nhận các trẻ em mồ côi làm con nuôi.Con liệt sĩ được nhận làm con nuôi vẫn hưởng mọi quyền lợi của con liệt sĩ.

Điều 39Việc nuôi con nuôi có thể chấm dứt khi người nuôi hoặc con nuôi hoặc cả hai người có hành vi nghiêm trọng xâm phạm thân thể, nhân phẩm của nhau hoặc những hành vi khác làm cho tình cảm giữa người nuôi và con nuôi không còn nữa.Việc chấm dứt nuôi con nuôi do Toà án nhân dân quyết định theo yêu cầu của con nuôi hoặc của người nuôi. Trong trường hợp người con nuôi chưa thành niên thì cha mẹ đẻ hoặc người đỡ đầu của con nuôi, Viện kiểm sát nhân dân, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Công đoàn Việt Nam có quyền yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi.

Điều 41Trong trường hợp vợ có thai, chồng chỉ có thể xin ly hôn sau khi vợ đã sinh con được một năm.Điều hạn chế này không áp dụng đối với việc xin ly hôn của người vợ.

Điều 44Vợ chồng đã ly hôn vẫn có mọi nghĩa vụ và quyền đối với con chung.

Điều 46Việc đỡ đầu được thực hiện trong trường hợp cần bảo đảm việc chăm nom, giáo dục và bảo vệ quyền lợi của người chưa thành niên mà cha mẹ đã chết, hoặc tuy cha mẹ còn sống nhưng không có điều kiện để làm những nhiệm vụ đó.

Điều 47Cha mẹ có thể cử người đỡ đầu cho con chưa thành niên. Nếu cha mẹ không cử được thì những người thân thích có thể cử người đỡ đầu cho người đó. Việc cử người đỡ đầu do Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn công nhận.Trong trường hợp cha mẹ hoặc những người thân thích không cử được người đỡ đầu thì cơ quan Nhà nước có chức năng hoặc tổ chức xã hội đảm nhiệm việc đỡ đầu người con chưa thành niên.

Điều 48Công dân làm người đỡ đầu phải là người từ 21 tuổi trở lên, có tư cách đạo đức tốt và có điều kiện thực tế để làm người đỡ đầu.

Điều 49Công dân hoặc tổ chức làm người đỡ đầu có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây :A) Chăm sóc, giáo dục người được đỡ đầu;B) Quản lý tài sản của người được đỡ đầu;C) Đại diện cho người được đỡ đầu trước pháp luật và bảo vệ quyền lợi của người đó.

Điều 50Công dân làm người đỡ đầu chịu sự giám sát của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn về công việc đỡ đầu.Người thân thích của người được đỡ đầu, Viện kiểm sát nhân dân,Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Công đoàn Việt Nam có quyền yêu cầu Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn thay người đỡ đầu, nếu người này không làm tròn nhiệm vụ, gây thiệt hại nghiêm trọng đến quyền lợi của người đỡ đầu.Công dân làm người đỡ đầu có thể yêu cầu cử người thay, nếu thấy mình không còn đủ điều kiện làm người đỡ đầu.

Điều 51Việc đỡ đầu chấm dứt khi người chưa thành niên được giao lại cho cha mẹ, được nhận làm con nuôi, hoặc đủ 18 tuổi.

CHƯƠNG IXQUAN HỆ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CỦA CÔNG DÂN VIỆT NAM VỚI NGƯỜI NƯỚC NGOÀI

Điều 52Trong việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, mỗi bên tuân theo những quy định của pháp luật nước mình về kết hôn.Nếu việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài tiến hành ở Việt Nam thì người nước ngoài còn phải tuân theo các quy định ở Điều 5, Điều 6, Điều 7 của Luật này. Thủ tục kết hôn do Hội đồng bộ trưởng quy định.

Điều 53Những vấn đề về quan hệ vợ chồng, quan hệ tài sản, quan hệ cha mẹ và con, huỷ việc kết hôn, ly hôn, nuôi con nuôi và đỡ đầu giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài do Hội đồng Nhà nước quy định.

Điều 54Trong trường hợp đã có hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về hôn nhân và gia đình giữa Việt Nam và nước ngoài, thì tuân theo những quy định của các hiệp định đó.

Điều 55Đối với dân tộc thiểu số, Hội đồng Nhà nước căn cứ Luật này và tình hình cụ thể mà có những quy định thích hợp.

Điều 56Hội đồng bộ trưởng, Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, trong phạm vi chức năng của mình, có trách nhiệm hướng dẫn thi hành Luật này.Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Công đoàn Việt Nam giáo dục, vận động nhân dân thi hành nghiêm chỉnh Luật này.

Điều 57Luật này thay thế Luật hôn nhân và gia đình năm 1959.

Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VII, kỳ họp thứ 12, thông qua ngày 29 tháng 12 năm 1986.

Cập nhật thông tin chi tiết về Văn Kiện Đại Hội 6 Năm 1986 trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!