Xu Hướng 3/2024 # Vi Bằng Ghi Nhận Chứng Cứ Ghi Âm, Ghi Hình Và Dữ Liệu Điện Tử # Top 4 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Vi Bằng Ghi Nhận Chứng Cứ Ghi Âm, Ghi Hình Và Dữ Liệu Điện Tử được cập nhật mới nhất tháng 3 năm 2024 trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Thực tế những năm gần đây, trong hoạt động Thừa phát lại, chúng tôi gặp khá nhiều trường hợp như: đương sự cần xác nhận nợ, xác nhận một nghĩa vụ nhưng đối tác không muốn ký văn bản xác nhận, hoặc ra Tòa làm chứng; trường hợp cung cấp hình ảnh về một vụ tai nạn giao thông, hoặc tường hợp các trang web đăng tin vi phạm bản quyền sản phẩm hoặc sở hữu trí tuệ v.v… đã tìm đến Thừa phát lại. Chúng tôi đã đáp ứng yêu cầu của các đương sự thu thập chứng cứ đúng quy định của pháp luật. Theo quy định tại Điều 93 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2024 (BLTTDS): Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự và cơ quan, tổ chức cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho tòa trong quá trình tố tụng. Điều 94 BLTTDS quy định: Chứng cứ được thu thập từ các nguồn sau đây: tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được, dữ liệu điện tử; …Các nguồn khác mà pháp luật có quy định. Các thông điệp, dữ liệu điện tử được thể hiện dưới hình thức trao đổi dữ liệu điện tử, chứng từ điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax và các hình thức tương tự khác theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử. Từ các quy định trên có thể thấy rằng, bạn sẽ gặp trở ngại lớn trong việc chứng minh nguồn gốc và tính xác thực của băng ghi âm nhất là trong thời đại công nghệ thông tin hiện đại ngày nay. Bạn không thể giao nộp chiếc máy, ghi âm, điện thoại có chức năng ghi âm, ghi hình cho Tòa án hoặc cho Luật sư. Vậy, có cơ quan hay tổ chức nào có thể hỗ trợ bạn trong trường hợp này? Câu trả lời là các văn phòng Thừa phát lại. Thừa phát lại được nhà nước bổ nhiệm trao cho các thẩm quyền mang tính quyền lực công mà trong đó có thẩm quyền lập vi bằng. Vi bằng là văn bản do Thừa phát lại lập, ghi nhận sự kiện, hành vi được dùng làm chứng cứ trong xét xử và trong các quan hệ pháp lý khác. 1. Vi bằng ghi nhận sự kiện cung cấp chứng cứ ghi âm, ghi hình: Khi có người yêu cầu, bằng các nghiệp vụ chuyên môn và thẩm quyền của mình Thừa phát lại sẽ lập vi bằng ghi nhận sự kiện hành vi ông Q. cung cấp nội dung và nguồn gốc hình ảnh ghi được từ một vụ tai nạn giao thông đó …Trong vi bằng, Thừa phát lại sẽ mô tả lại buổi làm việc, xác nhận sự kiện đương sự cung cấp các thông tin, nôi dung và nguồn gốc đĩa ghi âm, ghi hình hình đó.

Thừa phát lại đã lập vi bằng ghi nhận sự kiện ông A ghi lại nội dung ghi âm thành văn bản và sao in đĩa CD kèm theo vi bằng, xác nhận nguồn gốc đĩa ghi âm đáp ứng yêu cầu về chứng cứ cho đương sự khi làm thủ tục khởi kiện. 2. Vi bằng ghi nhận các chứng cứ về dữ liệu điện tử.

Vi bằng được đăng ký tại Sở Tư pháp thành phố Hà Nội và có giá trị chứng cứ trước Tòa hoặc các quan hệ pháp lý khác, là cơ sở vững chắc giúp bạn bảo vệ quyền lợi của mình./. Hoàng Hải

Băng Ghi Âm, Ghi Hình Có Đem Làm Chứng Cứ Được Không?

Qua thực tế làm việc nhiều khách hàng gọi tới tổng đài luật sư tư vấn hỏi về việc băng ghi âm ghi hình có được coi là bằng chứng để khởi kiện hay không? Để giải đáp thắc mắc này, chúng tôi sẽ có loạt bài viết về giá trị chứng minh chứng cứ của băng ghi âm, ghi hình.

Theo quy định tại Điều 93, 94 Bộ luật tố tụng dân sự 2024: Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự và cá nhân, cơ quan, tổ chức khác giao nộp cho tòa án hoặc do tòa án thu thập.

Điều 93. Chứng cứChứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và được Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp.Điều 94. Nguồn chứng cứChứng cứ được thu thập từ các nguồn sau đây:1. Tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được, dữ liệu điện tử.2. Vật chứng.3. Lời khai của đương sự.4. Lời khai của người làm chứng.5. Kết luận giám định.6. Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ.7. Kết quả định giá tài sản, thẩm định giá tài sản.8. Văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức năng lập.9. Văn bản công chứng, chứng thực.10. Các nguồn khác mà pháp luật có quy định.

Nếu không đáp ứng các điều kiện trên thì băng ghi âm do bạn cung cấp cho Tòa chỉ được xem là nguồn chứng cứ tức rằng để Tòa tham khảo và cần sử dụng thêm các phương pháp khác để xác định có phải là chứng cứ hay không như giám định giọng nói trong băng ghi âm.

Khi Nào Băng Ghi Âm Là Chứng Cứ?

Bà LTBL vừa kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm của TAND huyện Hóc Môn (TP.HCM), cho rằng tòa chỉ dựa vào chứng cứ duy nhất là “băng ghi âm lén” để tuyên bà phải trả cho ông NC 1,4 tỉ đồng là vi phạm nghiêm trọng về tố tụng và đánh giá chứng cứ.

Dùng băng ghi âm đòi nợ

Theo đơn khởi kiện của ông C., trước đây vì tin tưởng nên khi cho bà L. vay tiền, ông không làm giấy tờ gì. Ngày 27-5-2014, ông C. đi cùng một người bạn và con trai đến gặp bà L. ở quán cà phê (được coi là buổi nói chuyện để dàn xếp) và bà L. có thừa nhận việc vay tiền. Trong buổi nói chuyện này, ông C. đã bí mật ghi âm thành một file dài 32 phút. Sau đó, ông C. đã dùng băng ghi âm nói trên làm chứng cứ khởi kiện bà L. đòi tiền.

Làm việc với tòa, bà L. cho rằng không có việc vay mượn tiền giữa hai bên, việc ông C. dùng “băng ghi âm lén” để khởi kiện là không có cơ sở. Bà L. không thừa nhận giọng nói trong băng ghi âm là của mình, không đồng ý đối chất với ông C. Bà cũng không đồng ý cho tòa lấy mẫu giọng nói của mình để giám định theo yêu cầu của ông C. Lý do là bà không có nghĩa vụ chứng minh để phản bác người khởi kiện mà việc chứng minh cho yêu cầu của mình là nghĩa vụ của ông C. Ngoài ra, bà L. cho rằng hai nhân chứng đều là người thân của ông C. nên không khách quan.

Xử sơ thẩm hồi cuối tháng 4-2024, TAND huyện Hóc Môn nhận định: Tại phút thứ 23 của băng ghi âm, bà L. có thừa nhận vay tiền của ông C., có hai người chứng kiến nên cuộc nói chuyện đó là tự nhiên, không ép buộc. Tòa không thực hiện được việc đối chất và lấy mẫu giọng nói vì bà L. không hợp tác nên xem như bà không cung cấp được chứng cứ bảo vệ mình và phản bác ông C. Do bà L. không có sự phản bác nên băng ghi âm mà ông C. cung cấp được coi là chứng cứ. Mặt khác, lời khai của hai nhân chứng phù hợp với diễn tiến, nội dung vụ việc nên có cơ sở chấp nhận. Từ đó tòa đã tuyên buộc như trên.

Phải có văn bản xác nhận xuất xứ…

Kết quả của vụ kiện này sẽ do TAND chúng tôi quyết định khi xét xử phúc thẩm. Vấn đề pháp lý mà chúng tôi muốn đặt ra từ vụ việc này là trong tố tụng dân sự, khi nào thì băng ghi âm được coi là chứng cứ có giá trị pháp lý để tòa án căn cứ vào đó mà ra phán quyết?

Như vậy, pháp luật đã quy định khá rõ về điều kiện để băng ghi âm trở thành chứng cứ. Nếu không đáp ứng được điều kiện nêu trên thì tòa không thể coi băng ghi âm là chứng cứ chứng minh để xác định sự thật khách quan của vụ án mà chỉ coi là tài liệu tham khảo.

Người yêu cầu phải chứng minh

Trong thực tiễn xét xử, nếu các bên đương sự đều thừa nhận giọng nói trong băng ghi âm là của mình, thừa nhận nội dung trao đổi trong băng ghi âm là đúng sự thật thì tòa án công nhận là chứng cứ.

Cần lưu ý thêm, nghĩa vụ chứng minh trong án dân sự thuộc về người có yêu cầu. Chẳng hạn bên cung cấp băng ghi âm cho tòa có nghĩa vụ chứng minh giọng nói trong băng ghi âm là của bên kia, bên kia thì có quyền không cung cấp mẫu giọng nói để giám định vì không có nghĩa vụ phải chứng minh. Luật cũng không có quy định buộc họ phải có nghĩa vụ hợp tác với bên cung cấp băng ghi âm khi họ không muốn. Chỉ khi nào họ có yêu cầu phản tố (ví dụ yêu cầu bên cung cấp băng ghi âm phải xin lỗi vì đã dùng băng ghi âm vu khống…) thì họ mới phải có nghĩa vụ chứng minh rằng giọng nói trong băng ghi âm không phải của mình.

TS NGUYỄN VĂN TIẾN, khoa Luật dân sự Trường ĐH Luật TP.HCM

Băng Ghi Âm Có Được Coi Là Chứng Cứ Không?

23/09/2024

Luật sư Nguyễn Mạnh Tuấn

Chứng cứ là căn cứ quan trọng đối với các đương sự trong vụ việc dân sự. Vậy, pháp luật quy định như thế nào về quyền và nghĩa vụ trong iệc cung cấp chứng cứ? Các tài liệu nào được coi là chứng cứ hợp pháp? Công ty TNHH Luật Minh Gia tư vấn như sau:

1. Luật sư tư vấn về pháp luật tố tụng dân sự

Trong tố tụng dân sự, các đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp chứng cứ cho Tòa án. Các đương sự phải cung cấp cho Tòa án các tài liệu, chứng cứ mình có để chứng minh cho yêu cầu của mình là hợp pháp. Đây là căn cứ quan trọng nhằm xác nhận, chứng minh cho yêu cầu của mình. Tuy nhiên, có nhiều người không biết những tài liệu, văn bản bản nào được coi là chứng cứ hợp pháp.

Vì vậy, nếu bạn còn bất kỳ thắc mắc nào về lĩnh vực tố tụng dân sự, đặc biệt trong vấn đề chứng cứ trong tố tụng dân sự, bạn có thể liên hệ với chúng tôi thông qua hình thức gửi Email tư vấn hoặc liên hệ qua tổng đài 1900.6169 để được hỗ trợ tư vấn.

2. Ghi âm có được coi là chứng cứ không?

Câu hỏi: Luật sư cho tôi hỏi tôi là bị đơn trong vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất với nguyên đơn là bà T G. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà G lại lôi kéo được người làm chứng sai sự thật. Nhưng tôi có cuộn băng ghi âm cuộc đàm thoại với nhân chứng này vào thời gian trước khi xảy ra tranh chấp. Trong đó nhân chứng này đã xác nhận sự thật khách quan của sự việc trái ngược với lời chứng của họ trước toà.

Vậy tôi có thể cung cấp cuộn băng ghi âm này cho toà án để làm chứng cứ không? Theo quy định của pháp luật thì băng ghi âm có được coi là chứng cứ không?

– Thứ nhất, về việc cung cấp chứng cứ

Điều 6 Luật tố tụng dân sự 2024 quy định về Cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự như sau:

“1. Đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.Cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện, yêu cầu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác có quyền và nghĩa vụ thu thập, cung cấp chứng cứ, chứng minh như đương sự.2. Tòa án có trách nhiệm hỗ trợ đương sự trong việc thu thập chứng cứ và chỉ tiến hành thu thập, xác minh chứng cứ trong những trường hợp do Bộ luật này quy định.”

Khoản 5 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự 2024 quy định về quyền, nghĩa vụ của đương sự như sau:

“5. Cung cấp tài liệu, chứng cứ; chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình;”

Khoản 2 Điều 91 Bộ luật tố tụng 2024 quy định về nghĩa vụ chứng minh như sau:

“2. Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó.”

Như vậy, căn cứ theo các quy định này bạn hoàn toàn có quyền cung cấp chứng cứ cho Tòa án.

– Thứ hai, việc băng ghi âm có được coi là chứng cứ không?

Theo Khoản 2 Điều 95quy định về xác định chứng cứ như sau:

Luật Chưa “Kín Kẽ” Với Bằng Chứng Ghi Âm

Theo Bộ luật Tố tụng dân sự (TTDS), băng ghi âm giọng nói được xem là một bằng chứng trước tòa nhưng không hề có luật nào cưỡng chế, bắt buộc đương sự phải cung cấp mẫu giọng nói cho cơ quan chức năng giám định, so sánh.

Hai luật sư (LS) Nguyễn Minh Thuận – Cty luật Sài Gòn Việt Nam và Trần Quang Thắng – Cty luật Quốc tế và Cộng sự – cùng thuộc Đoàn LS TPHCM, đều cho rằng hiện vẫn còn những kẽ hở trong luật đối với việc giám định bằng chứng ghi âm.

Từ đó, có thể suy ra đương sự phải có nghĩa vụ bắt buộc cho giọng để làm mẫu so sánh trong việc giám định theo như quyết định trưng cầu giám định. Nhưng bất cập ở đây là luật thì có quy định bắt buộc, nhưng nếu đương sự không thực hiện thì luật không nói gì đến việc có chế tài đối với người không thực hiện hay không? Chính vì vậy, các đương sự thường không hợp tác vì không có chế tài dành cho họ.

Theo tôi, có ý kiến trong trường hợp này thì ta nên áp dụng tương tự pháp luật giống như đối với trường hợp xét xử vắng mặt đương sự tại khoản 2, Điều 199 Bộ luật TTDS. Ví dụ: Tòa án có thể ra thông báo yêu cầu đương sự cung cấp mẫu giám định hợp lệ đến lần thứ hai mà đương sự vẫn không hợp tác thì xem như đương sự thừa nhận theo như yêu cầu cần giám định của bên có yêu cầu.

– LS Nguyễn Minh Thuận: Trong pháp luật dân sự không có quy định nào buộc đương sự phải phát ra giọng nói của mình để làm cơ sở cho việc giám định. Do đó, nếu như đương sự không hợp tác thì không có cách nào để giám định giọng nói trong băng ghi âm.

– LS Trần Quang Thắng: Theo tôi thì không nên bắt buộc trong mọi trường hợp. Bởi vì khi đương sự không xuất trình được văn bản chứng minh nguồn gốc của file âm thanh, hình ảnh mà mình cung cấp, nhưng tòa vẫn chấp nhận và cho đối chất, trong quá trình đối chất vẫn có trường hợp xảy ra là phía bên kia thừa nhận đúng là file âm thanh, hình ảnh của mình thì lúc này chứng cứ vẫn được công nhận. Do đó, nếu cứng nhắc theo quy định này thì đương sự sẽ bị bác yêu cầu ngay khi cung cấp file âm thanh, hình ảnh mà không có văn bản chứng minh nguồn gốc, xuất xứ, vì vậy sẽ ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự.

Trường hợp tòa bác yêu cầu giám định, các luật sư sẽ phải làm gì để đảm bảo quyền lợi cho thân chủ của mình?

– LS Nguyễn Minh Thuận: Nếu như toà án bác yêu cầu giám định băng ghi âm thì toà đã vi phạm thủ tục tố tụng. Các đương sự có quyền khiếu nại đến chánh án toà án nơi thẩm phán thụ lý vụ án trên để yêu cầu phải giám định băng ghi âm.

– LS Trần Quang Thắng: Theo nguyên tắc chung của Luật TTDS, khi bác yêu cầu về một vấn đề gì mà đương sự có đơn yêu cầu giải quyết thì tòa án phải ban hành bằng văn bản và cho thời hạn khiếu nại hoặc kháng cáo nếu là bản án kể từ ngày đương sự nhận được văn bản đó.

Trong pháp luật dân sự không có quy định nào buộc đương sự phải phát ra giọng nói của mình để làm cơ sở cho việc giám định. Do đó, nếu như đương sự không hợp tác thì không có cách nào để giám định giọng nói trong băng ghi âm.

LS Nguyễn Minh Thuận – Cty Luật Sài Gòn Việt Nam

Tính Hợp Pháp Của Chứng Cứ Ghi Âm Trong Tố Tụng Dân Sự

Theo khoản 1 Điều 82 BLTTDS hiện hành, băng ghi âm được coi là một nguồn chứng cứ (tài liệu nghe được). Tuy nhiên, việc xác định nó có phải là chứng cứ hay không thì phải theo quy định tại khoản 2 Điều 83 bộ luật này.

Từ điều luật hiện hành, trong thực tiễn khi đương sự thu thập tài liệu chứng cứ ghi âm phải biết chuyển hóa tài liệu. Nghiệp vụ chuyển hóa có thể tư vấn từ luật sư, cán bộ điều tra, những người ngành luật khác…

Chứng cứ được thu thập từ các nguồn sau đây:

1. Các tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được;

2. Các vật chứng;

3. Lời khai của đương sự;

4. Lời khai của người làm chứng;

5. Kết luận giám định;

6. Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ;

7. Tập quán;

8. Kết quả định giá tài sản;

9. Các nguồn khác mà pháp luật có quy định.

(Điều kiện được coi là chứng cứ) (Điều 83 – BLTTDS 2024)

– Các tài liệu đọc được nội dung nếu là bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do cơ quan tổ chức có thẩm quyền cung cấp, xác nhận. Do đó các tài liệu đọc được mà không phải là bản chính hoặc bản sao không được công chứng chứng thực theo quy định của Luật thì tài liệu đó không được công nhận là chứng cứ.

– Lời khai của đương sự, lời khai của người làm chứng được coi là chứng cứ nếu được ghi bằng văn bản, băng ghi âm, đĩa ghi âm, băng ghi hình, đĩa ghi hình hoặc khai bằng lời tại phiên tòa;

– Kết luận giám định được coi là chứng cứ nếu việc giám định đó được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định;

– Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ được coi là chứng cứ nếu việc thẩm định được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định và có chữ ký của các thành viên tham gia thẩm định;

– Tập quán được cộng đồng nơi có tập quán đó thừa nhận;

– Kết quả định giá tài sản được coi là chứng cứ nếu việc định giá được tiến hành theo thủ tục do pháp luật quy định hoặc văn bản do chuyên gia về giá cả cung cấp.

Việc quy định chứng cứ chặt chẽ, rõ ràng như vậy là để đảm bảo quyền lợi chính đáng cho đương sự, bảo đảm cho việc giải quyết của Toà án được đúng đắn khách quan và để khắc phục tình trạng ngụy tạo tài liệu, chứng cứ giả.

Như vậy, pháp luật đã quy định khá rõ về điều kiện để băng ghi âm trở thành chứng cứ. Nếu không đáp ứng được điều kiện nêu trên thì tòa không thể coi băng ghi âm là chứng cứ chứng minh để xác định sự thật khách quan của vụ án mà chỉ coi là tài liệu tham khảo.

Nghĩa vụ chứng minh trong án dân sự thuộc về người có yêu cầu:

Trong thực tiễn xét xử, nếu các bên đương sự đều thừa nhận giọng nói trong băng ghi âm là của mình, thừa nhận nội dung trao đổi trong băng ghi âm là đúng sự thật thì tòa án công nhận là chứng cứ.

Trong vụ việc dân sự nếu đương sự có yêu cầu Toà án bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của mình thì đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Toà án để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ, là hợp pháp. Đương sự tự chịu trách hậu quả về việc không có chứng cứ và chứng minh được hoặc chứng minh không đầy đủ.

Chẳng hạn bên cung cấp băng ghi âm cho tòa có nghĩa vụ chứng minh giọng nói trong băng ghi âm là của bên kia, bên kia thì có quyền không cung cấp mẫu giọng nói để giám định vì không có nghĩa vụ phải chứng minh. Luật cũng không có quy định buộc họ phải có nghĩa vụ hợp tác với bên cung cấp băng ghi âm khi họ không muốn. Chỉ khi nào họ có yêu cầu phản tố (ví dụ yêu cầu bên cung cấp băng ghi âm phải xin lỗi vì đã dùng băng ghi âm vu khống…) thì họ mới phải có nghĩa vụ chứng minh rằng giọng nói trong băng ghi âm không phải của mình.

Cập nhật thông tin chi tiết về Vi Bằng Ghi Nhận Chứng Cứ Ghi Âm, Ghi Hình Và Dữ Liệu Điện Tử trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!