Xu Hướng 2/2024 # Vi Phạm Chế Độ Hôn Nhân Một Vợ Một Chồng Là Như Thế Nào ? # Top 4 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Vi Phạm Chế Độ Hôn Nhân Một Vợ Một Chồng Là Như Thế Nào ? được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Thế nào là hành vi sống chung như vợ chồng ? Vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng là gì ? Việc vi phạm chế độ hôn nhân sẽ bị xử lý như thế nào theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay. Luật sư tư vấn và giải đáp cụ thể:

1. Vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng là như thế nào ?

Chào Luật sư! Trường hợp ở xã tôi người vợ bỏ đi không rõ lý do từ năm 2024 đến nay không về. Năm 2024 người chồng chung sống với người phụ nữ khác đến nay mà chưa ly hôn với vợ trước đã đăng ký hợp pháp như vậy vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng? Thẩm quyền và thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là như thế nào ?

Do đó, trong trường hợp 2 vợ chồng đó chưa ly hôn nhưng chồng đã có hành vi chung sống với người phụ nữ khác, nên anh chồng đã vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng, vi phạm điều cấm của pháp luật. Vì thế, người vợ có thể gửi đơn lên Ủy ban nhân dân xã đề nghị xử lý hành vi vi phạm pháp luật của chồng và người phụ nữ đó.

Điều 48. Hành vi vi phạm quy định về kết hôn, ly hôn và vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người có họ trong phạm vi ba đời;đ) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa cha mẹ nuôi với con nuôi;e) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa người đã từng là cha mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng.2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:a) Lợi dụng việc ly hôn để trốn tránh nghĩa vụ tài sản, vi phạm chính sách, pháp luật về dân số hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích chấm dứt hôn nhân;b) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người có cùng dòng máu về trực hệ.

2. Tư vấn vi phạm chế độ một vợ, một chồng ?

Cho em gửi lời chào tới mọi ngưòi. Em tên Ngọc, em rất khó xử trong trường hợp này: Em chơi cùng một bạn nữ, bọn em chơi thân với nhau, bạn ý có chồng và hai con rồi. Do chồng bạn ý đi nước ngoài nên thiếu thốn tình cảm vì vậy bạn ấy có cặp bồ với một người chưa vợ.

Nhiều lần em khuyên bạn nên dừng lại, hiện tại bạn ý cũng không muốn có quan hệ với người kia nữa. Anh ta biết em hay khuyên bạn em và động viên giữ hạnh phúc gia đình nên anh ta đe dọa bạn em là nếu chấm dứt sẽ bảo chồng cô ấy và phá tới cùng. Hắn ta còn bắt quan hệ tình dục nữa nhưng bạn em không đồng ý vậy em có thể dùng luật gì để xử lý trong việc này ạ. Bạn em muốn em giúp đỡ mà em không hiểu luật ?

Xin anh chị giúp em và bạn em giữ được hạnh phúc gia đình. Em chân thành cảm ơn ạ.

Trả lời:

Theo dữ liệu bạn đưa ra thì bạn của bạn có quan hệ với một người chưa vợ, bạn đã khuyên bạn ấy nên giữ hạnh phúc gia đình và bạn ấy cũng nghe theo nhưng cái anh có quan hệ với bạn của bạn lại đe dọa nếu chấm dứt sẽ nói với chồng vô ấy và phá tới cùng. Trong trường hợp này chúng tôi sẽ tư vấn cho bạn như sau:

Phạt hành chính từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng theo quy định tại điều 48 Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ( được sửa đổi bởi Khoản 35 Điều 1 Nghị định 67/2024/NĐ-CP) quy định xử phạt hành chính lĩnh vực hành chính, hôn nhân, thi hành án, phá sản, hợp tác xã

Điều 48. Hành vi vi phạm quy định về kết hôn, ly hôn và vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;…

Nếu gây ra hậu quả nghiêm trọng như: ly hôn, vợ chồng con cái vì chuyện này mà tự sát… sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điều 182 bộ luật hình sự 2024:

Trong trường hợp này, nếu anh ta có hành vi đe dọa bạn của bạn, bạn có thể đề nghị người bạn đó yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tiến hành can thiệp để đảm bảo quyền lợi của bản thân.

3. Xử phạt vụ việc vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng ?

Tôi cùng vợ có hộ khẩu thường trú tại Bà Rịa Vũng Tàu, kết hôn năm 2004. do công việc nên vợ chuyển về bên ngoại làm việc cho cơ quan nhà nước tại Đăk Lăk, còn tôi làm tiếp thị mỗi tháng tôi về thăm nhà 1 lần. Chúng tôi có 2 con chung đang ở với tôi tại Bà Rịa Vũng Tàu và 1 con riêng của vợ do tôi đứng tên khai sinh nhưng sống với bà ngoại ở Đăk Lăk, nhưng 1 năm trước vợ đã tìm cha của bé về nhận con. Hiện nay vợ tôi chung sống với nhân tình tại Đăk Lăk (kể từ tháng 10/2024. thông tin này do mẹ và bà con bên vợ cho biết khi tôi đón con thứ 2 về chung sống) sau nhiều lần khuyên nhủ thì tôi bị vợ chặn tất cả thông tin liên lạc, tôi nhờ người thân khuyên thì họ thờ ơ, thậm chí tôi đã gửi thư đến cơ quan vợ đang công tác nhờ họ khuyên nhủ cô ấy quay về với con thì họ im lặng không tin tức. nay tôi xin luật sư tư vấn:

– Căn cứ vào điều 182 bộ luật hình sự 2024

Theo thông tin bạn cung cấp, vợ bạn hiện tại đang sống như vợ chồng (có con chung, tài sản chung…) với người khác là đã vi phạm chế độ một vợ một chồng. Tuy nhiên, việc chung sống đó chưa dẫn tới hậu quả nghiêm trọng hoặc chưa bị xử phạt hành chính về hành vi này nên không thể truy cứu trách nhiệm hình sự trong trường hợp của bạn.

– Nếu chưa đủ căn cứ để xử lý hình sự thì vợ anh và tình nhân kia có thể bị xử phạt hành chính theo điều 48 Nghị định 110/2013/NĐ-CP

Điều 48. Hành vi vi phạm quy định về kết hôn, ly hôn và vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;d)Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người có họ trong phạm vi ba đời;đ)Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa cha mẹ nuôi với con nuôi;e)Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa người đã từng là cha mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng.2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:a)Lợi dụng việc ly hôn để trốn tránh nghĩa vụ tài sản, vi phạm chính sách, pháp luật về dân số hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích chấm dứt hôn nhân;b)Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người có cùng dòng máu về trực hệ.

– Về thẩm quyền xử phạt được quy định tại Nghị định 110/2013/NĐ-CP, cụ thể là :

Tóm lại, vợ anh và tình nhân kia sẽ bị xử phạt hành chính từ 1.000.000VNĐ đến 3.000.000VNĐ về việc vi phạm chế độ một vợ một chồng. Anh có thể làm đơn gửi lên UBND cấp xã để được giải quyết sự việc này

4. Khởi kiện việc vi phạm hôn nhân một vợ, một chồng ?

Thưa luật sư! Chúng tôi tổ chức đám cưới vào năm 2013, đến nay vẫn chưa làm thủ tục đăng ký kết hôn, Bây giờ có 1 người phụ nữ đến nhà nói là vợ của chồng tôi, có giấy đăng ký kết hôn, năm 2007, có giấy khai sinh của con chồng tôi. Khi tôi bảo chồng tôi về địa phương cư trú làm giấy xác nhận trình trạng hôn nhân thì phường vẫn cấp là tình trạng độc thân, chưa kết hôn với ai lần nào cả.

Như vậy, chồng tôi và cô kia đã đăng ký kết hôn tại phường nơi cô kia ở mà không có giấy xác nhận tình trạng hôn nhân của chồng tôi nơi địa phương chồng tôi ở, vậy giấy đăng ký kết hôn đó có hiệu lực hay không? Và nếu cô kia đi kiện chồng tôi thì có được không? Gia đình tôi không biết xử lý vụ này sao cho ổn thỏa ?

Mong luật sư giúp tôi tư vấn cách để tháo gỡ! Rất cảm ơn luật sư!

Trả lời:

Theo bạn trình bày, chồng bạn và người kia đã có giấy chứng nhận đăng ký kết hôn từ năm 2007. Hiện nay, khi bạn xin xác nhận tình trạng độc thân của chồng thì xã nơi chồng bạn đang ở vẫn cấp cho giấy này và ghi nhận là tình trạng hôn nhân là độc thân. Tuy nhiên, bạn phải kiểm tra bên UBND xã nơi mà đăng ký kết hôn của chồng bạn với người kia, xem họ có vi phạm về thủ tục kết hôn không, bởi có trường hợp xã nơi chồng bạn đăng ký hộ khẩu chưa được thông tin lại về việc kết hôn của chồng bạn năm 2007 nên chưa nắm được vấn đề này. Nếu bên xã mà thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn năm 2007 có vi phạm thủ tục thì chồng bạn có quyền yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật.

Còn nếu không vi phạm thủ tục đăng ký thì người kia có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính với chồng bạn.

Nghị định 110/2013/NĐ-CP(được sửa đổi bởi Khoản 35 Điều 1 Nghị định 67/2024/NĐ-CP) : hành vi vi phạm quy định về cấm kết hôn, vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng; vi phạm quy định về ly hôn có thể bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi này.

5. Vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng thì bị xử lý hình sự không?

Thưa Luật sư. Cho tôi hỏi 1 vấn đề như sau.Vợ tôi ngoại tình, tôi có bằng chứng là vợ tôi mổ vì chửa ngoài dạ con. Trong thời gian đó tôi không ở nhà. Vậy tôi có thể làm đơn kiện vợ không. Và vợ tôi sẽ chịu phạt như thế nào và bố vợ tôi ký giấy cho vợ tôi mổ thì tôi có quyền kiện vì che giấu cho vợ tôi không. Tôi xin cảm ơn.

Điều 66. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có quyền:a) Phạt cảnh cáo;b) Phạt tiền đến 3.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình.

Điều 33. Quyền sống, quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, thân thể1. Cá nhân có quyền sống, quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, thân thể, quyền được pháp luật bảo hộ về sức khỏe. Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật.2. Khi phát hiện người bị tai nạn, bệnh tật mà tính mạng bị đe dọa thì người phát hiện có trách nhiệm hoặc yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức khác có điều kiện cần thiết đưa ngay đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nơi gần nhất; cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh.3. Việc gây mê, mổ, cắt bỏ, cấy ghép mô, bộ phận cơ thể người; thực hiện kỹ thuật, phương pháp khám, chữa bệnh mới trên cơ thể người; thử nghiệm y học, dược học, khoa học hay bất cứ hình thức thử nghiệm nào khác trên cơ thể người phải được sự đồng ý của người đó và phải được tổ chức có thẩm quyền thực hiện.Trường hợp người được thử nghiệm là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc là bệnh nhân bất tỉnh thì phải được cha, mẹ, vợ, chồng, con thành niên hoặc người giám hộ của người đó đồng ý; trường hợp có nguy cơ đe dọa đến tính mạng của bệnh nhân mà không chờ được ý kiến của những người nêu trên thì phải có quyết định của người có thẩm quyền của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.4. Việc khám nghiệm tử thi được thực hiện khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:a) Có sự đồng ý của người đó trước khi chết;b) Có sự đồng ý của cha, mẹ, vợ, chồng, con thành niên hoặc người giám hộ nếu không có ý kiến của người đó trước khi chết;c) Theo quyết định của người đứng đầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoặc của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong trường hợp luật quy định.

Thế Nào Là Vi Phạm Chế Độ Hôn Nhân Một Vợ Một Chồng?

– Luật Tiền Phong Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng là một trong những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật hiện hành. Vậy thế nào vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng?

Chào luật sư, tôi đã kết hôn và có 2 con. Thời gian gần đây tôi có tình cảm với một cô gái làm cùng cơ quan tôi. Cô ấy luôn tỏ ra yêu mến và quan tâm đến tôi. Khi biết tôi đã có gia đình, cô ấy nói rằng muốn “xin” tôi một đứa con là con của tôi và cô ấy. Tôi đang băn khoăn không biết nếu tôi và cô ấy có con với nhau thì có vi phạm luật hôn nhân và gia đình về chế độ hôn nhân một vợ một chồng không, mong luật sư trả lời giúp tôi.

Chào anh, đối với vấn đề của anh Ban tư vấn Luật Tiền Phong xin giải đáp như sau:

Bộ Luật hình sự Việt Nam quy định về Tội vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng như sau:

” 1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm.

2. Phạm tội trong trường hợp đã có quyết định của Toà án tiêu huỷ việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm. ”

Theo hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC hướng dẫn áp dụng Chương XV “Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình” của Bộ luật hình sự do Bộ Tư pháp – Bộ Công an – TANDTC – Viện KSNDTC ban hành, thì hành vi ” chung sống như vợ chồng ” là việc người đang có vợ, có chồng chung sống với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà lại chung sống với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ một cách công khai hoặc không công khai nhưng cùng sinh hoạt chung như một gia đình. Việc chung sống như vợ chồng thường được chứng minh bằng việc có con chung, được hàng xóm và xã hội xung quanh coi như vợ chồng, có tài sản chung đã được gia đình cơ quan, đoàn thể giáo dục mà vẫn tiếp tục duy trì quan hệ đó…

Bên cạnh đó pháp luật cũng quy định chỉ có thể cứu trách nhiệm hình sự về tội này khi thuộc một trong các trường hợp sau đây

Hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng gây hậu quả nghiêm trọng.

Hậu quả nghiêm trọng có thể là làm cho gia đình của một hoặc cả hai bên tan vỡ dẫn đến ly hôn, vợ hoặc chồng, con vì thế mà tự sát, v.v…

Người vi phạm chế độ một vợ, một chồng đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

Trường hợp vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội của mình khi đã có quyết định của Tòa án tiêu hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái pháp luật thì người phạm tội có thể bị phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.

Việc anh và cô gái kia có con với nhau có vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng hay không cần xét trên việc anh và cô ấy có hành vi chung sống như vợ chồng hay không và việc chung sống đó gây ra hậu quả nghiêm trọng như gia đình của một hoặc cả hai bên tan vỡ dẫn đến ly hôn hoặc vợ, chồng, con vì thế mà tự sát.

Vi Phạm Chế Độ Hôn Nhân Một Vợ Một Chồng, Xử Lý Như Thế Nào?

13/08/2024

Luật hôn nhân và gia đình là một trong những văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng một cách đa dạng nhất, bởi lĩnh vực bao trùm hầu hết các vấn đề của đời sống xã hội. Tuy nhiên, hôn nhân và gia đình cũng là lĩnh vực khó giải quyết bởi đó là quan hệ dân sự, bên cạnh áp dụng quy định pháp luật thì để giải quyết vấn đề này cần có sự nhì nhận một cách công tâm về sự công bằng, đạo đức xã hội của Thẩm phán. Luật sư sẽ tư vấn rõ hơn về vấn đề này.

1. Luật sư tư vấn về hôn nhân và gia đình.

Một trong những nguyên tắc của luật hôn nhân và gia đình là hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng; không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, giữa người Việt Nam hoặc người nước ngoài; Xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; các thành viên gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; không phân biệt đối xử giữa các con. Nếu bạn đang gặp khó khăn về vấn đề này hoặc bất kì vấn đề nào củapháp luật, đừng ngần ngại liên lạc với chúng tôi qua hotline 1900.6169 để được hỗ trợ các vấn đề pháp lý như:

– Tư vấn về trình tự, thủ tục đăng ký kết hôn và thẩm quyền tiến hành đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài.

– Giải đáp thắc mắc về chia tài sản chung và quyền, nghĩa vụ đối với tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân.

– Tư vấn về trách nhiệm pháp lý của hành vi bạo lực gia đình.

– Tư vấn về chế độ cấp dưỡng sau khi ly hôn.

2. Trường hợp vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng thì xử lý như thế nào?

Câu hỏi: Chào luật sư, Em kết hôn được 2 năm,và chưa có con, em sống chung với mẹ chồng nên không có tài sản gì hết, chồng em ngoại tình và công khai, nói em về nhà mẹ đi, tụi em ly thân được 3 tháng rồi, giờ chồng e sống với người phụ nữ đó như vợ chồng và phụ nữ đó đang có bầu, giờ em phải làm như thế nào để kiện người phụ nữ đó và chồng em, trường hợp này em muốn ly hôn thì em có quyền lợi gì khi ly hôn không ạ? Mong luật sư tư vấn. Em xin cảm ơn!

Thứ nhất, Về việc chồng bạn ngoại tình công khai và có con với người phụ nữ khác.

Để bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình, tại Khoản 2 Điều 5 Luật hôn nhân và gia đình 2014 có quy định:

“a) Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo; b) c) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;…”Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn;“1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;d) Kết hôn giữa những người có họ trong phạm vi ba đời;đ) Kết hôn giữa cha mẹ nuôi với con nuôi;e) Kết hôn giữa người đã từng là cha mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng.2. Cấm các hành vi sau đây:

Do đó, trong trường hợp bạn và chồng bạn chưa ly hôn nhưng chồng bạn đã có hành vi chung sống với người phụ nữ khác, người phụ nữ đó lại có bầu, nên chồng bạn đã vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng, vi phạm điều cấm của pháp luật. Vì thế, bạn có thể gửi đơn lên Ủy ban nhân dân xã đề nghị xử lý hành vi vi phạm pháp luật của chồng bạn và người phụ nữ đó.

Khoản 1 Điều 48 Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã quy định:

Câu hỏi thứ 2 – Có được hạn chế quyền thăm nom, chăm sóc cháu của ông bà khi vợ chồng ly hôn?

Thứ hai, trong trường hợp bạn muốn ly hôn thì bạn có thể gửi đơn yêu cầu ly hôn lên Tòa án. Do vợ chồng bạn sống chung với gia đình, nên nếu tài sản của vợ chồng bạn trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình. Việc chia một phần trong khối tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận với gia đình; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 61: Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được theo phần thì khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để chia theo quy định tại Điều 59 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Chào luật sư. Tôi muốn hỏi điều như sau: Vợ chồng tôi đã ly hôn, con trai tôi 1 tuổi được tòa tuyên do mẹ nuôi dưỡng và bố chu cấp nuôi con. Bà nội và bố cháu đến thăm hàng tuần, nhưng cứ đến là nói những câu khó nghe như: “ông bà trông cháu đừng để cháu bốc cơm mèo ăn”… , thương xót cháu còi ốm, đe dọa cháu có làm sao thì không tha cho cả nhà… (cháu còn bé hay ốm vặt). Trong khi cả nhà tôi mọi người đều gắng hết sức chăm sóc cháu, làm tôi và ông bà ngoại rất khó chịu và phải nhịn để không gây ra to tiếng.

Tôi muốn hỏi tôi sẽ không hạn chế bố thăm con nhưng tôi có thể hạn chế bà nội cháu thăm cháu 1 tháng 1 lần và không được can thiệp vào việc mẹ chăm sóc con hay không? Xin cảm ơn luật sư !

Trả lời: Đối với yêu cầu hỗ trợ của anh/chị chúng tôi đã tư vấn một số trường hợp tương tự thông qua bài viết cụ thể sau đây:

Theo đó, vì ông bà cũng có quyền và nghĩa vụ để chăm sóc, giáo dục cháu, sống mẫu mực và nêu gương tốt cho con cháu. Nên với căn cứ bạn cung cấp thì không có cơ sở để yêu cầu hạn chế quyền thăm nom của ông, bà với cháu được.

#1 Vi Phạm Chế Độ Một Vợ Một Chồng Bị Xử Lý Như Thế Nào?

Phạt vi phạm hành chính: phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng.

Truy cứu trách nhiệm hình sự: theo quy định này, tùy theo tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi và hậu quả để lại mà cá nhân có thể bị xử lý hình sự về tội vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng theo các khung hình phạt khác nhau.

Thế nào là chế độ một vợ một chồng?

Tại khoản 1 điều 2 luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có quy định về các nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình, trong đó có ghi nhận chế độ hôn nhân một vợ một chồng như sau:

Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng.

Quan hệ hôn nhân được xác lập khi đáp ứng các điều kiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình, các điều kiện đó cũng phải phù hợp với nguyên tắc tự nguyện, một vợ một chồng. Mỗi cá nhân dù là nam hay nữ thì ở một thời điểm chỉ được tồn tại quan hệ hôn nhân với một người. Điều đó đồng nghĩa với việc, trong thời kì hôn nhân, một bên không được kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác.

Việc đặt ra quy định về chế độ một vợ một chồng nhằm đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ giữa vợ chồng trong cuộc hôn nhân, giúp cuộc sống hôn nhân bền vững, hạnh phúc.

Các trường hợp vi phạm chế độ một vợ một chồng

Vậy những hành vi nào vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng?

Khoản 2 điều 5 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 có quy định về các trường hợp cấm kết hôn. Trong đó điểm c khoản này quy định cấm hành vi sau:

Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ.

Đây chính là hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng và bị pháp luật cấm. Cụ thể bao gồm:

Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người chưa có vợ, có chồng.

Người chưa có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mình biết rõ là đang có vợ, có chồng.

Xử lý trường hợp vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng

Các hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng là các hành vi bị cấm theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Do đó, các hành vi này sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật. Các chế tài có thể áp dụng để xử lý hành vi vi phạm bao gồm xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự, tùy vào mức độ nghiêm trọng của hành vi vi phạm và hậu quả của hành vi đó để lại.

Khoản 1 điều 48 Nghị định 110/2013/NĐ-CP Quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực Hôn nhân và gia đình có quy định:

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;

c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

Như vậy, theo quy định này, hành vi vi phạm chế độ hôn nhân 1 vợ 1 chồng sẽ bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng.

Truy cứu trách nhiệm hình sự

Trong trường hợp nào thì hành vi vi phạm chế độ 1 vợ 1 chồng sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự? Căn cứ theo quy định tại điều 182 Bộ luật Hình sự năm 2024, sửa đổi bổ sung 2024 về tội vi phạm chế độ một vợ một chồng, chúng ta có thể xác định được chế tài hình sự được áp dụng khi hành vi đó là nghiêm trọng và đủ yếu tố cấu thành tội phạm.

Theo đó, người có hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng như đã nêu có thể bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm nếu thuộc vào một trong hai trường hợp:

Việc vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng làm cho một hoặc cả hai bên phải ly hôn.

Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm chế độ một vợ một chồng mà vẫn tiếp tục vi phạm.

Đối với trường hợp có hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng mà thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát.

Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái pháp luật mà vẫn duy trì quan hệ đó.

Như vậy, theo quy định này, tùy theo tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi và hậu quả để lại mà cá nhân có thể bị xử lý hình sự về tội vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng theo các khung hình phạt khác nhau.

Trân trọng ./.

Luật Sư Tư Vấn Xử Lý Vi Phạm Chế Độ Hôn Nhân Một Vợ Một Chồng

Hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng và chế tài xử phạt hành chính – xử lý hình sự vi phạm nguyên tắc một vợ một chồng.

Điều 2, Luật hôn nhân gia đình năm 2014 đã quy định những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình, trong đó có ghi nhận nguyên tắc “Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ , một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng”.

Theo quy định tại Khoản 2, Điều 5, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có quy định Các hành vi bị cấm, trong đó có:

Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ.

Như vậy, đối với người có hành vi trên thì người đó đã vi phạm nguyên tắc một vợ một chồng và bị xử lý theo quy định của Pháp luật như sau:

Tại Khoản 1, Điều 48 Nghị định 110/2013/ NĐ – CP của Chính phủ quy định X ử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình , thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp hợp tác xã thì :

Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;

c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

d) Kết hôn giữa những người có họ trong phạm vi ba đời;

đ) Kết hôn giữa cha mẹ nuôi với con nuôi;

e) Kết hôn giữa người đã từng là cha mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng.

Ngoài ra, tại Điều 147, Bộ Luật hình sự sửa đổi, bổ sung 2009 cũng quy định :

Hành vi vi phạm chế độ một vợ một chồng

Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.

Phạm tội trong trường hợp đã có quyết định của Toà án tiêu huỷ việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

Như thế nào gọi là hành vi chung sống như vợ chồng?

Để giải thích rõ điều này, theo hướng dẫn tại Mục 3, Thông tư Liên tịch số 01/2001/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC ngày 25/9/2001 của Liên Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao thì :

3.2. Chỉ có thể truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng gây hậu quả nghiêm trọng.

Hậu quả nghiêm trọng có thể là làm cho gia đình của một hoặc cả hai bên tan vỡ dẫn đến ly hôn, vợ hoặc chồng, con vì thế mà tự sát, v.v…

b) Người vi phạm chế độ một vợ, một chồng đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

Như vậy, tùy vào hoàn cảnh mà người vi phạm có thể bị xử phạt hành chính hoặc nặng hơn là bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Để được tư vấn cụ thể hơn chi tiết từng vụ việc, khách hàng có thể liên hệ với luật sư qua điện thoại: 0982205385 hoặc trực tiếp đến văn phòng để được tư vấn

Xử Phạt Vi Phạm Hành Chính Về Hành Vi Vi Phạm Chế Độ Một Vợ Một Chồng ?

Hiện nay, việc các bên có hành vi quan hệ ngoài hôn nhân là điều có thể bắt gặp khá phổ biến và pháp luật Việt Nam căn cứ vào từng hành vi phạm cụ thể có quy định mức phạt hành chính, xử lý hình sự về hành vi này: Luật sư tư vấn và giải đáp cụ thể:

1. Mức xử phạt vi phạm hành chính về việc vi phạm chế độ hôn nhân ?

Thưa Luật Minh Khuê, xin hỏi: Ở xã hiện nay trên địa bàn xã có một trường hợp đã đăng ký kết hôn năm 2002, có 2 con gái đều đang học cấp hai. một thời gian sau đó người vợ bỏ đi không rõ hiện giờ ở đâu. người chồng đi lấy một khác (là người vợ thứ hai) yêu cầu xã tôi làm thủ tục đăng ký kết hôn.

Qua xác minh thì ông chồng này vẫn tồn tại hôn nhân với người vợ trước chưa ly hôn. với thẩm quyền của cấp xã, chủ tịch xã tôi sẽ xử lý như thế nào và các mẫu văn bản xử lý nào là chuẩn nhất ?

xin trân trọng cảm ơn luật sư

– Chế độ hôn nhân gia đình tại Việt Nam được quy định cụ thể trong Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 trong đó quy định pháp luật bảo hộ quan hệ hôn nhân hợp pháp (có đăng ký kết hôn hoặc hôn nhân thực tế), nghiêm cấm các hành vi chung sống như vợ chồng giữa người đã kết hôn (chưa ly hôn) mà chung sống với người khác.

– Hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng nếu chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Nghị định 110/2013/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã

“Điều 48. Hành vi vi phạm quy định về cấm kết hôn, vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng; vi phạm quy định về ly hôn

– Về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Chủ tịch UBND xã được quy định tại Điều 66 như sau:

“Điều 66. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp

Như vậy, nếu phát hiện hành vi vi phạm trên thì Chủ tịch UBND xã có quyền xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng nêu trên.

2. Xử lý hành chính đối với người chung sống như vợ chồn ?

Thưa luật sư, Tôi muốn hỏi: Chồng tôi sống với một phụ nữ khác một thời gian dài, tôi làm đơn đề nghị truy tố về hành vi vi phạm chế độ một vợ một chồng nhưng công an huyện trả lời phải có điều kiện “đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn tái phạm” mới xử lý được. Việc xử lý đối với người vi phạm chế độ một vợ một chồng được pháp luật quy định thế nào?

(Ngô Thị Thanh, Lạng Sơn).

Vi phạm chế độ một vợ một chồng là việc một người đã có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác, hoặc người chưa có vợ có chồng mà lại cố tình chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đã có vợ có chồng.

Việc chung sống này có thể công khai hoặc không công khai, nhưng phải thể hiện ở các dấu hiệu như: Thời gian chung sống với nhau tương đối dài; có tài sản chung; đã có con chung với nhau; được hàng xóm và xã hội xung quanh coi như vợ chồng…

Theo quy định tại Điều 48 Nghị định số 100/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, người vi phạm chế độ một vợ một chồng có thể bị xử lý vi phạm hành chính với hình thức phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng nếu họ có một trong các hành vi như: Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác nhưng chưa gây hậu quả nghiêm trọng hoặc chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ nhưng chưa gây hậu quả nghiêm trọng;

Ngoài việc bị phạt tiền, người vi phạm còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung buộc chấm dứt quan hệ hôn nhân trái pháp luật.

Như vậy, chỉ trong trường hợp hành vi vi phạm chế độ một vợ một chồng chưa gây hậu quả nghiêm trọng thì mới xử lý vi phạm hành chính; nếu hành vi đó gây hậu quả nghiêm trọng như làm cho gia đình của một hoặc cả hai bên tan vỡ dẫn đến ly hôn, vợ hoặc chồng, con vì thế mà tự sát, v.v… thì người vi phạm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự ngay về tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng quy định tại Điều 147 BLHS mà không đòi hỏi phải có điều kiện là “đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn tái phạm”.

3. Vi phạm chế độ một vợ một chồng khi chưa ly hôn ?

Thưa luật sư, xin hỏi một trường hợp chưa ly hôn với vợ (vợ bỏ đi đã mấy năm), chưa ly hôn và cũng chưa tuyên bố người vợ kia mất tích. Mà anh này đã cưới và chung sống với người phụ nữ khác, không đăng ký kết hôn và không khai sinh được chop con, nếu xử lý anh này vi phạm luật hôn nhân và gia đình phải dựa vào văn bản và thủ tục pháp lý nào để giải quyết, cấp xã nơi anh này cư trú có ra quyết định xử lý vi phạm hành chính được không ạ ?

– Căn cứ theo điểm c khoản 2 điều 5 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014:

“Điều 5. Bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đìnhc) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;”

Theo thông tin anh cung cấp, người đàn ông kia chưa thực hiện thủ tục ly hôn với vợ mình mà đã chung sống như vợ chồng và có con với người phụ nữ khác là đã vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng, vi phạm điều cấm của pháp luật.

– Căn cứ theo khoản 1 điều 48 Nghị định 110/2013/NĐ-CP quy định:

“Điều 48. Hành vi vi phạm quy định về cấm kết hôn, vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng; vi phạm quy định về ly hôn 1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau: a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ; b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác; c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ; d) Kết hôn giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; đ) Kết hôn giữa cha mẹ nuôi với con nuôi; e) Kết hôn giữa người đã từng là cha mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng.”

Về hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng sẽ bị xử phạt hành chính từ 1.000.000đ đến 3.000.000đ

– Chủ tịch UBND xã hoàn toàn có thẩm quyền xử phạt hành vi vi phạm này theo điểm a khoản 1 điều 72 Nghị định 110/2013/NĐ-CP.

4. Hình phạt đối với tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng ra sao ?

Chào luật sư công ty luật Minh Khuê, tôi có câu hỏi mong được tư vấn. Hình phạt đối với tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng quy định ra sao ạ ?

Chân thành cảm ơn luật sư.

Tại Nghị định 110/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã:

“Điều 48. Hành vi vi phạm quy định về cấm kết hôn, vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng; vi phạm quy định về ly hôn

Ngoài ra, nếu hành vi này đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà vẫn tái phạm hoặc hành vi này dẫn đến một hậu quả nghiêm trọng thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo điều 182 Bộ luật hình sự số Bộ luật hình sự năm 2024 , sửa đổi, bổ sung năm 2024 ) . Hậu quả nghiêm trọng do hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng gây ra là những thiệt hại như: người vợ hoặc người chồng hợp pháp phải bỏ việc, phải tốn kém tiền của để lo giải quyết hàn gắn quan hệ vợ chồng hoặc do quá uất ức với hành vi vi phạm của người chồng hoặc người vợ mà sinh ra bệnh tật, tự sát, con cái bỏ học đi lang thang; hoặc do hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng mà dẫn đến hành vi phạm tội khác như giết người, cố ý gây thương tích, gây rối trật tự công cộng, hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản.

Thực tiễn xét xử cho thấy hậu quả của hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng thường là những thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm có thể là của chính người phạm tội nhưng cũng không ít trường hợp gây ra cho người thân của người phạm tội như: vợ hoặc chồng hợp pháp của người phạm tội, những cuộc đánh ghen thường xảy ra khi có hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng. Hậu quả nghiêm trọng có thể là dấu hiệu cấu thành tội phạm độc lập, nhưng có thể chưa cấu thành tội phạm này.

Điều 182. Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng

1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

a) Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;

b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;

b) Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn pháp luật hình sự về vi phạm chế độ hôn nhân trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Bộ phận Tư vấn Pháp luật Hôn nhân – Công ty luật MInh Khuê

5. Mức phí tư vấn Công ty Luật Minh Khuê là bao nhiêu ạ? ​

Biểu phí dịch vụ luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại: Để tiết kiệm thời gian, công sức, chi phí đi lại cho khách hàng và của luật sư mức phí tư vấn luật sẽ được tính trên cước gọi điện thoại của Quý khách hàng.Mức phí tư vấn đối với mạng Viettel và các mạng cố định khác là : 4.500 VNĐ/ Phút, Mức phí tư vấn ối với mạng Vinaphone, mobiphone là: 7.200 VNĐ/Phút. Để đảm bảo cuộc gọi không bị gián đoạn quý khách có thể sử dụng điện thoại cố định hoặc kiểm tra tài khoản trước khi trao đổi trực tiếp với luật sư. Mức phí trên do Tập đoàn FPT thu và chi trả lại cho đơn vị tư vấn luật 29% tổng doanh thu từ các cuộc gọi.

Mức phí tư vấn pháp luật trực tiếp tại văn phòng:

Đối với những vấn để pháp lý mang tính chất phức tạp không thể giải đáp qua điện thoại, Quý khách hàng có thể đặt lịch để trao đổi trực tiếp với luật sư tại địa chỉ trụ sở của văn phòng ( Phòng 2007, Tầng 20, Tòa nhà C2, Vincom Trần Duy Hưng, Đường Trần Duy Hưng, Trung Hòa, Cầu Giấy, Tp. Hà Nội. ) với mức phí được xác định cụ thể như sau:

+ Đối với khách hàng trong nước: Mức phí luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp tại công ty là: 300.000 VNĐ/01 giờ. Mức phí luật sư tư vấn ngoài giờ hành chính và vào thứ 7 và Chủ nhật là 500.000 VNĐ/01 giờ tư vấn.

+ Đối với khách hàng nước ngoài: Mức phí luật sưtư vấn pháp luật trực tiếp tại công ty là 700.000 VNĐ/01 giờ. Luật sư sẽ tư vấn và giải đáp mọi vấn đề Quý khách hàng quan tâm trực tiếp bằng ngôn ngữ tiếng Anh (các ngôn ngữ khác – Quý khách vui lòng thông qua phiên dịch của khách hàng). Mức giá trên áp dụng trong giờ hành chính (sáng từ 7h30 đến 11h30/ Chiều tư 13h30 đến 17h 30 phút). Chúng tôi hỗ trợ khách hàng ngoài giờ hành chính từ 19h-21h tất cả các ngày trong tuần kể cả thứ 7 và Chủ nhật.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Cập nhật thông tin chi tiết về Vi Phạm Chế Độ Hôn Nhân Một Vợ Một Chồng Là Như Thế Nào ? trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!